Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 1 Bộ binh
Việt Nam Cộng hòa
ARVN 1st Division SSI.svg
Phù hiệu Sư đoàn
Hoạt động 1959-1975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Quân chủng Lục quân
Phân loại Bộ binh
Bộ phận của QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và Quân khu 1
Tên khác Cây đèn cầy
Khẩu hiệu Quyết tiến
Tham chiến -Chiến dịch Pegasus (1968)
-Trận Mậu Thân (1968)
-Trận Lam Sơn 719 (1971)
-Trận Quảng Trị (1972)
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Lê Văn Nghiêm
-Nguyễn Khánh
-Tôn Thất Đính
-Nguyễn Văn Thiệu
-Đỗ Cao Trí
-Nguyễn Chánh Thi
-Ngô Quang Trưởng
-Phạm Văn Phú

SƯ ĐOÀN 1 BỘ BINH.

  • Bản doanh: Căn cứ Giạ Lê. Huế, Thừa Thiên[1]

Sư đoàn 1 Bộ binh, là một trong 3 đơn vị Chủ lực quân thuộc Quân đoàn I & Quân khu 1 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được thành lập năm 1955 và giải thể năm 1975. Đây là một đơn vị quân đội lớn, từng tham dự nhiều trận quan trọng trong Chiến tranh Việt Nam, lập được nhiều thành tích, cũng là Sư đoàn giỏi hàng đầu trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Là Sư đoàn Bộ binh đầu tiên mà tất cả quân nhân được mang dây biểu chương ba màu của Bảo Quốc Huân Chương. Đặc biệt, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 của Sư đoàn là đơn vị duy nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhận Presdential Unit Citation của Hoa Kỳ vì thành tích chiến đấu dũng cảm. [1]

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn 1 Bộ binh được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1955 tại Huế, với danh xưng ban đầu là Sư đoàn 21 Bộ binh,[2] do Trung tá Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh đầu tiên. Sư đoàn 21 Bộ binh là biến thân của Liên đoàn Lưu động số 21 được thành lập vào ngày 1 tháng 9 năm 1953 tại Huế. Đến ngày 15 tháng 12 năm 1954, Liên đoàn Lưu động 21 được lệnh giải tán và dùng làm nòng cốt để thành lập Sư đoàn 21 Bộ binh. Ngày 1 tháng 8 năm 1955, Sư đoàn 21 Bộ binh đổi tên là Sư đoàn Dã chiến số 21. Ngày 1 tháng 10 năm 1955 lại đổi thành Sư đoàn Dã chiến số 1.[3]

Cuối năm 1958, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa tái tổ chức các Sư đoàn dã chiến 1, 2, 3, 4 và 6, các Sư đoàn Khinh chiến 11, 12, 13, 14, 15, 16 thuộc Quân đội Quốc gia thành 7 Sư đoàn Bộ binh, gồm Sư đoàn 1, Sư đoàn 2, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 21, Sư đoàn 22Sư đoàn 23. Mỗi sư đoàn với quân số 10.500 quân nhân. [2]. Ngày 1 tháng 12 năm 1958, Sư đoàn 1 Dã chiến chính thức trở thành Sư đoàn 1 Bộ binh.

Sư đoàn 1 Bộ binh là đơn vị thiện chiến, luôn luôn phải đương đầu với đối phương thường xuyên xâm nhập từ phía bắc vĩ tuyến 17. Sư đoàn không một ngày được nghỉ vì đối phương lợi dụng địa thế để quấy phá.

Sư đoàn đã tham gia những trận chiến lớn ở vùng địa đầu giới tuyến. Ngăn chặn và tiêu diệt đối phương đã vượt qua vĩ tuyến 17, lợi dụng biên giới Việt-Lào để đưa quân lấn chiếm tại những nơi như Quốc lộ 9 (đường 9), Cồn Thiên, Khe Sanh, Tchépone, Lao Bảo, Cam Lộ, Ba Lòng, Tà Bạt, Làng Vây, A Sầu, A Lưới, Đông Hà... Những chiến thắng của Sư đoàn 1 Bộ binh không chỉ vang vọng trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa mà còn vượt biên giới tỏa lan khắp Thế giới.[4]

Năm 1972, Sư đoàn đã cùng với hai đơn vị Tổng trừ bị thiện chiến là Sư đoàn Nhảy dù và Thuỷ quân Lục chiến tái chiếm lại Quảng Trị và các địa danh khác mà đối phương đã tạm thời lấn chiếm. Tuy nhiên, do thời cuộc xoay vần vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, cũng như các đơn vị bạn, Sư đoàn đã hoang mang, mất đi tinh thần chiến đấu và sau cùng không tránh khỏi tan rã.

