Nguyễn Khánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Khánh
Nguyễn Khánh 1964.jpg
Tiểu sử
Sinh

8-11-1927

Trà Vinh, Việt Nam
Mất

11-1-2013

San Jose, California - Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1946-1965
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng
Đơn vị Binh chủng Nhảy dù
Bộ Tổng tham mưu
Quân đoàn II & Quân đoàn I
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Công việc khác Tổng Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa
Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa
Cựu tướng
Nguyễn Khánh
năm 2000

Nguyễn Khánh (1927-2013) nguyên là một trong 5 tướng lĩnh mang cấp bậc Đại tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông cũng là một chính khách, từng giữ chức Quốc trưởngThủ tướng của Việt Nam Cộng hòa và kiêm các chức Tổng tư lệnhTổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1964-1965. Ông được xem là người từng nắm giữ nhiều quyền lực tối cao nhất trong lịch sử 20 năm tồn tại của Việt Nam Cộng hòa.

Thân thế và bước đầu binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 8 tháng 11 năm 1927 tại Trà Vinh trong một gia đình điền chủ giàu có. Thân phụ ông là cụ Nguyễn Bửu, một địa chủ lớn ở Trà Vinh. Thân mẫu là cụ bà Phạm Lệ Trân.

Do điều kiện gia đình, từ nhỏ ông được ăn học đầy đủ, từng tốt nghiệp Trung học Pháp. Sau khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông có tham gia phong trào Việt Minh một thời gian ngắn.

Sau khi người Pháp tái chiến Đông Dương, ông bỏ Việt Minh và nhập ngũ vào Quân đội Pháp. Do có trình độ Trung học, ông được cho theo học khóa 1 (còn gọi là khóa Nguyễn Văn Thinh) tại trường Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946. Ngày 1 tháng 7 năm 1947, ông tốt nghiệp ra trường với cấp bậc Thiếu úy và được điều đi phục vụ ở Tiểu đoàn 2 Vệ binh Nam Việt, giữ chức vụ Trung đội trưởng.

Đầu năm 1948, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Đông Dương tại Học viện Quân sự Coetquidan và Võ bị Saint Cyr, Pháp. Thời kỳ này ông lấy tên là "Raymond Khánh". Sau khi mãn khóa học, về lại đơn vị và ngày 1 tháng 7 cùng năm ông được thăng cấp Trung úy. Tháng 12 cuối năm, ông là sĩ quan duy nhất được cử đi du học lớp huấn luyện Nhảy dù tại trường Nhảy dù Pau (Pháp), thụ huấn bằng dù T.7 và Phi cơ Ju.52. Tháng 6 năm 1949, ông được cử làm sĩ quan tùy viên của Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân.

Phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1950, ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội Nhảy dù biệt lập (một trong các Trung đội trưởng dưới quyền của ông lúc bấy giờ là Trung úy Đỗ Cao Trí. Tháng 8 năm 1951, Đại đội Biệt lập được biến cải thành Tiểu đoàn 1 Nhảy dù. Ông được giữ chức Tiểu đoàn trưởng. Ban đầu, Tiểu đoàn đóng tại Chí Hòa (Sài Gòn). Cuối năm, Tiểu đoàn tham gia chiến dịch tại Hòa Bình trong thời gian 3 tháng.

Tháng 3 năm 1952, ông được chuyển làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 22 Việt Nam (22e BVN). Sau đó được thăng cấp Thiếu tá và chuyển về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 13 Việt Nam (13e BVN), đồn trú tại Cần Thơ.

Đầu năm 1953, ông được cử giữ chức Tiểu khu trưởng Biệt khu Cần thơ. Cuối năm được thăng cấp Trung tá kiêm chức vụ Chỉ huy trưởng Liên đoàn Lưu động số 11 tân lập tại Cần Thơ. Tháng 4 năm 1954, ông được điều về Bộ Tổng tham mưu giữ chức Trưởng phòng 6. Cuối năm, ông được cử đi du học lớp Tham mưu tại trường Tham mưu Paris (Pháp). Mãn khóa, trở về đơn vị cũ.

