Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 1 Bộ Binh
ARVN 1st Division SSI.svg
Phù hiệu Sư đoàn
Hoạt động 1959-1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng Hòa
Quân chủng Lục Quân
Phân loại Bộ binh
Bộ phận của Quân đoàn I Việt Nam Cộng Hòa
Tham chiến Sự kiện Tết Mậu Thân (1968)
Chiến dịch Lam Sơn 719 (1971)
Mùa Hè Đỏ Lửa (1972)
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Lê Văn Nghiêm
Nguyễn Khánh
Tôn Thất Đính
Nguyễn Văn Thiệu
Đỗ Cao Trí
Nguyễn Chánh Thi
Ngô Quang Trưởng
Phạm Văn Phú
Lê Văn Thân
Nguyễn Văn Điềm

SƯ ĐOÀN 1 BỘ BINH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

  • Đại bản doanh: Căn cứ Gia Lệ, Cố Đô Huế, tỉnh Thừa Thiên.

Sư đoàn 1 Bộ Binh, là một trong 3 đơn vị chủ lực thuộc Quân đoàn I & Quân khu 1 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập năm 1955 và tan hàng vào tháng 3 năm 1975. Đây là một đơn vị quân đội lớn, từng tham dự nhiều trận đánh quan trọng trong Chiến tranh Việt Nam, lập được nhiều thành tích, cũng là Sư đoàn giỏi hàng đầu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra Đại đội 1 Trinh Sát/Viễn Thám Hắc Báo nổi tiếng thiện chiến với quân số 260 tay súng cũng trực thuộc Sư đoàn. Là Sư đoàn Bộ Binh đầu tiên mà tất cả quân nhân được mang dây biểu chương ba màu Tam Hợp Bảo Quốc Huân Chương. Đặc biệt, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 của Sư đoàn là đơn vị duy nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhận Presdential Unit Citation của Hoa Kỳ vì thành tích chiến đấu dũng cảm. [1] Sư đoàn đã tham gia những trận chiến lớn ở vùng hỏa tuyến đối đầu với Bắc quân qua sông Bến Hải với những địa danh như Quốc lộ 9, Cồn Thiên, Khe Sanh, Tchépone, Lao Bảo, Cam Lộ, Ba Lòng, Tà Bạt, Làng Vây, A Shầu, A Lưới, Đông Hà. Những chiến thắng của Sư đoàn 1 Bộ Binh không chỉ vang vọng trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, mà còn vượt biên giới tỏa khắp thế giới. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời thập niên 1970 đã tuyên bố: “Sư đoàn 1 Bộ Binh là một sư đoàn thiện chiến nhất trên thế giới”. Tướng Vanuxem của Pháp ca ngợi tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Sư đoàn 1 Bộ Binh đã vượt ngoài sức tưởng tượng của thế giới. Những lời khen ấy không phải phản ảnh từ lời lẽ ngoại giao chiếu lệ, vì bản chất tự thân người Mỹ và người Pháp rất cao ngạo, ngoài dân tộc và quân lực của họ, thì họ không thể thấy một quân lực nào vượt trội hơn. Nhưng khi họ đã thành tâm nghiêng mình ca tụng một quân lực của một quốc gia nhỏ bé, thì những lời ấy là những lời thật lòng từ tận đáy thâm tâm. Sư đoàn 1 Bộ Binh với tên gọi khác là Sư đoàn Cây Đèn Cầy là hình ảnh bảo bọc Huế cùng với mọi nơi vùng địa đầu giới tuyến trong suốt 20 năm dài khói lửa chinh chiến điêu linh.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn 1 Bộ Binh * được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1955 tại Huế, với danh xưng ban đầu là Sư đoàn 21 Bộ Binh (Nghị định số 012-QP/NĐ ngày 17 tháng 1 năm 1955 và Sự vụ văn thư số 474/TTM/1/1/SC ngày 27 tháng 1 năm 1955) do Trung tá Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh đầu tiên.

