Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg
TranDaiQuang2015.jpg
Đương nhiệm
Trần Đại Quang

từ 2 tháng 4 năm 2016
Chức danh Chủ tịch nước
Thành viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Quốc hội
Đảng ủy Công an Trung ương
Quân ủy Trung ương
Trụ sở Phủ Chủ tịch, Hà Nội
Bổ nhiệm bởi Quốc hội Việt Nam
Nhiệm kỳ 5 năm
Người đầu tiên giữ chức Tôn Đức Thắng
2 tháng 7 năm 1976
Thành lập 2 tháng 7 năm 1976
Website Văn phòng Chủ tịch nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại theo Điều 86, Chương VI, Hiến pháp 2013[1].

Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV từ ngày 2 tháng 4 năm 2016 là ông Trần Đại Quang.

Nhiệm vụ và quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 88 Hiến pháp năm 2013[1] quy định:

"Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

  1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
  2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ;
  3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá;
  4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;
  5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
  6. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước."

Quyền hạn của Chủ tịch nước đối với Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 90 Hiến pháp năm 2013 quy định:

"Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Chính phủ. Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước."

Quyền hạn của chủ tịch nước đối với Quốc hội[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 90 Hiến pháp năm 2013 cũng có quy định rằng Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Nhiệm kì của Chủ tịch nước[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Hiến pháp năm 2013 - Điều 87, "Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước"[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chế định Chủ tịch nước xuất hiện lần đầu từ bản Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại. Điều thứ 4445, Chương IV: Chính phủ Hiến pháp năm 1946[2] quy định: "Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó chủ tịch và Nội các", Chủ tịch nước được "chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận. Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối. Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại."
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ứng dụng linh hoạt thiết chế Chủ tịch nước với bối cảnh đất nước thời điểm đó bằng việc đặt chức vụ Chủ tịch nước đồng thời đứng đầu ngành hành pháp, nhiệm kỳ tách biệt với nhiệm kỳ Nghị viện nhân dân (nhiệm kỳ của Nghị viện nhân dân là 3 năm) và không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc (Điều thứ 50). Điểm đặc biệt này làm cho chế định Chủ tịch nước trong bản Hiến pháp năm 1946 rất giống với chính thể Cộng hòa Bán-Tổng thống.
    Điều thứ 49 Hiến pháp năm 1946 quy định quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa:
    "a) Thay mặt cho nước.
    b) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân.
    c) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ.
    d) Chủ tọa Hội đồng Chính phủ.
    đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị.
    e) Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự.
    g) Đặc xá.
    h) Ký hiệp ước với các nước.
    i) Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước.
    k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như Điều 38 đã định."
  • Ở Hiến pháp năm 1959[3], chức vụ Chủ tịch nước trở về khá giống với chế định ở hiện tại, khi Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra, nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, và không còn đứng đầu ngành hành pháp mà chỉ còn là "người thay mặt cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về mặt đối nội và đối ngoại" (Điều 61). Đặc biệt, Điều 62 quy định "mọi công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ ba mươi lăm tuổi trở lên có quyền ứng cử Chủ tịch nước" mà không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội.
    Điều 63 quy định quyền hạn của Chủ tịch nước: "Căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội mà công bố pháp luật, pháp lệnh; bổ nhiệm, bãi miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; bổ nhiệm, bãi miễn Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quốc phòng; công bố lệnh đại xá và lệnh đặc xá; tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự của Nhà nước; tuyên bố tình trạng chiến tranh; công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố lệnh giới nghiêm."
  • Từ 4 tháng 7 năm 1981 - 22 tháng 9 năm 1992 theo Hiến pháp năm 1980[4], chế định Chủ tịch nước được thay bằng chế định Hội đồng Nhà nước - là "chủ tịch tập thể" của đất nước - bằng việc "sát nhập" chức năng của Ủy ban thường vụ Quốc hội và chức năng của Chủ tịch nước.