Đơn vị trực thuộc Sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1[5]
Trung đoàn 1
11
Biệt đội Quân báo
2
Trung đoàn 3
12
Biệt đội Kỹ thuật
3
Trung đoàn 51
13
Biệt đội Tác chiến

Điện tử

4
Trung đoàn 54
14
Tiểu đoàn Quân y
5[6]
Đạị đội
Tổng hành dinh
15
Tiểu đoàn Truyền tin
6
Đại đội Trinh sát
Trực tiếp dưới quyền điều động của Tư lệnh Sư đoàn
16
Tiểu đoàn Tiếp vận
7
Đại đội Quân cảnh
17
Tiểu đoàn
Công binh chiến đấu
8
Đại đội Công vụ
18
Trung đoàn Pháo binh
Các Tiếu đoàn: 10 (155ly), 11, 12, 14 (105ly)
9
Đại đội Quân vận
(Quân xa)
19
Thiết đoàn 7
Thuộc Lữ đoàn 1 Kỵ binh. Phối thuộc và dưới quyền điều động của Tư lệnh Sư đoàn
10
Đại đội
Hành chính Tài chính

Bộ Tư lệnh và Trung đoàn[7][sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
1
Nguyễn Văn Điềm
Võ khoa Thủ Đức K4[8]
Chuẩn tướng
Tư lệnh
Ngày 28 tháng 3 năm 1975, di tản từ Non Nước, Đà Nẵng bằng trực thăng để về Quy Nhơn, tới vùng biển Bình sơn, Quảng Ngãi. Bị tử nạn vì máy bay chở nặng rớt xuống biển
2
Trương Tấn Thục
Võ bị Đà Lạt K9
Đại tá
Tư lệnh phó
3
Ngô Văn Lợi
nt
Tham mưu trưởng
4
Võ Toàn
Võ bị Đà Lạt K17
nt
Chỉ huy
Trung đoàn 1
Tử nạn cùng tướng Điềm
5
Huỳnh Như Xuân
Võ bị Đà Lạt K19
Trung tá
Chỉ huy
Trung đoàn 3
6
Nguyễn Bùi Quang
Võ bị Đà Lạt K10
Đại tá
Chỉ huy
Trung đoàn 51
7
Nguyễn Văn Bình
Võ bị Đà Lạt K19
Trung tá
Chỉ huy
Trung đoàn 54

Pháo binh Sư đoàn[9][sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ & Tên Cấp bậc Chức vụ Đơn vị Chú thích
1
Phan Văn Phúc
Võ khoa Thủ Đức K5[10]
Trung tá
Chỉ huy trưởng
Bộ chỉ huy
Pháo binh Sư đoàn
Trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh Quân khu. Phối thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh
2
Nguyễn Phúc Bảo Thái
Thiếu tá
Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 10
Trực thuộc Bộ chỉ huy
Pháo binh Sư đoàn
3
Trần văn Hiệp
Võ bị Đà Lạt K13
Trung tá
nt
Tiểu đoàn 11
nt
4
Trần Như Hòa
Võ khoa Thủ Đức K6
Thiếu tá
nt
Tiểu đoàn 12
nt
5
Nguyễn Khôi
nt
nt
Tiểu đoàn 14
nt

Tư lệnh Sư đoàn qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1
Lê Văn Nghiêm
Sĩ quan Đặc biệt Pháp
Trung tá[11]
1/1955-1/1956
Giải ngũ năm 1965 ở cấp Trung tướng
2
Nguyễn Khánh
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
Đại tá
1/1956-8/1957
Giải ngũ năm 1965 ở cấp Đại tướng và bị lưu vong cùng năm
3
Tôn Thất Đính
Võ bị Huế K1
nt
8/1957-8/1958
Giải ngũ năm 1966 ở cấp Trung tướng, vì liên can đến sự kiện Biến động Miền Trung
4
Nguyễn Văn Chuân
Võ bị Huế K1
nt
8/1958-2/1959
Tư lệnh lần thứ nhất
5
Tôn Thất Xứng
Võ bị Huế K1
nt
2/1959-1/1961
Giải ngũ năm 1967 ở cấp Thiếu tướng
6
Nguyễn Đức Thắng
Võ khoa Nam Định[12]
Trung tá
1/1961-10/1961
Giải ngũ năm 1973 ở cấp Trung tướng
7
Nguyễn Văn Thiệu
Võ bị Huế K1
Đại tá
10/1961-12/1962
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa 2 nhiệm kỳ (1967-1975)
8
Đỗ Cao Trí
Sĩ quan Võ bị
Nước Ngọt Vũng Tàu
nt
12/1962-11/1963
Năm 1971, khi đang là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III bị tử nạn trực thăng. Được truy thăng Đại tướng
9
Nguyễn Văn Hiếu
Võ bị Đà Lạt K3
Trung tá
11/1963-12/1963
(Quyền Tư lệnh)
Ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi đang là Thiếu tướng Tư lệnh Phó Quân đoàn III, tử nạn vì bị cướp cò súng lục. Ngày 10 tháng 4, được truy thăng Trung tướng
10
Trần Thanh Phong
Võ bị Huế K2
Đại tá
11/1963-2/1964
Năm 1972 khi đang là Thiếu tướng Phụ tá Ủy ban Trung ương, đặc trách kế hoạch xây dựng Thị tứ, bị tử nạn trực thăng. Được truy thăng Trung tướng
11
Nguyễn Chánh Thi
Võ bị Địa phương
Nam Việt Vũng Tàu
nt
2/1964-11/1964
Giải ngũ và lưu vong năm 1966 ở cấp Trung tướng, vì liên can đến sự kiện Biến động miền Trung
12
Nguyễn Văn Chuân
Chuẩn tướng
11/1964-3/1966
Tái nhiệm Tư lệnh lần thứ 2. Giải ngũ năm 1966 ở cấp Thiếu tướng
13
Phan Xuân Nhuận
Võ bị Huế K1
nt
3/1966-6/1966
Giải ngũ năm 1966 cùng cấp
14
Ngô Quang Trưởng
Võ khoa Thủ Đức K4
Đại tá
6/1966-8/1970
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I
15
Phạm Văn Phú
Võ bị Đà Lạt K8
Chuẩn tướng
8/1970-11/1972
Tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại Sài Gòn
16
Lê Văn Thân
Võ bị Đà Lạt K7
nt
11/1972-11/1973
Sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân đoàn II
17
Nguyễn Văn Điềm
Đại tá
11/1973-4/1975