  • * Sư đoàn 21 Bộ Binh là biến thân của Liên đoàn Lưu động số 21 được thành lập vào ngày 1 tháng 9 năm 1953 tại Huế. Đến ngày 15 tháng 12 năm 1954, Liên đoàn Lưu động 21 được lệnh giải tán và dùng làm nòng cốt để thành lập Sư đoàn 21 Bộ Binh.

Ngày 1 tháng 8 năm 1955, Sư đoàn 21 Bộ Binh đổi tên là Sư đoàn Dã Chiến 21, ngày 1 tháng 10 năm 1955 lại đổi thành Sư đoàn Dã Chiến số 1 (Sự vụ văn thư số 3975/TTM/1/1/SC ngày 17 tháng 9 năm 1955)

Cuối năm 1958, Bộ Tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tái tổ chức các Sư đoàn Dã Chiến 1, 2, 3, 4 và 6, các Sư đoàn Khinh Chiến 11, 12, 13, 14, 15, 16 thuộc Quân đội Quốc gia thành 7 Sư đoàn Bộ Binh, gồm Sư đoàn 1, Sư đoàn 2, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 21, Sư đoàn 22Sư đoàn 23. Mỗi sư đoàn với quân số 10.500 quân nhân. [2]

Ngày 1-12-1958, Sư đoàn 1 Dã Chiến chính thức với tên gọi Sư đoàn 1 Bộ Binh.

Ngày 16 tháng 7 năm 1966, sau khi xác nhận các đơn vị và quân số của đối phương, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân Lam Sơn 289 hay chiến dịch Hastings gồm 5 tiểu đoàn Bộ Binh thuộc Sư đoàn 1 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, 5 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, 1 tiểu đoàn Đổ Bộ đặc biệt thuộc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại khu vực Tây-Nam sông Bến Hải. Lực lượng Việt-Mỹ có quân số lên đến 16.000 quân tham chiến trên mặt đất. Đại tướng Westmoreland cung cấp toàn bộ hỏa lực pháo binh, hỏa lực hải quân và không quân tại Quảng Trị cho chiến dịch này. Tất cả lực lượng tham chiến lẫn yểm trợ đều đặt dưới sự điều động của Quân đoàn I Việt Nam Cộng Hòa do Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm chỉ huy. Đây là cuộc hành quân quy mô lớn đầu tiên tại chiến trường Quảng Trị.

Ngày 21/7/1966, Quân đội Nhân Dân Việt Nam điều động Sư đoàn 324B cùng với Lữ đoàn Giới Tuyến vượt sông Bến Hải tăng viện cho các đơn vị đang tham chiến chống lại cuộc hành quân của QLVNCH và Quân Lực Hoa Kỳ đang đánh bật các tiểu đoàn QĐNDVN cố thủ khỏi vị trí. Ngày 30/6/1966, 30 phi tuần B-52 xuất phát từ đảo Guam ném bom dọc khu Phi Quân sự (DMZ), liên tục ném trúng đích vào đội hình phòng ngự của QĐNDVN, gây thương vong nặng nề.

Sau 19 ngày chiến đấu từ 16/7 - 3/8/1966, cuộc hành quân Lam Sơn 289 kết thúc với 883 quân Bắc Việt (đếm xác) tử trận, 15 bị bắt, 228 vũ khí cá nhân và 28 súng cộng đồng bị tịch thu, phía liên quân Việt-Mỹ tổn thất 72 tử trận và 153 bị thương.

Ngày 14/9/1966, TQLC Hoa Kỳ phối hợp với Sư đoàn 1 Bộ Binh mở chiến dịch Prairie nhằm thanh tảo toàn bộ khu vực Phi Quân sự, 1 ngày sau, Bộ Tư lệnh Đặc Nhiệm số 3 Hoa Kỳ huy động 12.000 TQLC khởi động chiến dịch Deck House Quage phối hợp với 11.000 quân Việt-Mỹ đang thực hiện chiến dịch Prairie, truy quét các lực lượng đối phương từ Cửa Việt đến Tây Nam sông Bến Hải, buộc các đơn vị QĐNDVN phải rút qua phía bên kia khu vực vĩ tuyến 17. Phía Nam sông Bến Hải, toàn tuyến phòng thủ trước ngày 16/7 được khôi phục hoàn toàn.

Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1967, Trung đoàn 2 Bộ Binh cùng với TQLC Hoa Kỳ tham gia một loạt các trận đánh lớn ở vùng Phi Quân sự (DMZ) phản công lại cuộc tiến quân vượt qua vĩ tuyến 17 của Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 QĐNDVN được sự yểm trợ của pháo tầm xa đặt ở Vĩnh Linh, phía Bắc vĩ tuyến 17. Tại các khu vực Gio Linh, Cồn Thiện, Cồn Tiên, Trung Lương chứng kiến những trận chiến ác liệt giữa 2 phe tham chiến. Các đơn vị tham chiến đã gây thiệt hại nặng nề cho quân tấn công nhờ sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh mặt đất trong đó có các pháo đội 175 ly đặt ở Cam Lộ và Đông Hà, hải pháo và máy bay ném bom chiến lược.

Tết Mậu Thân năm 1968, Trung đoàn 3 cùng với các tiểu đoàn 1/1, 2/1, 2/2, 4/2, đại đội Hắc Báo và các chi đoàn 2/7, 3/7 trực thuộc Sư đoàn và Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù gồm các tiểu đoàn 2, 7, 9 giữ vững Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh tại đồn Mang Cá và các khu vực lân cận xung quanh. Sau đó Trung đoàn 3 cùng với Chiến đoàn A Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa, 2 tiểu đoàn Biệt Động Quân 21 và 39, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ giải tỏa thành công Cố Đô Huế và truy quét tàn quân của đối phương. Tháng 4/1968, Sư đoàn cùng với Sư đoàn 101 Không Vận Hoa Kỳ mở một loạt chiến dịch truy quét phía Tây Thừa Thiên, vùng thung lũng A Shầu.

Ngày 7/2/1969, Tiểu đoàn 2/3 phối hợp với tiểu đoàn 3/3 chạm súng nặng với một trung đoàn chủ lực QĐNDVN không rõ phiên hiệu tại Tây Bắc Thừa Thiên, gây tổn thất nặng cho trung đoàn này với 247 tử trận và 11 tù binh, tịch thu được 109 vũ khí trong đó có 18 vũ khí cộng đồng, phía VNCH thương vong 57 tử trận và 107 bị thương.

Ngày 6/4/1969, tiểu đoàn 1/2 phục kích một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 304 đang tìm cách xâm nhập vào Gio Linh, gây thiệt hại cho tiểu đoàn với 55 chết và 7 tù binh, tịch thu 23 vũ khí cá nhân. Phía VNCH có 18 tử trận và 41 bị thương.

Tháng 5 năm 1969, Trung đoàn 3 cùng với tiểu đoàn 2/1 và tiểu đoàn 4/1 thuộc Trung đoàn 1 tham gia chiến dịch Apache Snow nằm trong 1 loạt các trận đánh ở các Cao điểm 900, 916, 935, 937, 991, đỉnh núi A Bia tại vùng thung lũng mắt xích A Shầu cùng với Sư đoàn 101 Không Vận Hoa Kỳ. Tiểu đoàn 2/1 và 4/1 tham gia hỗ trợ bảo vệ 2 căn cứ hỏa lực yểm trợ trực tiếp cho chiến dịch của Lữ đoàn 3 Dù Hoa Kỳ còn Tiểu đoàn 2/3 Bộ Binh tham gia cuộc đột kích cuối cùng để chiếm ở Cao điểm 937 hay còn gọi là Đồi Thịt Băm. Tiểu đoàn đã chiếm thành công đỉnh đồi 937 và cắm cờ lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng 5 năm 1969 trước khi bàn giao cho Tiểu đoàn 3, trung đoàn 187, Lữ đoàn 3 Dù lúc 17 giờ chiều cùng ngày sau khi tiêu diệt tuyến phòng ngự của QĐNDVN.

Ngày 11/10/1969, tiểu đoàn 4/3 tham gia giải vây 1 trại Lực lượng Đặc Biệt tại Tây Bắc Thừa Thiên.

