Tiểu bang Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiểu bang Hoa Kỳ
Xếp loại Bang
Quốc gia Hoa Kỳ
Tổng số 50
Chính quyền Chính quyền tiểu bang

Một tiểu bang Hoa Kỳ (tiếng Anh: U.S. state) là một trong số 50 bang "tạo thành" Hoa Kỳ. Mỗi tiểu bang chia sẻ chủ quyền của mình với chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Theo luật Hoa Kỳ, các tiểu bang được xem là các thực thể có chủ quyền, nghĩa là quyền lực của các tiểu bang trực tiếp đến từ người dân của các tiểu bang đó chớ không phải là đến từ chính phủ liên bang. Chính phủ liên bang Hoa Kỳ lúc đầu được thành lập khi các tiểu quốc (bang) có chủ quyền gởi một số đại diện cho chủ quyền của mình đến tham gia vào chính phủ trung ương. Tuy nhiên chủ quyền mà họ gởi đến trung ương không phải là toàn bộ vì vậy chính phủ liên bang được hưởng chủ quyền có giới hạn và các tiểu bang vẫn duy trì được bất cứ phần chủ quyền nào mà họ chưa từng nhượng lại cho chính phủ liên bang qua đại diện của họ. Vì sự chia sẻ chủ quyền như thế nên một người Mỹ vừa là công dân của toàn liên bang vừa là công dân của tiểu bang mình.[1] Bốn tiểu bang sử dụng danh xưng chính thức là thịnh vượng chung hơn là tiểu bang. Tình trạng công dân của tiểu bang thì linh động và việc đi lại giữa các tiểu bang là tự do, không cần có sự chấp thuận của chính phủ liên bang hay tiểu bang (ngoại trừ những trường hợp tội phạm đang bị quản thúc).

Hiến pháp Hoa Kỳ phân chia quyền lực giữa hai cấp bậc chính quyền. Bằng việc chấp thuận thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ, người dân của các tiểu bang đã thuyên chuyển một số quyền lực có giới hạn của chủ quyền tiểu bang sang cho chính phủ liên bang. Theo tu chính án 10, tất cả quyền lực chưa được trao cho chính phủ liên bang Hoa Kỳ, hoặc bị cấm chuyển giao, đều được các tiểu bang hoặc nhân dân tiểu bang đó giữ lại. Trong lịch sử, các nhiệm vụ như an ninh công cộng (có nghĩa là kiềm chế tội phạm), giáo dục công cộng, ý tế công cộng, giao thông và hạ tầng cơ sở thông thường được xem là trách nhiệm chính của tiểu bang mặc dù tất cả những nhiệm vụ này hiện nay cũng do chính phủ liên bang tài trợ và áp đặt những qui định khá nổi bật (phần lớn dựa vào điều khoản nói về thương mại, điều khoản về thuế và chi tiêu, và điều khoản về nhu yếu và hợp lý được nêu trong Hiến pháp Hoa Kỳ).

Theo thời gian, Hiến pháp Hoa Kỳ được tu chính nhiều lần. Kết quả là sự diễn giải và việc áp dụng các điều khoản của Hiến pháp cũng thay đổi theo. Chiều hướng tổng thể hiện nay là đang đi dần về hướng tập quyền và hợp nhất với việc chính phủ liên bang đóng một vai trò rộng lớn hơn nhiều so với xưa kia. Có một cuộc tranh luận đang tiếp diễn về quyền của các tiểu bang liên quan đến tầm mức và bản chất quyền lực và chủ quyền của các tiểu bang so với chính phủ liên bang cũng như quyền của từng cá nhân.

Quốc hội Hoa Kỳ có thể thu nhận thêm các tiểu bang mới trên căn bản bình quyền với các tiểu bang hiện hữu; điều này đã xảy ra gần đây nhất là vào năm 1959 khi HawaiiAlaska được thu nhận vào liên bang. Trong tương lai, Quốc hội Hoa Kỳ có thể sẽ xem xét thu nhận Puerto Rico thành tiểu bang thứ 51 vì theo cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào ngày 6 tháng 11 năm 2012, cử tri Puerto Rico đã bác bỏ xít xao tình trạng chính trị hiện tại (câu hỏi thứ nhất) và chấp thuận áp đảo việc trở thành tiểu bang của Hoa Kỳ như là một chọn lựa ưng ý (câu hỏi thứ hai).[2] Hiến pháp Hoa Kỳ không có đề cập đến câu hỏi rằng liệu các tiểu bang có quyền đơn phương rời bỏ, hay ly khai khỏi liên bang hay không nhưng Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã có phán quyết[3][4] rằng ly khai là vi hiến, đây là một lập trường bị tác động một phần bởi kết quả của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.

Quyền lực của liên bang[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thập niên 1930, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã diễn giải Mệnh đề Thương mại nằm trong Hiến pháp Hoa Kỳ theo cách mở rộng làm cho tầm mức quyền lực liên bang mở rộng đáng kể. Thí dụ, Quốc hội Hoa Kỳ có thể đưa ra những qui định kiểm soát giao thông đường sắt nào chạy qua ranh giới giữa các tiểu bang. Tuy nhiên quốc hội cũng có thể đưa ra những qui định kiểm soát giao thông đường sắt chỉ nằm hoàn toàn bên trong một tiểu bang, dựa trên ý tưởng cho rằng giao thông nằm hoàn toàn trong một tiểu bang vẫn có thể gây ra ảnh hướng đối với nền thương mại liên-tiểu bang.

Một nguồn quyền lực khác của Quốc hội là quyền chi tiêu - đó là khả năng của quốc hội áp đặt các loại thuế đồng bộ trên khắp Hoa Kỳ và rồi phân phát nguồn tiền thuế thu được trở về các tiểu bang (theo những điều kiện mà Quốc hội ấn định). Một thí dụ cổ điển của vấn đề này là hệ thống quốc lộ do liên bang tài trợ trong đó bao gồm Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang. Hệ thống này được chính phủ liên bang tài trợ và quản lý nhưng nó cũng phục vụ lợi ích của các tiểu bang. Bằng cách đe dọa giữ lấy tiền quỹ xa lộ liên bang, như được phán quyết trong vụ kiện South Dakota đối đầu Dole, Quốc hội Hoa Kỳ đã có thể gây áp lực với các nghị viện tiểu bang thông qua vô số các luật lệ khác nhau. Mặc dù một số tiểu bang chống đối rằng điều này vi phạm quyền của tiểu bang nhưng Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vẫn giữ nguyên phán quyết theo hướng thuận lợi cho Quốc hội Hoa Kỳ vì cho rằng Quốc hội đã sử dụng hợp lý Mệnh đề Chi tiêu nằm trong Hiến pháp Hoa Kỳ.