Đầu tháng 3 năm 1955, ông là Chỉ huy trưởng Phân khu Cần Thơ kiêm Tỉnh trưởng Cần Thơ. Cuối tháng này, ông được giữ chức vụ Thanh tra trưởng của đơn vị Nhảy dù. Đến tháng 6, về làm Tham mưu phó tại Bộ Tổng tham mưu. Qua đầu tháng 7, ông được cử làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng đặc trách Không quân. Trung tuần tháng 9, ông được cử làm Chỉ huy phó Chiến dịch Hoàng Diệu, dưới quyền Chỉ huy trưởng là Đại tá Dương Văn Minh.

Dưới nền Đệ nhất Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chính thể Việt Nam Cộng hòa được thành lập, cuối tháng 10 năm 1955, ông được thăng cấp Đại tá. Đầu năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1 Dã chiến thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm. Giữa năm 1957, nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 1 lại cho Đại tá Tôn Thất Đính, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy & Tham mưu cao cấp tại Hoa Kỳ. Sau đó được du học tiếp lớp Tham mưu & Phối hợp Đồng minh tại Nhật Bản. Năm 1958, tư lệnh Miền Hậu Giang (sau này là Vùng 4 Chiến thuật, bấy giờ thuộc vùng 3).

Tháng 8 năm 1959, ông được bổ nhiệm làm quyền Tổng thư ký Thường trực Quốc phòng thuộc Phủ Tổng thống. Trung tuần tháng 1 năm 1960, ông được thăng cấp Thiếu tướng, giữ chức vụ Tư lệnh Quân khu 5. Giữa tháng 9 cùng năm, ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Tham mưu trưởng. Ông giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức phản công dẫn đến sự thất bại của vụ đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960 do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu.

Năm 1961, hướng dẫn Phái đoàn công du thăm viếng Đài Loan. Trung tuần tháng 12 cuối năm, ông bàn giao chức Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu lại cho Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm để đi nhận chức Tư lệnh Quân đoàn II.

Đỉnh cao quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Khi cuộc Đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 nổ ra, ông đã án binh bất động và không tỏ rõ thái độ. Khi đảo chính thành công, ông tuyên bố ủng hộ Hội đồng quân nhân cách mạng. Do đó, ông được Hội đồng Quân nhân Cách mạng thăng cấp Trung tướng. Trung tuần tháng 12 năm 1963, ông được chuyển về giữ chức Tư lệnh Quân đoàn I.

Nhưng chỉ sau đó 3 tháng, ngày 30 tháng 1 năm 1964, được sự ủng hộ của Mỹ và "nhóm các tướng trẻ", ông đã thực hiện cuộc "Chỉnh lý" cướp quyền, truất phế các tướng lĩnh chủ chốt của cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963 là Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân. Ông tự xưng là chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội. Ngày 28 tháng 2 năm 1964, ông phế truất Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ và lên làm Thủ tướng. Ngày 16 tháng 8 năm 1964, ông ban hành "Hiến chương Vũng Tàu", theo đó ông là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa, cũng như là Tổng tư lệnh, kiêm Tổng tham mưu trưởng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Uy quyền của ông lên đến mức tột đỉnh.

Tuy nhiên, ông đã vấp sự phản đối quyết liệt của các đảng phái và quần chúng. Các cuộc biểu tình chống cá nhân ông nổ ra khắp nơi. Ngày 25 tháng 8 năm 1964, hàng chục ngàn người kéo đến nơi ông làm việc, hô "Đả đảo Nguyễn Khánh!". Ông buộc phải ra gặp đoàn biểu tình và cũng hô "đả đảo". Trước áp lực dư luận, ông phải tuyên bố hủy bỏ "Hiến chương Vũng Tàu" và thành lập cơ chế "Tam đầu chế" (còn gọi là Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia) để chia quyền bớt cho các tướng Dương Văn MinhTrần Thiện Khiêm. Đến tháng 9 cùng năm, vai trò Quốc trưởng của ông được giao cho tướng Dương Văn Minh. Ngày 26 tháng 10, Thượng hội đồng Quốc gia được triệu tập và bầu Kỹ sư Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng. Quốc trưởng cũng đã chỉ định ông Trần Văn Hương làm Thủ tướng. Cũng trong tháng này, ông cũng được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng cấp Đại tướng cùng với tướng Dương Văn Minh.