Ngày 24/11/1969, tiểu đoàn 3/1 mở cuộc đột kích binh trạm 92, tuy nhiên lại chạm súng nặng nề với lực lượng bảo vệ binh trạm này, buộc phải rút lui mà không đạt được mục tiêu là phá hủy binh trạm này, tuy nhiên cũng gây thương vong cho phía QĐNDVN là 38 chết và 18 bị thương còn phía VNCH thương vong 8 chết và 11 bị thương.

Năm 1970, Sư đoàn tiếp nhận thêm Trung đoàn 54 Bộ Binh độc lập và trở thành trung đoàn thứ tư của Sư đoàn.

Năm 1971, Sư đoàn tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 với 3 trung đoàn gồm 1, 2, 3 Bộ Binh (Trung đoàn 54 Bộ Binh không tham gia trận này mà ở lại bảo vệ vùng hậu cứ Thừa Thiên) với mục tiêu là phá hủy đường mòn Hồ Chí Minh nhằm triệt tiêu con đường tiếp vận khổng lồ của quân đội Bắc Việt vào chiến trường miền Nam với nhiều vũ khí tối tân đủ loại bên cạnh Sư đoàn Dù, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên đoàn 1 Biệt Động Quân thuộc Quân đoàn I. Tiểu đoàn 2/2 do Trung tá Trần Ngọc Huế, người hùng của Tết Mậu Thân 1968 cùng với tiểu đoàn 4/2 được 120 trực thăng UH-1 Huey mang 1.200 quân không vận nhảy vào thành phố Tchépone phá hủy các kho tàng chứa lương thực và vũ khí đủ loại tối tân lên tới hàng ngàn tấn. Sau đó Sư đoàn chạm súng nặng nề với các sư đoàn 2, 304, 308, 324B và các đơn vị tăng cường với quân số lên đến hơn 40.000 quân đang tiến hành bao vây sư đoàn. Trung đoàn 1 Bộ Binh do Đại tá Nguyễn Văn Điềm chỉ huy bị vây khốn ở bãi đáp Lolo. Sau 10 ngày chiến đấu ác liệt trong điều kiện bị vây hãm và dưới dàn hỏa lực pháo binh khủng khiếp của phía Quân đội Nhân Dân Việt Nam, Trung đoàn 1 được di tản khẩn cấp bằng trực thăng UH-1 Huey và CH-47 Chinook. Tiểu đoàn 4/1 do Trung tá Lê Huấn chỉ huy nhận lãnh trách nhiệm đoạn hậu cho Trung đoàn rút lui, tiểu đoàn chịu tổn thất nặng nề khi chỉ còn 63/600 tay súng về tới Việt Nam, nhiều trực thăng của Lục quân Hoa Kỳ cũng bị bắn hạ do lưới lửa từ các dàn pháo phòng không đủ tầm bao vây xung quanh khu vực. Cũng trong trận chiến này, Trung tá tá Lê Huấn, khóa K18 Đà Lạt, người hùng của Trung đoàn 1 Bộ Binh đã anh dũng tử trận bên cạnh tiểu đoàn phó và các sĩ quan, binh sĩ dưới quyền khác.

Sau khi về Việt Nam, Sư đoàn đã tham gia ngay hai cuộc hành quân Lam Sơn 720 và 810 cùng với Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam giải tỏa Động A Tây do Trung đoàn 6 Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm đóng trước đó. Cuộc tái chiếm diễn ra ác liệt, sau 5 ngày chiến đấu, Động A Tây hoàn toàn được giải tỏa, phía VNCH thu hồi được hơn 100 thi hài quân bạn, tổn thất 116 tử trận và 158 bị thương, phía QĐNDVN có 402 tử trận (đếm xác) và 22 bị bắt làm tù binh, tịch thu 293 vũ khí cá nhân và 47 vũ khí cộng đồng. Ngày 26/6/1971, Đại đội Hắc Báo trực thuộc Sư đoàn tiến hành tấn công chớp nhoáng Binh trạm 106 tại thung lũng A Shầu, phá hủy các kho tàng chứa vũ khí và lương thực, tiêu diệt lực lượng bảo vệ binh trạm này và rút ra thành công mà không phải chịu tổn thất nào. Cũng trong năm này, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh liên tiếp đạt từ thành công này đến thành công khác ở vùng hỏa tuyến.