Chính quyền tiểu bang[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi tiểu bang được quyền tự do tổ chức chính quyền cá biệt của mình theo bất cứ hình thức nào mà mình thích miễn sao chính quyền tiểu bang phải tuân thủ một điều kiện duy nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ rằng họ có "một chính thể cộng hòa" (có nghĩa rằng mỗi chính phủ tiểu bang phải là một chính phủ cộng hòa; nó không có ý nói đến đảng Cộng hòa, là đảng chưa được thành lập cho mãi đến năm 1854—trên 60 năm sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua). Trên thực tế, mỗi tiểu bang đều áp dụng một hệ thống chính quyền gồm ba ngành (lập pháp, hành pháptư pháp) giống như chính phủ liên bang - mặc dù điều này không phải là bắt buộc.

Cho dù trên thực tế mỗi tiểu bang đều chọn theo kiểu mẫu chính quyền của chính phủ liên bang nhưng tại một số tiểu bang có những khác biệt đáng kể.

Hành pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi chỉ có một tổng thống liên bang, người này sau đó chọn lựa các thành viên nội các của mình để những thành viên này chịu trách nhiệm đối với mình thì đa số các tiểu bang có một "hệ thống hành pháp đa diện" trong đó nhiều thành viên khác nhau của ngành hành pháp được người dân trực tiếp bầu lên. Như thế, những người này phục vụ trong vai trò là thành viên của ngành hành pháp nhưng không phải chịu sự kiềm chế hay chi phối của thống đốc và thống đốc cũng không thể bãi chức họ.

Lập pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành lập pháp của 49 trong số 50 tiểu bang gồm có hai viện: một hạ viện (tiếng Anh gọi là House of Representatives, State Assembly hay House of Delegates) và một thượng viện nhỏ hơn, luôn được gọi trong tiếng Anh là Senate. Ngoại lệ là ngành lập pháp độc viện của tiểu bang Nebraska có một viện duy nhất.

Khác biệt chính giữa các tiểu bang là rằng nhiều tiểu bang ít dân số có các nghị viện bán-thời gian trong khi các tiểu bang có dân số đông thì có chiều hướng là những nghị viện toàn thời gian. Tiểu bang Texas, tiểu bang đông dân thứ hai, là một ngoại lệ đáng nói: trừ khi có các phiên họp đặc biệt, ngành lập pháp Texas bị pháp luật hạn chế thời gian hoạt động là 140 ngày cho mỗi hai năm.

Trong vụ kiện Baker đối đầu Carr (1962) và Reynolds đối đầu Sims (1964), Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ phán quyết rằng tất cả các tiểu bang phải tuân thủ việc bầu lên ngành lập pháp của mình trong một thể thức sao cho mỗi công dân tiểu bang đều có một cấp độ đại diện tương đồng. Điều này được hiểu theo ý nghĩa phổ thông là "một người một phiếu bầu". Trong thực tế, đa số tiểu bang chọn bầu các nhà lập pháp theo từng khu vực và chỉ chọn một người duy nhất cho từng khu vực bầu cử. Các khu vực bầu cử như thế có dân số xấp xỉ bằng nhau. Một số tiểu bang khác như Maryland và Vermont, phân chia tiểu bang của mình thành những khu vực bầu cử khác nhau: có khu chỉ chọn duy nhất một thành viên lập pháp, có khu chọn nhiều thành viên lập pháp tùy thuộc vào dân số của từng khu. Thí dụ khu vực bầu cử chọn hai đại biểu phải có dân số xấp xỉ gấp đôi khu bầu cử chọn một đại biểu và theo tỉ lệ như vậy cho các khu bầu cử chọn nhiều đại biểu hơn.

Tư pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu bang cũng có thể tổ chức hệ thống tư pháp khác biệt so với hệ thống tư pháp liên bang miễn sao các tòa án này bảo vệ quyền hiến định của công dân tiểu bang theo đúng trình tự pháp lý công chính. Đa số tiểu bang có một tòa án cấp bậc xét xử được gọi là District Court hay Superior court, một tòa án thượng thẩm cấp một thường được gọi là Court of Appeal hay Appeals, và một tối cao pháp viện. Tuy nhiên, tiểu bang Oklahoma và Texas có các tòa án cấp bật cao nhất riêng biệt để xem xét chống án cho các các vụ án tội phạm. Tiểu bang New York nổi tiếng vì sử dụng thuật từ khác thường như việc tòa án xét xử được gọi là Tối cao Pháp viện. Các vụ chống án được đưa đến Tối cao Pháp viện thuộc Phân bộ Thượng thẩm, và từ đó được đưa lên Tòa Thượng thẩm. Đa số tiểu bang sử dụng luật phổ thông của Anh làm căn bản cho hệ thống pháp lý của mình, trừ tiểu bang Louisiana là đặc biệt vì áp dụng phần lớn hệ thống pháp lý của mình dựa trên căn bản luật dân sự của Pháp.

Chỉ có một ít tiểu bang chọn lựa việc cho phép các quan tòa tại các toà án tiểu bang phục vụ trọn đời. Đa số các quan tòa tiểu bang trong đó có các thẩm phán tại các tòa án cấp cao nhất đều được bầu lên hay được bổ nhiệm với những nhiệm kỳ phục vụ có giới hạn số năm, thí dụ là 5 năm. Họ thường được bầu lại hay bổ nhiệm lại nếu như họ được xét thấy là làm việc đáng được ngồi lại tại chức.

Ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, mục chi tiêu lớn nhất từ ngân sách của đa số các tiểu bang là hệ thống giáo dục công cộng.[5]

Năm 2010, 41 tiểu bang trả lương cho nhân viên chính quyền nhiều hơn là trong lãnh vực tư nhân. Tiền lương trung bình nhiều hơn kể từ năm 2003 phần lớn là do giá cả chăm sóc sức khỏe tăng cao đối với các công nhân làm việc cho tư nhân và lợi ích hồi hưu gia tăng cho nhân viên chính quyền.[6]

Mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Điền khoản 4 Hiến pháp Hoa Kỳ là điều khoản phác thảo ra mối quan hệ giữa các tiểu bang thì Quốc hội Hoa Kỳ có quyền cho phép các tiểu bang mới được gia nhập vào liên bang. Các tiểu bang được yêu cầu phải đặt niềm tin và tín nhiệm hoàn toàn đối với các đạo luật của ngành lập pháp và tòa án của nhau, thường thường bao gồm việc công nhận các bản khế ước pháp lý, hôn thú, các phán quyết đối với tội phạm, và đặt biệt là trước năm 1865 còn có tình trạng của người nô lệ. Nghiêm cấm các tiểu bang kỳ thị công dân của các tiểu bang khác về quyền cơ bản của họ chiếu theo Mệnh đề Miễn trừ và Đặc quyền (Privileges and Immunities Clause) trong Hiến pháp. Các tiểu bang được chính phủ liên bang bảo đảm về dân phòng và quân sự và ngược lại chính phủ liên bang cũng được yêu cầu là phải chắc chắn rằng mỗi tiểu bang vẫn luôn là một nền cộng hòa.