Điều kiện để làm Chủ tịch nước[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Điều 87 - Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước phải là đại biểu Quốc hội, và do Quốc hội bầu ra.

Cũng theo Khoản 2, Điều 8, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014[5], Chủ tịch nước được Quốc hội bầu dựa theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chức vụ bỏ trống[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Điều 93 trong Hiến pháp năm 2013, trong trường hợp chức vụ Chủ tịch nước bị bỏ trống (đột ngột qua đời, từ chức hay bị đình chỉ chức vụ tạm thời) thì Phó Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước tạm quyền. Chủ tịch nước tạm quyền có đầy đủ quyền hành cho đến khi Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước mới.[1]

Tuyên thệ nhậm chức[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Khoản 8, Điều 8 của Luật Tổ chức Quốc hội, sau khi được bầu, Chủ tịch nước phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp.[5]

Mối quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ với Bộ chính trịBan bí thư[sửa | sửa mã nguồn]

"Quy định (Bổ sung) về quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ chính trị, Ban bí thư với đồng chí Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch nước và một số tổ chức Đảng trực thuộc ở trung ương" số 216-QĐ/TW ngày 01 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị [6] có quy định:

"Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước đề xuất hoặc trình.

1- Những vấn đề mà Hội đồng Quốc phòng và An ninh sẽ thảo luận và quyết định liên quan đến tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

2- Đề xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước liên quan đến việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ.

3- Những vấn đề mà Chủ tịch nước thấy cần đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại trước khi công bố pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội.

4- Phát biểu của Chủ tịch nước với Quốc hội về những vấn đề quan trọng của đất nước để Quốc hội thảo luận và quyết định.

5- Những vấn đề khác Chủ tịch nước thấy cần thiết báo cáo Bộ Chính trị."

Tiêu chuẩn của Đảng Cộng sản Việt Nam cho ứng viên chức danh Chủ tịch nước[sửa | sửa mã nguồn]

Theo "Quy định Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý" số 90-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương [7], Chủ tịch nước phải là người:

"Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời cần có các phẩm chất, năng lực: Có uy tín cao, là hạt nhân đoàn kết trong Trung ương, Bộ Chính trị và trong toàn Đảng. Có năng lực nổi trội, toàn diện trên các mặt công tác, nhất là lĩnh vực đối nội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng; hiểu biết sâu, rộng về công tác tư pháp. Là trung tâm đoàn kết các lực lượng xã hội và các cộng đồng dân tộc trong, ngoài nước. Quyết liệt trong lãnh đạo, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công. Đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở chức danh bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương, tham gia Bộ Chính trị trong một nhiệm kỳ trở lên (trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định)."

Danh sách Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1981 đến 1992, theo Hiến pháp năm 1980, chế định Chủ tịch nước được thay bằng chế định Hội đồng Nhà nước, "là cơ quan cao nhất, hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" bằng việc "sát nhập" hai chức năng của Ủy ban thường vụ Quốc hội với chức năng cá nhân của Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1959 vào một cơ quan duy nhất là Hội đồng Nhà nước.

Sau đây là danh sách các Chủ tịch nước Việt Nam từ khi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành lập vào năm 1976. Tất cả các Chủ tịch nước đều là Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung màu xám chỉ người giữ chức vụ Quyền Chủ tịch nước.