Ngày 1/10/1971, Sư đoàn 3 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, nhận lãnh trách nhiệm trấn đóng vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn 1 Bộ Binh lui về phòng thủ tiểu khu Thừa Thiên, Sư đoàn 1 nhận lệnh chuyển Trung đoàn 2 Bộ Binh đang trấn đóng ở giới tuyến làm nòng cốt của Sư đoàn 3 Bộ Binh.

Năm 1972, Sư đoàn tham gia Chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa, lúc này Trung đoàn 51 Bộ Binh độc lập đang hoạt động ở vùng Quảng Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng) được lệnh sát nhập vào Sư đoàn, Sư đoàn chính thức có 4 trung đoàn trực thuộc gồm trung đoàn 1, 3, 51, 54 cho đến khi tan hàng năm 1975. Sư đoàn tham gia các chiến dịch tái chiếm một loạt cứ điểm, các điểm cao và thung lũng có thể quan sát toàn bộ tuyến chuyển vận huyết mạch của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào miền Nam, những trận đánh đẫm máu không kém hai sư đoàn đang hoạt động ở phía Bắc là sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến đang tiến lên tái chiếm Cổ thành Quảng Trị.

Đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • *Từ "Đại đội Tổng hành dinh" đến "Thiết đoàn Kỵ binh" được gọi là "Đơn vị Yểm trợ" trực thuộc Sư đoàn
TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1
Trung đoàn 1

Bộ binh

11
Biệt đội Quân báo
2
Trung đoàn 3

Bộ binh

12
Biệt đội Kỹ thuật
3
Trung đoàn 51

Bộ binh

13
Biệt đội Tác chiến

Điện tử

4
Trung đoàn 54

Bộ binh

14
Tiểu đoàn Quân y
5
Đạị đội*

Tổng hành dinh

15
Tiểu đoàn Truyền tin
6
Đại đội Trinh sát
Trực tiếp dưới quyền điều động của Tư lệnh Sư đoàn
16
Tiểu đoàn Tiếp vận
7
Đại đội Quân cảnh
17
Tiểu đoàn

Công binh chiến đấu

8
Đại đội Công vụ
18
Trung đoàn

Pháo binh

Các Tiếu đoàn: 10 (155ly), 11, 12, 14 (105ly)
9
Đại đội Quân vận

(Quân xa)

19
Thiết đoàn 7

Kỵ binh

Thuộc Lữ đoàn 1 Kỵ binh. Biệt phái, dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Sư đoàn
10
Đại đội

Hành chính Tài chính

Bộ Tư lệnh & Trung đoàn trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:
TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
1
Nguyễn Văn Điềm

Sĩ quan Thủ Đức K4

Chuẩn tướng
Tư lệnh
Ngày 29-3-1975, di tản từ Non Nước, Đà Nẵng bằng trực thăng để về Quy Nhơn, tới vùng biển Bình sơn, Quảng Ngãi. Bị tử nạn vì máy bay chở nặng rớt xuống biển
2
Trương Tấn Thục