Bốn tiểu bang sử dụng danh xưng thịnh vượng chung hơn là tiểu bang.[7] Tuy nhiên, đây là chỉ là hình thức khác biệt trên giấy tờ vì Hiến pháp Hoa Kỳ gọi chung tất cả là "các tiểu bang", như trong Điều khoản 1, Đoạn 2, Mệnh đề 1 của Hiến pháp nói về Hạ viện Hoa Kỳ có ghi rằng những dân biểu phải được bầu lên bởi người dân của "các tiểu bang". Hơn nữa, Điều khoản 1, Đoạn 3, Mệnh đề 1 nói về Thượng viện Hoa Kỳ có ghi rằng mỗi "tiểu bang" được hai thượng nghị sĩ. Như vậy, tất cả các thịnh vượng chung như đã nói ở trên đều được tính như là các tiểu bang.

Gia nhập liên bang[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiểu bang Hoa Kỳ được sắp xếp theo ngày trở thành tiểu bang

   1776–1790

   1791–1799

   1800–1819

   1820–1839

   1840–1859

   1860–1879

   1880–1899

   1900–1950

   1950–

Thứ tự mà 13 thuộc địa ban đầu thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ, rồi sau đó là thứ tự mà các tiểu bang khác gia nhập liên bang.

Kể từ khi thành lập Hợp chúng quốc châu Mỹ (Hoa Kỳ), con số các tiểu bang mở rộng từ 13 lên đến 50. Hiến pháp Hoa Kỳ chỉ nói khá ngắn gọn về tiến trình mà các tiểu bang mới có thể được thêm vào liên bang như sau "các tiểu bang mới có thể được Quốc hội Hoa Kỳ cho phép gia nhập" và cấm một tiểu bang mới được thành lập từ lãnh thổ của một tiểu bang hiện hữu, hay nhập hai hoặc nhiều tiểu bang lại thành một mà không có sự ưng thuận của cả Quốc hội Hoa Kỳ và tất cả các nghị viện tiểu bang có liên quan.

Trong thực tế, đa số các tiểu bang được phép gia nhập liên bang, sau 13 tiểu bang ban đầu, đều được thành lập từ các lãnh thổ hợp nhất có tổ chức. Các lãnh thổ này là những vùng đất nằm dưới chủ quyền của chính phủ liên bang nhưng không phải là một phần đất nào của bất cứ tiểu bang nào. Phần lớn là những vùng đất mới mà Hoa Kỳ chiếm được hay thu được khi mở rộng lãnh thổ trong lịch sử. Quốc hội Hoa Kỳ sử dụng Mệnh đề Lãnh thổ nằm trong Điều khoản IV, Đoạn 3, Hiến pháp Hoa Kỳ để tổ chức chính quyền tự trị cho các lãnh thổ này nhưng chúng vẫn nằm dưới thẩm quyền toàn phần của Quốc hội.[8] Các trường hợp ngoại lệ còn gồm có ba tiểu bang đã được tách ra từ phần đất của các tiểu bang gốc với sự cho phép của nghị viện của các tiểu bang đó: Vermont, tiểu bang thứ 14; Kentucky, tiểu bang thứ 15; Tây Virginia, tiểu bang thứ 36; và rồi Texas, một Cộng hòa Texas độc lập trong một thập niên, tiểu bang thứ 34; và California, được gia nhập liên bang vào năm 1850 trực tiếp từ phần đất mới thu được từ tay Mexico.

Nói chung, chính quyền được tổ chức của một lãnh thổ luôn tìm cách tạo cho dân chúng của mình mong muốn được trở thành tiểu bang. Lúc đó, Quốc hội chỉ đạo cho chính quyền lãnh thổ tổ chức một hội nghị hiến pháp để viết ra hiến pháp tiểu bang. Sau khi hiến pháp tiểu bang được chấp thuận, Quốc hội Hoa Kỳ luôn chấp thuận cho phép lãnh thổ đó trở thành tiểu bang. Những phác thảo tổng thể trong tiến trình này được thiết lập bởi Sắc lệnh Tây Bắc (Northwest Ordinance) năm 1787 mà đã có từ trước khi Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua.

Tuy nhiên, Quốc hội có quyền lực tối hậu đối với việc cho phép các tiểu bang mới gia nhập liên bang và không bị ràng buộc phải theo đúng tiến trình. Một số ít tiểu bang của Hoa Kỳ (không kể 13 tiểu bang gốc) chưa bao giờ được tổ chức thành những lãnh thổ của chính phủ liên bang nhưng vẫn được chấp thuận gia nhập liên bang:

  • Vermont, trên thực tế là một nước cộng hòa độc lập tuy chưa được công nhận cho đến khi gia nhập liên bang năm 1791
  • Kentucky, một phần đất của Virginia cho đến khi gia nhập liên bang năm 1792
  • Maine, một phần đất của Massachusetts cho đến khi gia nhập liên bang năm 1820 theo sau Thỏa ước Missouri
  • Texas, một nước cộng hòa độc lập được công nhận cho đến khi gian nhập liên bang năm 1845
  • California, được lập thành tiểu bang (như một phần của Thỏa ước 1850) từ lãnh thổ chưa được tổ chức của Nhượng địa Mexico năm 1850 mà không phải trải qua thời kỳ làm lãnh thổ được tổ chức
  • Tây Virginia, được thành lập từ những vùng đất của Virginia muốn tái gia nhập vào liên bang năm 1863 sau khi Virginia ly khai liên bang năm 1861 để gia nhập Liên minh miền Nam Hoa Kỳ

Quốc hội Hoa Kỳ cũng không bị bắt buộc phải thu nhận các tiểu bang mới thậm chí tại những vùng mà dân chúng tỏ ra mong muốn trở thành tiểu bang của Hoa Kỳ. Thí dụ, Cộng hòa Texas đã yêu cầu Hoa Kỳ sát nhập mình vào liên bang năm 1837, nhưng vì Hoa Kỳ sợ phải có xung đột với Mexico nên Hoa Kỳ phải trì hoản thu nhận Texas đến 9 năm.[9] Lãnh thổ Utah bị từ chối xin gia nhập liên bang trong nhiều thập niên vì không hài lòng với sự chi phối của Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô tại lãnh thổ. Giáo hội này muốn đặt tên cho vùng này là "Deseret" (Kinh thánh Đạo Mormon) vì liên hệ của giáo hội với Đạo Mormon, và đặc biệt nhất là sự thực hành chế độ đa thê ngày đó của Đạo Mormon. Một khi được thành lập, ranh giới của các tiểu bang phần lớn là không thay đổi. Ngoại trừ các trường hợp như việc Maryland và Virginia nhượng đất của mình cho chính phủ liên bang thành lập Đặc khu Columbia (phần đất của Virginia sau đó được trả lại) và trường hợp lập ra các tiểu bang từ các tiểu bang đã có trong đó phải kể là việc thành lập tiểu bang Kentucky và Tây Virginia từ Virginia, Maine từ Massachusetts, và Tennessee từ Bắc Carolina.