Các trận đánh tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 1 Bộ binh cùng Liên đoàn 15 Biệt động quân, chịu trách nhiệm bảo vệ hướng Tây và hướng Nam tỉnh Thừa Thiên. Trong lúc hành quân, Sư đoàn được lệnh rút về cửa Tư Hiền để thực hiện lệnh tái phối trí Quân đoàn I. Theo kế hoạch rút quân, Sư đoàn 1 Bộ binh cùng các đơn vị phụ thuộc sẽ tập hợp tại cửa Tư Hiền, vượt đầm Cầu Hai, qua đèo Hải Vân rồi theo Quốc lộ 1 về Đà Nẵng. [3] Kế hoạch này không tiến hành như dự kiến, vì ngày 21 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 324B và Sư đoàn 325 của Quân đội Nhân dân Việt Nam, cùng Trung đoàn Trị Thiên của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam|Quân Giải phóng miền Nam, đồng loạt tấn công dọc theo tuyến phòng thủ sông Bồ kéo dài đến Phú Lộc. Tại các trận tuyến Mõ Tàu, núi Bông và các cao điểm nơi có mặt Trung đoàn 1, 51, 54 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, giao tranh xảy ra quyết liệt và gây thiệt hại nặng cho các đơn vị tấn công. [4] Khi các đơn vị Sư đoàn 1 Bộ binh về đến cửa Tư Hiền, Duyên đoàn 13 Hải quân chịu trách nhiệm đưa quân qua sông bị khó khăn và không làm tròn trọng trách đó nên Sư đoàn 1 Bộ binh tan hàng tại đây, và chỉ có khoảng 4.000 quân nhân về được đến Đà Nẵng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn, còn gọi là Hậu cứ.
  2. ^ Nghị định số 012-QP/NĐ ngày 17 tháng 1 năm 1955 và Sự vụ văn thư số 474/TTM/1/1/SC ngày 27 tháng 1 năm 1955.
  3. ^ Sự vụ Văn thư số 3975/TTM/1/1/SC ngày 17 tháng 9 năm 1955.
  4. ^ Trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, chỉ có Sư đoàn 1 Bộ binh và Sư đoàn 22 Bộ binh được tổ chức tới 4 Trung đoàn tác chiến trực thuộc. Do Sư đoàn 1 phải trách nhiệm bảo vệ vùng giới tuyến. Còn Sư đoàn 22 thì địa bàn hoạt động quá rộng, phần phải bảo vệ các tỉnh bắc Duyên hải miền Trung và bắc Cao nguyên Trung phần, mặt khác luôn phải đối đầu với đối phương thường xuyên xâm nhập ở vùng Tam biên Việt-Lào-Campuchia.
  5. ^ Từ số 1 đến số 4 là đơn vị Tác chiến trực thuộc Sư đoàn.
  6. ^ Từ số 5 đến số 19 là đơn vị Yểm trợ trực thuộc Sư đoàn
  7. ^ Chức danh Chỉ huy và Tham mưu sau cùng
  8. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan.
  9. ^ Đơn vị Yểm trợ và Chức danh Chỉ huy sau cùng.
  10. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
  11. ^ Cấp bậc khi nhậm chức.
  12. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The 1st ARVN Division, 1st Lt. Robert Gorman, Rendezvous With Destiny Magazine, L Company, 75th Ranger Group, U.S. Army, Winter 1969
  2. ^ "Chiến Tranh Việt Nam Toàn tập," TS Nguyễn Đức Phương, Nhà xuất bản Làng Văn, Toronto, 2001, trang 821.
  3. ^ TS Nguyễn Đức Phương, sđd., trang 845
  4. ^ "Airgram from American Embassy Saigon to Department of State, ngày 6 tháng 2 năm 1973, Subject: Command Histories and Historical Sketches of RVANF Divisions."
  5. ^ TS Nguyễn Đức Phương, sđd., trang 755
  6. ^ Vietnam from Cease-Fire to Capitulation, William E LeGro, GPO, Washington 1981, ch 16
  7. ^ "Bắc hải Vân Xuân 1975", Xuân Thiều, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1977