Tu chính án hiến pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Một tu chính án hiến pháp (sửa đổi hiến pháp) là một sự thay đổi trong hiến pháp của một quốc gia hay của một bang (thí dụ các tiểu bang của Hoa Kỳ). Trong các nền pháp lý có hiến pháp "cứng rắn" hay "vững chắc", các sửa đổi cần có một qui trình đặc biệt khác với qui trình được dùng để ban hành luật thông thường.

Các qui trình sửa đổi hiến pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp mềm dẻo[sửa | sửa mã nguồn]

Một hiến pháp mềm dẻo là một hiến pháp có thể được tu chính (sửa đổi) bằng một hành động đơn giản của ngành lập pháp, giống như cách được dùng để thông qua các luật thông thường. Hiến pháp "không pháp điển hóa" của Vương quốc Anh gồm có một phần là các luật quan trọng và một phần là các tục lệ không thành văn. Các luật tạo nên hiến pháp Vương quốc Anh có thể được sửa đổi qua một hành động đơn giản của Quốc hội Vương quốc Anh. Các hội nghị hiến pháp của Vương quốc Anh (nơi các nghị quyết không thành văn được thảo luận) được triệu tập để tiến hóa về mặt tổ chức theo thời gian. Luật cơ bản của Israel (Hiến pháp Israel) có thể được tu chính một cách đơn giản tại Knesset (Quốc hội) của Israel.

Đa số đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp của đa số các quốc gia qui định rằng hiến pháp có thể được sửa đổi bởi quốc hội (nghị viện), nhưng với điều kiện là phải qua một cuộc biểu quyết với kết quả đa số. Thông thường là một đa số 2/3 tổng số phiếu bầu. Trong một quốc hội lưỡng viện, nó có thể cần phải có đa số thông qua tại cả hai viện lập pháp. Ngoài ra, nhiều hiến pháp đòi hỏi sự sửa đổi phải được số phiếu của một thiểu số "tuyệt đối" con số thành viên quốc hội hơn là chỉ đơn giản sự ủng hộ của các thành viên "hiện diện" tại một buổi họp của nghị viện. Thí dụ, Hiến pháp của Đức (Grundgesetz) có thể được sửa đổi với sự đồng thuận của một đa số 2/3 thành viên tại cả hạ viện và thượng viện. Hiến pháp của Brasil có thể được sửa đổi với sự đồng thuận của cả hai viện quốc hội với số phiếu đa số là 3/5. Một sự sửa đổi của Hiếp pháp Úc đòi hỏi cả đa số cử tri toàn quốc và đa số cử tri tại đa số các tiểu bang. Điều đó có nghĩa là một sửa đổi phải được thông qua với đa số phiếu tại 4 trong 6 tiểu bang của Úc và cũng như đa số phiếu trên toàn quốc.

Trưng cầu dân ý[sửa | sửa mã nguồn]

Một số hiến pháp chỉ có thể được sửa đổi bằng sự ưng thuận trực tiếp toàn cử tri trong một cuộc trưng cầu dân ý. Tại một số quốc gia, một quyết định đưa một sửa đổi hiến pháp ra trưng cầu toàn cử tri trước tiên phải qua quốc hội. Tại các quốc gia khác, trưng cầu dân ý có thể được công dân đề xướng qua một thỉnh nguyện thư được ký bởi một tối thiểu con số cử tri có đăng ký đi bầu. Hiến pháp của Cộng hòa Ireland, Đan Mạch, Nhật BảnÚc được tu chính qua cách phương pháp của một cuộc trưng cầu dân ý, đầu tiên phải được quốc hội đề nghị. Hiến pháp của Thụy Sĩ và của một số tiểu bang của Hoa Kỳ có thể được tu chính qua sự đề xướng của công dân.

Đa số liên tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nền pháp lý đòi hỏi một tu chính án hiến pháp phải được ngành lập pháp chấp thuận vào hai dịp khác nhau trong khoảng thời gian của hai nhiệm kỳ liên tiếp và khác nhau, cùng với một cuộc tổng tuyển cử trong thời gian quá độ. Dưới một số các hiến pháp như vậy sẽ có một cuộc giải tán quốc hội và một cuộc tổng tuyển cử ngay lập tức vào thời gian mà một tu chính án được áp dụng lần đầu tiên. Thí dụ gồm có hiến pháp của Iceland, Đan Mạch, Hà LanNa Uy. Phương pháp này cũng rất phổ biến tại cấp bậc hành chính thấp hơn quốc gia, thí dụ như tiểu bang Wisconsin của Hoa Kỳ.

Điều kiện cần thiết đặc biệt trong các liên bang[sửa | sửa mã nguồn]

Một tu chính án của Hiến pháp Hoa Kỳ phải được thông qua bởi 3/4 tổng số các lập pháp tiểu bang hay hội thảo hiến pháp, đặc biệt được bầu lên tại mỗi tiểu bang trước khi nó có hiệu lực [1]. Tại Canada các loại tu chính án khác nhau đòi hỏi một sự kết hợp khác nhau các chính quyền tỉnh bang để đại diện một tỉ lệ nào đó dân số quốc gia tán thành.

Các hệ thống phức tạp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thực tế, nhiều nền pháp lý kết hợp lại nhiều hơn một loại các qui trình tu chính thông thường. Thí dụ, Hiến pháp của Pháp có thể được tu chính bởi một trong hai cách sau: hoặc là bằng cách đa số đặc biệt hoặc là bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Mặt khác, một tu chính án hiến pháp của tiểu bang Massachusetts đầu tiên phải được tán thành bởi đa số đặc biệt tại lập pháp trong thời gian hai nhiệm kỳ liên tiếp và rồi sau đó được đưa ra để trưng cầu dân ý.

Có một số hiến pháp qui định rằng các điều khoản khác nhau của chúng phải được tu chính trong những cách khác nhau. Đa số các điều khoản trong hiến pháp của Litva có thể được tu chính theo thể thức đa số đặc biệt tại quốc hội nhưng một sự thay đổi tình trạng quốc gia thí dụ như một "cộng hòa dân chủ độc lập" thì phải được tán thành bởi 3/4 đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý[2]. Không như những điều khoản khác của nó, một cuộc trưng cầu dân ý bắt buộc phải có để tu chính một phần của hiến pháp Iceland nói về quan hệ của nhà thờ và nhà nước[3].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Some argue that with demographic changes the bar originally set for amendment of the U.S. Constitution is now too high.
  2. ^ Article 1.
  3. ^ As of 2004 the relevant article is Article 62 which establishes the Evangelical Lutheran Church. Other provisions may be amended by a special legislative majority.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]