Các tiểu bang mới khả dĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Puerto Rico[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay, có một vài lãnh thổ của Hoa Kỳ còn sót lại mà có thể có tiềm năng trở thành các tiểu bang mới. Ứng viên khả dĩ nhất có thể là Puerto Rico. Puerto Rico đã nằm dưới chủ quyền của chính phủ liên bang Hoa Kỳ hơn một thế kỷ và người Puerto Rico là công dân Hoa Kỳ kể từ năm 1917; nhưng tình trạng chính trị tối hậu của hòn đảo này vẫn chưa được định đoạt tính đến năm 2011. Vì là một lãnh thổ, không phải là tiểu bang của Hoa Kỳ nên cư dân của nó không có đại biểu có quyền biểu quyết trong Quốc hội Hoa Kỳ. Quốc hội Hoa Kỳ đã chỉ thị cho chính quyền địa phương tổ chức đại hội hiến pháp để viết ra Hiến pháp Puerto Rico năm 1951. Hiến pháp này được cử tri đoàn Puerto Rico, Quốc hội và Tổng thống Hoa Kỳ chấp thuận vào năm 1952. Puerto Rico chính thức đặt tên cho mình là "Thịnh vượng chung Puerto Rico". Hiện nay, Puerto Rico chỉ có một đại biểu không quyền biểu quyết trong Quốc hội Hoa Kỳ, được gọi là Ủy viên Cư dân Puerto Rico.[10] Tổng thống George H. W. Bush ban hành một bản ghi nhớ ngày 30 tháng 11 năm 1992 đến các bộ trưởng và những người đứng đầu các cơ quan nhằm thiết lập mối quan hệ hành chính hiện thời giữa chính phủ liên bang và Thịnh vượng chung Puerto Rico. Bản ghi nhớ này chỉ thị cho tất cả các bộ hành chính, cơ quan và viên chức liên bang đối xử với Puerto Rico về mặt hành pháp giống như là một tiểu bang.[11]

Chính quyền thịnh vượng chung đã tổ chức một số cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề tình trạng chính trị trong một vài thập niên qua mặc dù Quốc hội Hoa Kỳ không công nhận những cuộc trưng cầu dân ý này là có giá trị; tất cả các cuộc trưng cầu cho thấy kết quả chiến thắng khích khao ủng hộ tình trạng chính trị như hiện nay hơn là trở thành tiểu bang trong khi đó vấn đề độc lập chỉ thu được một con số ít ỏi phiếu bầu. Ngày 23 tháng 12 năm 2000, Tổng thống Bill Clinton ký Lệnh hành pháp 13183, thiết lập Lực lượng Đặc nhiệm Tổng thống đặc trách về Tình trạng chính trị của Puerto Rico và những luật lệ thành viên cho nó. Đoạn 4 trong Lệnh hành pháp 13183 (như đã được tu chính bởi Lệnh hành pháp 13319) chỉ thị cho lực lượng đặc nhiệm "báo cáo các công tác của lực lượng cho tổng thống... về tiến triển đã được thực hiện trong việc quyết định tình trạng tối hậu của Puerto Rico".[12]

Tổng thống George W. Bush ký thêm một tu chính án của Lệnh hành pháp 13183 ngày 3 tháng 12 năm 3, 2003, thành lập các đồng-chủ tọa hiện tại và chỉ thị cho lực lượng đặc nhiệm phát hành các bản báo cáo khi cần thiết, nhưng không dưới một lần báo cáo cho mỗi 2 năm. Tháng 12 năm 2005, lực lượng đặc nhiệm tổng thống đề nghị một loại trưng cầu dân ý mới về vấn đề này; nếu Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết theo như sự đề nghị của lực lượng đặc nhiệm thì nó sẽ trải đường cho các cuộc bầu cử được Quốc hội Hoa Kỳ hậu thuẩn lần đầu tiên về tình trạng chính trị của hòn đảo, và (có tiềm năng) hòn đảo trở thành tiểu bang vào năm 2011. Bản báo cáo tình trạng tháng 12 năm 2007 của lực lượng đặc nhiệm tái lập lại và xác nhận những lời đề nghị của lực lượng vào năm 2005.[12][13][14]

Ngày 29 tháng 4 năm 2010, Hạ viện Hoa Kỳ biểu quyết với tỉ lệ 223–169 chấp thuận Đạo luật Dân chủ Puerto Rico 2010 nhằm tiến hành việc cho phép Puerto Rico tự quyết định xếp đặt một cuộc trưng cầu dân ý mới mà trải đường cho một cuộc biểu quyết do Quốc hội Hoa Kỳ hậu thuẩn lần đầu tiên về tình trạng chính trị của hòn đảo, và (có tiềm năng) trở thành tiểu bang của Hoa Kỳ vào năm 2011.[15] Tuy nhiên, đạo luật này không được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận và sau đó bị khai tử khi Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ 111 khai mạc.

Washington D.C.[sửa | sửa mã nguồn]

Ý định của những vị cha già dân tộc Mỹ là thủ đô của Hoa Kỳ phải ở một nơi trung lập, không thiên vị bất cứ tiểu bang nào; kết quả là, Đặc khu Columbia được thành lập năm 1800 để làm nơi làm việc chính thức của chính phủ liên bang. Cư dân của Đặc khu không có người đại diện toàn phần cho họ trong Quốc hội Hoa Kỳ cũng như họ không có một chính quyền được bầu lên có chủ quyền (cư dân của Đặc khu được chia 3 đại cử tri tổng thống theo tu chính án hiến pháp 23, và có một đại biểu không quyền biểu quyết trong Quốc hội Hoa Kỳ). Một số cư dân trong Đặc khu ủng hộ việc đặc khu trở thành tiểu bang với một số hình thức như - toàn thể đặc khu trở thành tiểu bang hay chỉ 1 phần nào đó của đặc khu và phần còn lại vẫn nằm dưới thẩm quyền liên bang. Mặc dù tình trạng tiểu bang tại Đặc khu vẫn luôn là câu hỏi chính trị sống động nhưng viễn cảnh vận động cho chiều hướng đó trong tương lai gần thì dường như mù mịt. Thay vào đó, người ta nhấn mạnh đến việc tiếp tục duy trì chính quyền tự quản trong khi đó mong muốn Đặc khu được ban cho một phiếu bầu tại Quốc hội.