Thứ tự Tên Chân dung Nhiệm kỳ Thời gian tại nhiệm Chức vụ Đảng phái
1 Tôn Đức Thắng Tonducthang.jpg 2 tháng 7 năm 1976 - 30 tháng 3 năm 1980 3 năm, 272 ngày Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam (hợp nhất từ Đảng Lao động và Đảng Nhân dân Cách mạng)
- Nguyễn Hữu Thọ NguyenHuuTho.jpg 30 tháng 3 năm 1980 - 4 tháng 7 năm 1981 1 năm, 96 ngày Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
21 Trường Chinh2 TruongChinh1955.jpg 4 tháng 7 năm 1981 - 18 tháng 6 năm 1987 5 năm, 349 ngày Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
31 Võ Chí Công2 Vo Chi Cong.jpg 18 tháng 6 năm 1987 - 22 tháng 9 năm 1992 5 năm, 96 ngày Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
4 Lê Đức Anh 23 tháng 9 năm 1992 - 23 tháng 9 năm 1997 5 năm, 0 ngày Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
5 Trần Đức Lương Tran Duc Luong, Nov 17, 2004.jpg 24 tháng 9 năm 1997 - 26 tháng 6 năm 2006 8 năm, 275 ngày Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Nguyễn Minh Triết Nguyen Minh Triet.jpg 27 tháng 6 năm 2006 - 25 tháng 7 năm 2011 5 năm, 28 ngày Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Trương Tấn Sang Truong Tan Sang Nov 2015.png 25 tháng 7 năm 2011 - 02 tháng 4 năm 2016 4 năm, 252 ngày Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
8 Trần Đại Quang TranDaiQuang2015.jpg 02 tháng 4 năm 2016 - hiện tại 1 năm, 171 ngày Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
1lãnh đạo tập thể * 2đại diện lãnh đạo tập thể

Danh sách Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 có quy định về chức vụ Chủ tịch nước:

  • Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước và Nội các. Nội các có Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. (điều 44)
  • Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong Quốc hội và đưa ra cho các đại biểu quốc hội biểu quyết (điều 47)
  • Chủ tịch nước có các quyền hạn chính như: thay mặt cho nước; giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái; ký sắc lệnh bổ nhiệm hoặc cách chức Thủ tướng, nhân viên Nội các; chủ tọa Hội đồng chính phủ... (điều 49)

Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu Chính phủ, và kiêm nhiệm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955 chức vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm. Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khoá II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi ông mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Người kế nhiệm ông ở cương vị này là Tôn Đức Thắng, chính thức từ ngày 22 tháng 9 năm 1969, trước đó là Quyền Chủ tịch nước, cho đến khi đổi tên nước thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Sau đây là danh sách các Chủ tịch nước Việt Nam từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Tất cả các Chủ tịch nước đều là Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị. Trừ trường hợp đặc biệt là Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng là người không đảng phái được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị tạm quyền Chủ tịch nước trong thời gian ông sang Pháp vận động ngoại giao.

Khung màu xám chỉ người giữ chức vụ Quyền Chủ tịch nước.

Thứ tự Tên Chân dung Nhiệm kỳ Thời gian tại nhiệm Chức vụ Đảng phái
1 Hồ Chí Minh Ho Chi Minh 1946.jpg 2 tháng 9 năm 1945 - 2 tháng 9 năm 1969 24 năm, 0 ngày Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đảng Cộng sản Đông Dương (đến 1951)
Đảng Lao động Việt Nam (từ 1951)
- Huỳnh Thúc Kháng Huynh Thuc Khang.jpg 31 tháng 5 năm 1946 - 21 tháng 9 năm 1946 0 năm, 113 ngày Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đảng phái
- Tôn Đức Thắng [8] Tonducthang.jpg 3 tháng 9 năm 1969 - 22 tháng 9 năm 1969 0 năm, 19 ngày Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đảng Lao động Việt Nam
2 Tôn Đức Thắng Tonducthang.jpg 22 tháng 9 năm 1969 - 2 tháng 7 năm 1976 6 năm, 284 ngày Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đảng Lao động Việt Nam

Danh sách Chủ tịch nước Cộng hòa Miền Nam Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Tên Chân dung Nhiệm kỳ Thời gian tại nhiệm Chức vụ Đảng phái
- Nguyễn Hữu Thọ NguyenHuuTho.jpg 8 tháng 6 năm 1969 - 2 tháng 7 năm 1976 7 năm, 24 ngày Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (chịu ảnh hưởng từ Đảng Lao động Việt Nam)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]