Tình hình miền Nam dưới sự quản lý của tướng Khánh ngày càng loạn lạc: giai đoạn tướng Khánh nắm quyền là giai đoạn nổ ra nhiều cuộc đảo chính nhất. Ngày 13 tháng 9 năm 1964, các tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn thị uy với tướng Khánh. Ngày 19 tháng 2 năm 1965, cuộc đảo chính do tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo cầm đầu, suýt bắt được tướng Khánh. Nhờ sự ủng hộ của nhóm các tướng trẻ, tướng Khánh mới giữ được tình hình.

Năm 1965[sửa | sửa mã nguồn]

Do chủ trương đưa quân Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam và lời tuyên bố "Quân đội là cha quốc gia!"[1][2], uy tín của ông càng lúc càng xuống thấp và ngày càng mất lòng dân. Nhóm các tướng trẻ, do đó, thống nhất truất phế ông. Ngày 25 tháng 2 năm 1965, ông phải nhận chức đại sứ lưu động ở nước ngoài. Trước khi đi, ông còn nắm theo một miếng đất và tuyên bố: "Tôi có mang theo nắm đất quê hương, một ngày nào đó nhất định sẽ trở về". Tuy nhiên, lời tuyên bố này cho đến khi qua đời ông vẫn không thể thực hiện được.

Cuộc sống lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Trong phim tài liệu "Heart & Mind" của đạo diễn Peter Davis do đài BBC Anh quốc sản xuất năm 1974 và đoạt giải Oscar cho phim tài liệu hay nhất năm 1975, Nguyễn Khánh cho biết chính Đại tướng Maxwell D. Taylor của Mỹ đã đích thân ra lệnh cho ông ta phải rời khỏi Việt Nam. Thậm chí, Nguyễn Khánh còn lén ghi âm lại lệnh "lưu đày không chính thức" này của Taylor.

Sau khi rời Việt Nam, ông ở Mỹ một thời gian ngắn. Từ năm 1966, ông sang Pháp bằng trợ cấp dành cho những người từng phục vụ quân đội Pháp ở Đông Dương. Sau năm 1975, ông định cư tại Mỹ, sinh sống bằng nghề kinh doanh xăng dầu và sửa chữa ôtô.[3]

Ngày 2 tháng 1 năm 2005, tại Đại hội quốc dân lần 2 (California, Mỹ), ông được bầu làm Quốc trưởng của Chính phủ lâm thời Việt Nam Tự do ở tuổi gần 80.

Trong cuộc họp báo ngày 17 tháng 8 năm 2008 tại thành phố Garden Grove (Nam California, Mỹ), với danh nghĩa Quốc trưởng Chính phủ lâm thời Việt Nam Tự do, Nguyễn Khánh tuyên bố "sẽ tự giải tán Chính phủ ngay khi một Liên Minh Dân tộc, với sứ mạng bảo vệ chủ quyền đất nước, giành lại tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam được thành lập".[4]

Sau gần 50 năm tha hương ông mất ngày ngày 11 tháng 1 năm 2013 tại San Jose, California, Hoa kỳ. Hưởng thọ 86 tuổi.

Những nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Về đời tư, ông được xem là người con có hiếu nghĩa. Do mẹ ruột là bà Phạm Lệ Trân mất sớm, ông được sự chăm sóc bởi người mẹ kế là nghệ sĩ Phùng Há và chịu nhiều ảnh hưởng của bà. Sau năm 1975, ông ba lần đến cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại Mỹ để xin về Việt Nam (vào các năm 1989, 1997, 1998) để phụng dưỡng bà nhưng đều bị từ chối.[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoành Linh Đỗ Mậu, Việt Nam máu lửa quê hương tôi. Chương XVIII: Ba năm xáo trộn
  2. ^ Đặng Văn Nhâm, Bí Mật Hậu Trường Chính trị Miền Nam 1954-1975. Quyển 3 (2001)
  3. ^ a ă [1]
  4. ^ "Chính phủ Việt Nam Tự Do sẽ tự giải tán để vận động Liên Minh Dân tộc cứu nguy Đất Nước" - Dantoc.net

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trang 99-103.