Theo Điều khoản IV, Đoạn 3 Hiến pháp Hoa Kỳ, "các tiểu bang mới có thể được thu nhận vào liên bang này bởi Quốc hội Hoa Kỳ; nhưng không có tiểu bang mới nào được thành lập hay được dựng lên trong khu vực thẩm quyền của bất cứ tiểu bang nào khác; cũng không có bất cứ tiểu bang nào được thành lập bằng cách nhập hai hoặc nhiều hơn các tiểu bang lại với nhau, hay những phần đất của các tiểu bang mà không có sự ưng thuận của các nghị viện của các tiểu bang có liên quan cũng như của Quốc hội Hoa Kỳ."[16] Đây là trường hợp khi Maine được tách ra khỏi Massachusetts; và khi Tây Virginia được tách ra từ Virginia trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Khi Texas được phép gia nhập vào liên bang năm 1845, nó lớn hơn bất cứ tiểu bang nào khác rất nhiều và đặc biệt là nó được quyền phân chia chính nó lên thành 5 tiểu bang khác nhau.[17]

Những thực thể không được công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiểu bang Franklin tồn tại khoảng bốn năm, không bao lâu sau khi kết thúc cuộc Cách mạng Mỹ nhưng nó chưa bao giờ được liên bang công nhận. Sau cùng liên bang công nhận tuyên bố chủ quyền của Bắc Carolina trên khu vực này. Đa số các tiểu bang mong muốn công nhận tiểu bang Franklin, nhưng con số tiểu bang ủng hộ thiếu 2/3 đa số cần thiết bắt buộc để thu nhận một lãnh thổ thành tiểu bang theo Các điều khoản Hợp bang. Sau này lãnh thổ bao gồm Franklin trở thành một phần của tiểu bang Tennessee.
  • Tiểu bang Jefferson
  • Tiểu bang Lincoln
    • Lincoln là một tiểu bang khác được đề nghị thành lập nhiều lần. Đại thể nó bao gồm phần phía đông của tiểu bang Washington và vùng cán chảo hay phần phía bắc của Idaho. Ban đầu nó được chính Idaho đề nghị năm 1864 bao gồm phần vùng cán chảo của Idaho, và lần nữa vào năm 1901 bao gồm Đông Washington. Các lần đề nghị được đưa ra vào năm 1996, 1999, và 2005.
    • Lincoln cũng là cái tên của một tiểu bang được đề nghị nhưng thất bại sau Nội chiến Hoa Kỳ năm 1869. Phần tây nam của Texas được đề nghị với Quốc hội Hoa Kỳ để thành lập một tiểu bang mới trong thời kỳ tái thiết chính phủ liên bang sau Nội chiến Hoa Kỳ
  • Tiểu bang Muskogee (tại Florida năm 1800), một tiểu bang không được thừa nhận, có dân số người bản thổ Mỹ rất đông
  • Tiểu bang Superior
    • Một tiểu bang được đề nghị thành lập từ bán đảo trên (Upper Peninsular) của tiểu bang Michigan (Michigan gồm có hai bán đảo không dính liền nhau: phía bắc là "bán đảo trên" và phía nam là "bán đảo dưới"). Một vài nhà lập pháp đáng chú ý trong đó có nhà chính trị địa phương tên là Dominic Jacobetti chính thức tìm cách đưa ra dự luật nhằm thành lập một tiểu bang như thế vào thập niên 1970 nhưng không thành công. Nếu nó là một tiểu bang, nó sẽ có dân số nhỏ nhất Hoa Kỳ vào lúc đó và cho đến cả ngay bây giờ. Với dân số 320.000 người, nó chỉ bằng 60% dân số của tiểu bang Wyoming, và ít hơn 50% dân số của tiểu bang Alaska. Một tiểu bang như vậy sẽ có diện tích đất đứng thứ 40 trên 50 tiểu bang của Hoa Kỳ.
  • Tiểu bang Deseret
    • Tiểu bang Deseret là một tiểu bang lâm thời của Hoa Kỳ, được những người định cư theo đạo Mormon tại Thành phố Salt Lake đề nghị thành lập vào năm 1849. Tiểu bang lâm thời này tồn tại trong hai năm và chưa từng được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận. Các tên của nó được lấy từ tên "Deseret" (có nghĩa là "ông mật"]] trong thánh kinh của đạo Mormon.

Ly khai[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp Hoa Kỳ vắng tiếng đối với vấn đề một tiểu bang ly khai khỏi liên bang. Tuy nhiên, tài liệu tiền thân của nó là Các điều khoản Hợp bang có nói rằng Hợp chúng quốc "sẽ là vĩnh viễn". Câu hỏi là liệu các cá thể tiểu bang có quyền đơn phương ly khai hay không. Câu hỏi này vẫn từng là một câu hỏi gây chia rẻ và khó khăn cho đến lúc Nội chiến Hoa Kỳ. Năm 1860 và 1861, mười một tiểu bang miền Nam ly khai nhưng chúng bị đưa trở lại liên bang trong suốt thời kỳ được gọi là "Thời đại Tái thiết" sau khi chúng bại trận trong Nội chiến Hoa Kỳ. Chính phủ liên bang chưa bao giờ công nhận sự ly khai của bất cứ tiểu bang nổi loạn nào. Sau Nội chiến Hoa Kỳ, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, trong vụ xử Texas đối đầu White, phán quyết rằng các tiểu bang không có quyền ly khai và rằng bất cứ hành động ly khai nào cũng đều coi như không có giá trị pháp lý. Bằng cách trích dẫn phần mở đầu của Hiến pháp Hoa Kỳ là phần nói rằng Hiến pháp được viết ra với ý định "thành lập một liên bang hoàn hảo hơn" và đại diện tiếng nói của nhân dân Hoa Kỳ hửu hiệu như một nền chính trị độc nhất cũng như ngôn ngữ của Các điều khoản Hợp bang, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ luôn duy trì không thay đổi lập trường rằng các tiểu bang không có quyền ly khai. Tuy nhiên, tòa án ám thị trong cùng phán quyết rằng có thể có những thay đổi như thế xảy ra "qua cách mạng, hay qua sự ưng thuận của các tiểu bang", có nghĩa thiết thực rằng phán quyết này luôn cho rằng không có tiểu bang nào có quyền đơn phương quyết định rời liên bang.[3][4]

Thịnh vượng chung[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn trong số các tiểu bang của Hoa Kỳ mang danh xưng là thịnh vượng chung: Kentucky, Massachusetts, Pennsylvania, và Virginia. Tại các tiểu bang này, danh xưng "thịnh vượng chung" chỉ là cái tên lịch sử và cái tên như thế không có ảnh hưởng pháp lý gì cả. Danh xưng này có vẻ gây chút nhầm lần bởi vì các lãnh thổ của Hoa Kỳ là Quần đảo Bắc MarianaPuerto Rico cũng được gọi là các thịnh vượng chung. Danh xưng như thế không khiến các tiểu bang vừa kể có tình trạng pháp lý khác biệt so với tình trạng pháp lý của các tiểu bang khác của Hoa Kỳ. Hai vùng quốc hải có danh xưng thịnh vượng chung (Quần đảo Bắc MarianaPuerto Rico) là các lãnh thổ chưa hợp nhất (chưa vĩnh viễn thuộc về Hoa Kỳ: có thể giữ nguyên tình trạng chính trị hiện nay, gia nhập liên bang để trở thành tiểu bang mới hay tách rời để trở thành quốc gia độc lập) của Hoa Kỳ.