Võ bị Đà Lạt K9

Đại tá
Tư lệnh phó
3
Ngô Văn Lợi
nt
Tham mưu trưởng
4
Võ Toàn

Võ bị Đà Lạt K17

nt
Chỉ huy

Trung đoàn 1

Tử nạn cùng Tướng Điềm
5
Huỳnh Như Xuân

Võ bị Đà Lạt K19

Trung tá
Chỉ huy

Trung đoàn 3

6
Nguyễn Bùi Quang

Võ bị Đà Lạt K10

Đại tá
Chỉ huy

Trung đoàn 51

7
Nguyễn Văn Bình

Võ bị Đà Lạt K19

Trung tá
Chỉ huy

Trung đoàn 54

Pháo binh Sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đơn vị Yểm trợ
  • Chức danh Chỉ huy sau cùng:
TT Họ & Tên Cấp bậc Chức vụ Đơn vị Chú thích
1
Phan Văn Phúc
Trung tá
Chỉ huy trưởng
Bộ chỉ huy
Pháo binh Sư đoàn
(Tiểu đoàn 10, 11, 12, 14)
Trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh Quân khu. Phối thuộc Sư đoàn 1 bộ binh
2
Bảo Thái
Thiếu tá
Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 10
Trực thuộc Bộ chỉ huy Sư đoàn
3
Trần văn Hiệp
Trung tá
nt
Tiểu đoàn 11
nt
4
Trần Như Hòa
Thiếu tá
nt
Tiểu đoàn 12
nt
5
Nguyễn Khôi
nt
nt
Tiểu đoàn 14
nt

Tư lệnh Sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 17 vị Tư lệnh
  • * Tướng Nguyễn Văn Chuân 2 lần được bổ nhiệm làm Tư lệnh
TT Họ & Tên Cấp bậc
tại nhiệm
Thời gian
tại chức
Chú thích
1
Lê Văn Nghiêm
Sĩ quan Đặc biệt Pháp
Trung tá
(1953)
Đại tá
(1/1955)
Thiếu tướng
(11/1955)
1/1955-1/1956
Giải ngũ năm 1965 ở cấp Trung tướng
2
Nguyễn Khánh

Võ bị Viễn Đông

Đại tá
(1955)
1/1956-8/1957
Giải ngũ năm 1965 ở cấp Đại tướng và bị lưu vong cùng năm
3
Tôn Thất Đính

Võ bị Huế K1

Đại tá
(1955)
8/1957-8/1958
Giải ngũ năm 1966 ở cấp Trung tướng, vì liên quan đến sự kiện Biến động Miền Trung
4
Nguyễn Văn Chuân

Võ bị Huế K1

Đại tá
(7/1958)
8/1958-2/1959
Tư lệnh lần thứ nhất
5
Tôn Thất Xứng

Võ bị Huế K1

Đại tá
(1958)
2/1959-1/1961
Giải ngũ năm 1967 ở cấp Thiếu tướng
6
Nguyễn Đức Thắng

Sĩ quan Nam Định

Trung tá
(1958)
Đại tá
(2/1961)
1/1961-10/1961
Giải ngũ năm 1973 ở cấp Trung tướng
7
Nguyễn Văn Thiệu

Võ bị Huế K1

Đại tá
(1959)
10/1961-12/1962
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa 2 nhiệm kỳ (1967-1975)
8
Đỗ Cao Trí

Nước Ngọt Vũng Tàu

Đại tá
(1956)
Thiếu tướng
(7/1963)
12/1962-11/1963
Năm 1971, khi đang là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III bị tử nạn trực thăng. Được truy thăng Đại tướng
9
Nguyễn Văn Hiếu

Võ bị Đà Lạt K3

Trung tá
(1963)
11/1963-12/1963

(Quyền Tư lệnh)

Ngày 8/4/1975 khi đang là Thiếu tướng Tư lệnh phó Quân đoàn III, bị tử nạn vì bị cướp cò súng lục. Ngày 10/4 được truy thăng Trung tướng
10
Trần Thanh Phong

Võ bị Huế K2

Đại tá
(1963)
11/1963-2/1964
Năm 1972 khi đang là Thiếu tướng bị tử nạn trực thăng. Được truy thăng Trung tướng
11
Nguyễn Chánh Thi

Địa phương Vũng Tàu

Đại tá
(1959)
Chuẩn tướng
(5/1964)
Thiếu tướng
(10/1964)
2/1964-11/1964
Giải ngũ và lưu vong năm 1966 ở cấp Trung tướng, vì liên quan đến sự kiện Biến động miền Trung
12
Nguyễn Văn Chuân
Chuẩn tướng
(8/1964)
Thiếu tướng
(11/1965)
11/1964-3/1966
Tái nhiệm Tư lệnh lần thứ 2. Giải ngũ năm 1966 ở cấp Thiếu tướng
13
Phan Xuân Nhuận