Phân chia theo nhóm vùng[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiểu bang có thể được phân nhóm thành các vùng; có vô số cách phân vùng và phân nhóm khác nhau vì đa số các tiểu bang không được xác định theo ranh giới văn hóa hay địa lý rỏ rệt nào. Để biết thêm chi tiết về các vùng của Hoa Kỳ, xin xem Danh sách các vùng của Hoa Kỳ.

Danh sách tiểu bang Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Alabama Alaska Arizona Arkansas California Colorado Connecticut Delaware Florida Georgia Hawaii Idaho Illinois Indiana Iowa Kansas Kentucky Louisiana Maine Maryland Massachusetts Michigan Minnesota Mississippi Missouri Montana Nebraska Nevada New Hampshire New Jersey New Mexico New York North Carolina North Dakota Ohio Oklahoma Oregon Pennsylvania Rhode Island South Carolina South Dakota Tennessee Texas Utah Vermont Virginia Washington West Virginia Wisconsin Wyoming Delaware Maryland New Hampshire New Jersey Massachusetts Connecticut West Virginia Vermont Rhode IslandMap of USA with state names.svg
Thông tin về hình này

Bản sau đây liệt kê từng tiểu bang trong số 50 tiểu bang của Hoa Kỳ cùng với các số liệu và thông tin:

  1. Tên tiểu bang
  2. Cách phát âm tên thường gọi của tiểu bang theo chuẩn của Bảng mẫu tự phiên âm quốc tế
  3. Các viết tắc tên tiểu bang bằng hai chữ cái của Cục Bưu điện Hoa Kỳ[18]
    (được dựa theo chuẩn ISO 3166-2, mã số phân cấp hành chính quốc gia)
  4. Hình cờ chính thức của tiểu bang
  5. Ngày tiểu bang chấp thuận thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ hay được nhận vào liên bang Hoa Kỳ
  6. Tổng diện tích mặt đất và mặt nước của tiểu bang
  7. Dân số tiểu bang theo Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010, tính đến ngày 1 tháng 4, năm 2010[19]
  8. Thủ phủ tiểu bang
  9. Nơi hợp nhất hay Nơi ấn định cho điều tra dân số đông dân nhất trong tiểu bang tính đến ngày 1 tháng 7 năm 2008 như được Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ ước tính[20]


50 tiểu bang Hiệp chúng Quốc Hoa Kỳ
Tên Phiên âm IPA Cục Bưu điện Hoa Kỳ Cờ Ngày Diện tích (dặm vuông) Dân số (2010) Thủ phủ Thành phố đông dân nhất
Alabama /ˌæləˈbæmə/ AL Flag of Alabama.svg 01819-12-14 14 tháng 12 năm 1819 700513576500000000052.419 sq mi (135.765 km2) 4.779.736 Montgomery Birmingham
Alaska /əˈlæskə/ AK Flag of Alaska.svg 01959-01-03 3 tháng 1 năm 1959 7006171785400000000663.267 sq mi (1.717.854 km2) 710.231 Juneau Anchorage
Arizona /ˌærɪˈzoʊnə/ AZ Flag of Arizona.svg 01912-02-14 14 tháng 2 năm 1912 7005295254000000000113.998 sq mi (295.254 km2) 6.392.017 Phoenix Phoenix
Arkansas /ˈɑrkənsɔː/ AR Flag of Arkansas.svg 01836-06-15 15 tháng 6 năm 1836 700513700200000000052.897 sq mi (137.002 km2) 2.915.918 Little Rock Little Rock
California /ˌkælɪˈfɔrnjə/ CA Flag of California.svg 01850-09-09 9 tháng 9 năm 1850 7005423970000000000163.700 sq mi (423.970 km2) 37.253.956 Sacramento Los Angeles
Colorado /ˌkɒləˈrædoʊ/ CO Flag of Colorado.svg 01876-08-01 1 tháng 8 năm 1876 7005269837000000000104.185 sq mi (269.837 km2) 5.029.196 Denver Denver
Connecticut /kəˈnɛtɪkət/ CT Flag of Connecticut.svg 01788-01-09 9 tháng 1 năm 1788 70041435600000000005.543 sq mi (14.356 km2) 3.574.097 Hartford Bridgeport[21]
Delaware /ˈdɛləwɛər/ DE Flag of Delaware.svg 01787-12-07 7 tháng 12 năm 1787 70036452000000000002.491 sq mi (6.452 km2) 897.934 Dover Wilmington
Florida /ˈflɒrɪdə/ FL Flag of Florida.svg 01845-03-03 3 tháng 3 năm 1845 700517030400000000065.755 sq mi (170.304 km2) 18.801.310 Tallahassee Jacksonville[22]
Georgia /ˈdʒɔrdʒə/ GA Flag of Georgia (U.S. state).svg 01788-01-02 2 tháng 1 năm 1788 700515390900000000059.425 sq mi (153.909 km2) 9.687.653 Atlanta Atlanta
Hawaii /həˈwaɪ.iː/ HI Flag of Hawaii.svg 01959-08-21 21 tháng 8 năm 1959 700428311000000000010.931 sq mi (28.311 km2) 1.360.301 Honolulu Honolulu
Idaho /ˈaɪdəhoʊ/ ID Flag of Idaho.svg 01890-07-03 3 tháng 7 năm 1890 700521663200000000083.642 sq mi (216.632 km2) 1.567.582 Boise Boise
Illinois /ɪlɪˈnɔɪ/ IL Flag of Illinois.svg 01818-12-03 3 tháng 12 năm 1818 700514199800000000054.826 sq mi (141.998 km2) 12.830.632 Springfield Chicago
Indiana /ˌɪndiˈænə/ IN Flag of Indiana.svg 01816-12-11 11 tháng 12 năm 1816 700494321000000000036.418 sq mi (94.321 km2) 6.483.802 Indianapolis Indianapolis
Iowa /ˈaɪ.ɵwə/ IA Flag of Iowa.svg 01846-12-28 28 tháng 12 năm 1846 700514574300000000056.272 sq mi (145.743 km2) 3.046.355 Des Moines Des Moines
Kansas /ˈkænzəs/ KS Flag of Kansas.svg 01861-01-29 29 tháng 1 năm 1861 700521309600000000082.277 sq mi (213.096 km2) 2.853.118 Topeka Wichita
Kentucky[23] /kɪnˈtʌki/ KY Flag of Kentucky.svg 01792-06-01 1 tháng 6 năm 1792 700510465900000000040.409 sq mi (104.659 km2) 4.339.367 Frankfort Louisville
Louisiana /luːˌiːziˈænə/ LA Flag of Louisiana.svg 01812-04-30 30 tháng 4 năm 1812 700513538200000000052.271 sq mi (135.382 km2) 4.533.372 Baton Rouge New Orleans
Maine /ˈmeɪn/ ME Flag of Maine.svg 01820-03-15 15 tháng 3 năm 1820 700491646000000000035.385 sq mi (91.646 km2) 1.328.361 Augusta Portland
Maryland /ˈmɛrələnd/ MD Flag of Maryland.svg 01788-04-28 28 tháng 4 năm 1788 700432133000000000012.407 sq mi (32.133 km2) 5.773.552 Annapolis Baltimore[24]
Massachusetts[23] /ˌmæsəˈtʃuːsɪts/ MA Flag of Massachusetts.svg 01788-02-06 6 tháng 2 năm 1788 700427336000000000010.554 sq mi (27.336 km2) 6.547.629 Boston Boston
Michigan /ˈmɪʃɪɡən/ MI Flag of Michigan.svg 01837-01-26 26 tháng 1 năm 1837 700525379300000000097.990 sq mi (253.793 km2) 9.883.640 Lansing Detroit
Minnesota /ˌmɪnɪˈsoʊtə/ MN Flag of Minnesota.svg 01858-05-11 11 tháng 5 năm 1858 700522518100000000086.943 sq mi (225.181 km2) 5.303.925 Saint Paul Minneapolis
Mississippi /ˌmɪsɪˈsɪpi/ MS Flag of Mississippi.svg 01817-12-10 10 tháng 12 năm 1817 700512544300000000048.434 sq mi (125.443 km2) 2.967.297 Jackson Jackson
Missouri /mɪˈzʊəri, mɪˈzʊərə/ MO Flag of Missouri.svg 01821-08-10 10 tháng 8 năm 1821 700518053300000000069.704 sq mi (180.533 km2) 5.988.927 Jefferson City Kansas City[25]
Montana /mɒnˈtænə/ MT Flag of Montana.svg 01889-11-08 8 tháng 11 năm 1889 7005381156000000000147.165 sq mi (381.156 km2) 989.415 Helena Billings
Nebraska /nəˈbræskə/ NE Flag of Nebraska.svg 01867-03-01 1 tháng 3 năm 1867 700520052000000000077.420 sq mi (200.520 km2) 1.826.341 Lincoln Omaha
Nevada /nəˈvædə/ NV Flag of Nevada.svg 01864-10-31 31 tháng 10 năm 1864 7005286367000000000110.567 sq mi (286.367 km2) 2.700.551 Carson City Las Vegas
New Hampshire /nuː ˈhæmpʃər/ NH Flag of New Hampshire.svg 01788-06-21 21 tháng 6 năm 1788 70042421700000000009.350 sq mi (24.217 km2) 1.316.470 Concord Manchester[26]
New Jersey /nuː ˈdʒɜrzi/ NJ Flag of New Jersey.svg 01787-12-18 18 tháng 12 năm 1787 70042260800000000008.729 sq mi (22.608 km2) 8.791.894 Trenton Newark[27]
New Mexico /nuː ˈmɛksɪkoʊ/ NM Flag of New Mexico.svg 01912-01-06 6 tháng 1 năm 1912 7005315194000000000121.697 sq mi (315.194 km2) 2.059.179 Santa Fe Albuquerque
New York /nuː ˈjɔrk/ NY Flag of New York.svg 01788-07-26 26 tháng 7 năm 1788 700514129900000000054.556 sq mi (141.299 km2) 19.378.102 Albany Thành phố New York[28]
North Carolina /ˌnɔrθ kærəˈlaɪnə/ NC Flag of North Carolina.svg 01789-11-21 21 tháng 11 năm 1789 700513950900000000053.865 sq mi (139.509 km2) 9.535.483 Raleigh Charlotte
North Dakota /ˌnɔrθ dəˈkoʊtə/ ND Flag of North Dakota.svg 01889-11-02 2 tháng 11 năm 1889 700518327200000000070.762 sq mi (183.272 km2) 672.591 Bismarck Fargo
Ohio /oʊˈhaɪ.oʊ/ OH Flag of Ohio.svg 01803-03-01 1 tháng 3 năm 1803 700511609600000000044.825 sq mi (116.096 km2) 11.536.504 Columbus Columbus[29]
Oklahoma /ˌoʊkləˈhoʊmə/ OK Flag of Oklahoma.svg 01907-11-16 16 tháng 11 năm 1907 700518119500000000069.960 sq mi (181.195 km2) 3.751.351 Oklahoma City Oklahoma City
Oregon /ˈɒrɪɡən/ OR Flag of Oregon.svg 01859-02-14 14 tháng 2 năm 1859 700525502600000000098.466 sq mi (255.026 km2) 3.831.074 Salem Portland
Pennsylvania[23] /ˌpɛnsɪlˈveɪnjə/ PA Flag of Pennsylvania.svg 01787-12-12 12 tháng 12 năm 1787 700511928300000000046.055 sq mi (119.283 km2) 12.702.379 Harrisburg Philadelphia
Rhode Island[30] /rɵd ˈaɪlənd/ RI Flag of Rhode Island.svg 01790-05-29 29 tháng 5 năm 1790 70033140000000000001.210 sq mi (3.140 km2) 1.052.567 Providence Providence
South Carolina /ˌsaʊθ kærəˈlaɪnə/ SC Flag of South Carolina.svg 01788-05-23 23 tháng 5 năm 1788 700482931000000000032.020 sq mi (82.931 km2) 4.625.364 Columbia Columbia[31]
South Dakota /ˌsaʊθ dəˈkoʊtə/ SD Flag of South Dakota.svg 01889-11-02 2 tháng 11 năm 1889 700519990500000000077.184 sq mi (199.905 km2) 814.180 Pierre Sioux Falls
Tennessee /ˌtɛnɪˈsiː/ TN Flag of Tennessee.svg 01796-06-01 1 tháng 6 năm 1796 700510924700000000042.181 sq mi (109.247 km2) 6.346.105 Nashville Memphis[32]
Texas /ˈtɛksəs/ TX Flag of Texas.svg 01845-12-29 29 tháng 12 năm 1845 7005696241000000000268.820 sq mi (696.241 km2) 25.145.561 Austin Houston[33]
Utah /ˈjuːtɔː/ UT Flag of Utah.svg 01896-01-04 4 tháng 1 năm 1896 700521988700000000084.899 sq mi (219.887 km2) 2.763.885 Salt Lake City Salt Lake City
Vermont /vərˈmɒnt/ VT Flag of Vermont.svg 01791-03-04 4 tháng 3 năm 1791 70042492300000000009.623 sq mi (24.923 km2) 625.741 Montpelier Burlington
Virginia[23] /vərˈdʒɪnjə/ VA Flag of Virginia.svg 01788-06-25 25 tháng 6 năm 1788 700511078500000000042.774 sq mi (110.785 km2) 8.001.024 Richmond Virginia Beach[34]
Washington /ˈwɒʃɪŋtən/ WA Flag of Washington.svg 01889-11-11 11 tháng 11 năm 1889 700518482700000000071.362 sq mi (184.827 km2) 6.724.540 Olympia Seattle
West Virginia /ˌwɛst vərˈdʒɪnjə/ WV Flag of West Virginia.svg 01863-06-20 20 tháng 6 năm 1863 700462755000000000024.230 sq mi (62.755 km2) 1.852.994 Charleston Charleston
Wisconsin /wɪsˈkɒnsɪn/ WI Flag of Wisconsin.svg 01848-05-29 29 tháng 5 năm 1848 700516963900000000065.498 sq mi (169.639 km2) 5.686.986 Madison Milwaukee
Wyoming /waɪˈoʊmɪŋ/ WY Flag of Wyoming.svg 01890-07-10 10 tháng 7 năm 1890 700525334800000000097.818 sq mi (253.348 km2) 563.626 Cheyenne Cheyenne