Võ bị Huế K1

Chuẩn tướng
(1/1966)
3/1966-6/1966
Giải ngũ năm 1966 nguyên cấp
14
Ngô Quang Trưởng

Sĩ quan Thủ Đức K4

Đại tá
(6/1966)
Chuẩn tướng
(2/1967)
Thiếu tướng
(6/1968)
6/1966-8/1970
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I
15
Phạm Văn Phú

Võ bị Đà Lạt K8

Chuẩn tướng
(4/1969)
Thiếu tướng
(4/1971)
8/1970-11/1972
Tự sát ngày 30/4/1975 ở cấp Thiếu tướng
16
Lê Văn Thân

Võ bị Đà Lạt K7

Chuẩn tướng
(11/1972)
11/1972-11/1973
Sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân đoàn II
17
Nguyễn Văn Điềm
Đại tá
(10/1970)
Chuẩn tướng
(4/1974)
11/1973-4/1975

Các trận đánh tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 1 Bộ Binh cùng Liên đoàn 15 Biệt Động Quân, chịu trách nhiệm bảo vệ hướng Tây và hướng Nam tỉnh Thừa Thiên. Trong lúc hành quân, Sư đoàn được lệnh rút về cửa Tư Hiền để thực hiện lệnh tái phối trí Quân đoàn I. Theo kế hoạch rút quân, Sư đoàn 1 Bộ Binh cùng các đơn vị trực thuộc tăng phái sẽ tập hợp tại cửa Tư Hiền, vượt đầm Cầu Hai, qua đèo Hải Vân rồi theo Quốc lộ 1 về Đà Nẵng. [3] Kế hoạch này không tiến hành như dự kiến, vì ngày 21 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 324B và Sư đoàn 325 của Quân đội Nhân dân Việt Nam, cùng Trung đoàn Trị Thiên của Quân Giải Phóng Miền Nam, đồng loạt tấn công dọc theo tuyến phòng thủ sông Bồ kéo dài đến Phú Lộc. Tại các trận tuyến Mõ Tàu, núi Bông và các cao điểm nơi có mặt Trung đoàn 1, 51, 54 thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh, giao tranh xảy ra quyết liệt và Sư đoàn 1 đã gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công. [4] Khi các đơn vị Sư đoàn 1 Bộ Binh về đến cửa Tư Hiền, Duyên đoàn 13 Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chịu trách nhiệm đưa quân qua sông gặp khó khăn do biển động mạnh và sóng quá lớn khiến Duyên đoàn không thể làm tròn trọng trách đó nên Sư đoàn 1 Bộ Binh tan rã tại đây, và chỉ có khoảng 4.000 quân nhân về được đến Đà Nẵng. Đến ngày 1/4/1975, sau khi đánh 1 loạt trận chiến cuối cùng xung quanh và trong thành phố Đà Nẵng, Sư đoàn 1 Bộ Binh đã tan hàng tại Đà Nẵng sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ vùng địa đầu giới tuyến của Miền Nam Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The 1st ARVN Division, 1st Lt. Robert Gorman, Rendezvous With Destiny Magazine, L Company, 75th Ranger Group, U.S. Army, Winter 1969
  2. ^ "Chiến tranh Việt Nam Toàn tập," TS Nguyễn Đức Phương, Nhà xuất bản Làng Văn, Toronto, 2001, trang 821.
  3. ^ TS Nguyễn Đức Phương, sđd., trang 845
  4. ^ "Airgram from American Embassy Saigon to Department of State, ngày 6 tháng 2 năm 1973, Subject: Command Histories and Historical Sketches of RVANF Divisions."
  5. ^ TS Nguyễn Đức Phương, sđd., trang 755
  6. ^ Vietnam from Cease-Fire to Capitulation, William E LeGro, GPO, Washington 1981, ch 16
  7. ^ "Bắc hải Vân Xuân 1975", Xuân Thiều, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1977

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thuỵ Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa 2011