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ See the Fourteenth Amendment to the United States Constitution.
  2. ^ “Puerto Rico votes on US ties and chooses governor”. AP. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă Aleksandar Pavković, Peter Radan, Creating New States: Theory and Practice of Secession, p. 222, Ashgate Publishing, Ltd., 2007.
  4. ^ a ă Texas v. White, 74 U.S. 700 (1868) at Cornell University Law School Supreme Court collection.
  5. ^ Broder, David S. (6 tháng 6 năm 2010). “School reform at risk”. Washington, DC: Washington Post. tr. A15. 
  6. ^ Cauchon, Dennis (1 tháng 3 năm 2011). “In Wis,. public workers earn more”. Florida Today (Melbourne, Florida). tr. 4A. 
  7. ^ a. Third Constitution of Kentucky (1850), Article 2, Section 1 ff. Other portions of the same Constitution refer to the "State of Kentucky".
    b. Constitution of the Commonwealth of Massachusetts, Preamble.
    c. Constitution of Pennsylvania, Preamble.
    d. Constitution of Virginia (1971), Article IV, Section 1.
  8. ^ U.S. Const. art. IV, § 3, cl. 2 ("The Congress shall have Power to dispose of and make all needful Rules and Regulations respecting the Territory or other Property belonging to the United States...").
  9. ^ Richard Bruce Winders (2002). Crisis in the Southwest: the United States, Mexico, and the struggle over Texas. Rowman & Littlefield. tr. 82, 92. ISBN 9780842028011. 
  10. ^ “Rules of the House of Representatives” (PDF). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2010. 
  11. ^ “Political Status of Puerto Rico: Options for Congress”. Congressional Research Service. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2009. 
  12. ^ a ă “''Report By the President's Task Force On Puerto Rico's Status (December 2007)''” (PDF). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2010. 
  13. ^ “Report By the President's Task Force On Puerto Rico's Status (December 2005)” (PDF). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2010. 
  14. ^ H.R. 2499 – Puerto Rico Democracy Act of 2009 H.R. 2499
  15. ^ “H.R. 2499: Puerto Rico Democracy Act of 2010”, govtrack.us, 29 tháng 4 năm 2010. 
  16. ^ “Article IV | LII / Legal Information Institute”. Law.cornell.edu. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2010. 
  17. ^ “Texas Dividing into Five States”. snopes.com. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2010. 
  18. ^ “Official USPS Abbreviations”. United States Postal Service. 1998. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2007. 
  19. ^ “POPULATION CHANGE DATA PROVIDED BY U.S. CENSUS 2010”. United States Census Bureau, Population Division. 02010-12-21 21 tháng 12 năm 2010. Truy cập 02010-12-21 21 tháng 12 năm 2010. 
  20. ^ “Resident Population Estimates of Incorporated Places Only: April 1, 2000 to July 1, 2008” (CSV). 2008 Population Estimates. United States Census Bureau, Population Division. 02009-07-01 1 tháng 7 năm 2009. Truy cập 02009-10-01 1 tháng 10 năm 2009. 
  21. ^ The Hartford-West Hartford-Willimantic Combined Statistical Area is the most populous metropolitan area in Connecticut.
  22. ^ The Miami-Fort Lauderdale-Miami Beach Metropolitan Statistical Area is the most populous metropolitan area in Florida.
  23. ^ a ă â b Official name calls it a commonwealth
  24. ^ Baltimore City and the 12 Maryland Quận of the Washington-Baltimore-Northern Virginia Combined Statistical Area form the most populous metropolitan region in Maryland.
  25. ^ The City of Saint Louis and the 8 Missouri Quận of the St. Louis-St. Charles-Farmington Combined Statistical Area form the most populous metropolitan region in Missouri.
  26. ^ The 5 southeastern New Hampshire Quận of the Boston-Worcester-Manchester Combined Statistical Area form the most populous metropolitan region in New Hampshire.
  27. ^ The 13 northern New Jersey Quận of the New York-Newark-Bridgeport Combined Statistical Area form the most populous metropolitan region in New Jersey.
  28. ^ New York City is the most populous city in the United States.
  29. ^ The Cleveland-Akron-Elyria Combined Statistical Area is the most populous metropolitan area in Ohio.
  30. ^ Full name is State of Rhode Island and Providence Plantations
  31. ^ The Greenville-Spartanburg-Anderson Combined Statistical Area is the most populous metropolitan area in South Carolina.
  32. ^ The Nashville-Davidson-Murfreesboro-Columbia Combined Statistical Area is the most populous metropolitan area in Tennessee.
  33. ^ The Dallas-Fort Worth Combined Statistical Area is the most populous metropolitan area in Texas.
  34. ^ The 10 Virginia Quận and 6 Virginia cities of the Washington-Baltimore-Northern Virginia Combined Statistical Area form the most populous metropolitan region in Virginia.