Lực lượng Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
BIỆT ĐỘNG QUÂN
Việt Nam Cộng hòa
Vietnamese Rangers SSI.svg
Phù hiệu
Hoạt động 19601975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Quân chủng Quân thường trực
Phân loại -Chủ lực quân
-Lực lượng Tổng trừ bị
Tên khác Cọp Rằn
Khẩu hiệu Vì dân quyết chiến
Tham chiến -Trận Bình Giã
-Trận Đồng Xoài
-Trận Mậu Thân
-Chiến dịch Campuchia
-Chiến dịch Lam Sơn 719
-Mùa hè đỏ lửa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Lữ Đình Sơn
-Tôn Thất Xứng
-Phan Đình Thứ
-Phan Xuân Nhuận
-Trần Văn Hai
-Trần Công Liễu
-Đỗ Kế Giai
Hiệu kỳ
Lệnh kỳ

Biệt động quân (Tiếng Anh: Vietnamese Rangers Corp, VNRC) là một Binh chủng Đặc biệt của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, gồm những đơn vị Bộ binh tinh nhuệ, được huấn luyện để thực thi các nhiệm vụ tấn công và truy kích cơ động với lực lượng đối phương, chủ yếu bằng trực thăng vận. Biệt động quân cũng là lực lượng cơ sở hình thành từ nhiều đơn vị tinh nhuệ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khái niệm thuật ngữ quân sự Việt Nam Cộng hòa, Biệt động quân tương ứng với Lực lượng Ranger trong Lục quân Hoa Kỳ. Ngoài ra, một số lực lượng chuyên biệt khác có đặc điểm gần giống như Biệt động quân nhưng có chức năng hoạt động khác như Biệt kích (Commando), Lực lượng Đặc biệt (Special Force) Biệt cách dù (Airbone Ranger). Hầu hết các lực lượng này đều có nguồn gốc từ Biệt động quân và về sau hình thành những Binh chủng riêng biệt trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Tiền thân[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1956, sau khi tiếp nhận căn cứ GCMA (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés, Lực lượng Biệt kích không vận hỗn hợp) của Pháp tại Nha Trang, với sự trợ giúp của Phái bộ Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group - MAAG) Mỹ tại Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội, nhằm xây dựng cơ sở huấn luyện Biệt kích cho Việt Nam Cộng hòa. Về tổ chức, Trung tâm này được đặt dưới quyền quản lý của Nha Tổng Nghiên Huấn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa, về sau chuyển thuộc Sở Liên lạc, trực thuộc Phủ Tổng thống, có trách nhiệm huấn luyện các toán Biệt kích phá hoại, Thám sát, Trinh sát và Viễn thám làm nhiệm vụ xâm nhập sâu vào lãnh thổ miền Bắc.

Hoạt động của Sở Liên lạc do Cố vấn Ngô Đình Nhu trực tiếp chỉ đạo, các sĩ quan Việt Nam chỉ huy, riêng các hoạt động Biệt kích đều do các cố vấn Mỹ trực tiếp quản lý, điều hành và huấn luyện[1]. Toàn bộ thành viên người Việt của các toán Biệt kích đều là người gốc miền Bắc, gồm cả quân sự lẫn dân sự, trong đó có một số lượng lớn là người dân tộc thiểu số. Các toán Biệt kích này được tổ chức thành một đơn vị ngụy trang dưới tên gọi Liên đội Quan sát số I,[1], về sau được nâng lên cấp Liên đoàn, tương đương cấp Trung đoàn.

Thành lập Binh chủng và đảo chính 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Mậu Thân

Để tăng cường khả năng tác chiến của Quân đội Việt Nam Cộng hòa trước chiến thuật du kích của những người Cộng sản kể từ sau phong trào Đồng khởi, ngày 16 tháng 2 năm 1960, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ thị thành lập các Đại đội Biệt động quân, tuyển chọn binh sĩ của các Sư đoàn Bộ binh và Quân khu, Binh chủng Nhảy dù và Thủy quân Lục chiến, huấn luyện kỹ năng hành quân độc lập, tác chiến chống du kích. Một số sĩ quan người Việt thuộc Liên đoàn Quan sát số I được chuyển sang làm thành phần nòng cốt của Biệt động quân. Chiến thuật tác chiến ban đầu của các Đại đội Biệt động quân chủ yếu là trang bị vũ khí gọn nhẹ với quần áo bà ba đen, cơ động truy kích và tiêu diệt các đơn vị du kích Cộng sản hoạt động trên địa bàn.

Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân đầu tiên là trường Biệt động đội Đồng Đế, đặt tại Nha Trang, về sau đổi thành Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Nha Trang, chuyên huấn luyện cho sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc Quân đoàn II. Cuối tháng 4 năm 1960, hai Trung tâm huấn luyện Biệt động quân mới được thành lập, một tại Đà Nẵng để huấn luyện cho sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc Quân đoàn I, một tại Sông Mao huấn luyện cho sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Quân đoàn III và Quân đoàn IV. Ngoài ra, còn có 2 Trung tâm Huấn luyện khác là Trung Hòa và Thất Sơn, chuyên huấn luyện tác chiến cấp Đại đội. Khác với các toán Biệt kích của Liên đoàn Quan sát số I do các cố vấn CIA trực tiếp quản lý, điều hành và huấn luyện, các toán Biệt động quân do các sĩ quan và hạ sĩ quan người Việt huấn luyện với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự của Phái bộ Cố vấn Quân sự Mỹ (Military Assistance Advisory Group - MAAG).

Ngày 1 tháng 7 năm 1960, Lực lượng Biệt động quân được chính thức thành lập, do Thiếu tá Lữ Đình Sơn làm Chỉ huy trưởng. Quân phục chính thức của Lực lượng Biệt động quân cũng chuyển sang quân phục rằn ri đốm hoa với mũ nồi nâu. Mặc dù hình thành Bộ chỉ huy riêng, nhưng trên thực tế, các Đại đội Biệt động quân tác chiến theo sự chỉ huy của các Tư lệnh Sư đoàn hoặc Tiểu khu trưởng tại địa bàn hoạt động. Bộ Chỉ huy Trung ương chỉ có nhiệm vụ quản trị, điều hành, bổ sung quân số, huấn luyện, trang bị, thanh tra, theo dõi, thống kê, báo cáo các hoạt động của các đơn vị Biệt động quân trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa.

Do tính chất này, khi cuộc đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960 nổ ra, mặc dù Chỉ huy trưởng Biệt động quân là Thiếu tá Lữ Đình Sơn bị 2 cấp phó là Thiếu tá Phan Trọng Chinh và Đại úy Phan Lạc Tuyên tước quyền chỉ huy và nắm lấy quyền điều động một số Đại đội Biệt động quân gần Đô thành Sài Gòn tham gia đảo chính, hầu hết các đơn vị Biệt động quân khác vẫn thuộc quyền của các đơn vị Sư đoàn và Tiểu khu, vẫn trung thành với Tổng thống Diệm và tham gia hành quân phản đảo chính. Nhờ vào hành động này mà Thiếu tá Lữ Đình Sơn không bị truy cứu trách nhiệm và vẫn được giữ chức Chỉ huy trưởng cho đến năm 1962.

Cải tổ lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù vậy, hoạt động của những người Cộng sản vẫn không ngừng tăng lên. Ngày 15 tháng 2 năm 1961, các đơn vị vũ trang Cộng sản thống nhất thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, thành lập các đơn vị quân sự chính quy. Trước quy mô chiến tranh mở rộng, ngày 1 tháng 8 năm 1961, các Trung tâm Huấn luyện Đà Nẵng, Nha Trang, Sông Mao được hợp nhất thành Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Các trung tâm Trung Hòa và Thất Sơn cũng được sát nhập thành Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Trung Lập để có thể huấn luyện quy mô cấp Tiểu đoàn. Đầu năm 1962, các Đại đội Biệt động quân thuộc quyền các Tiểu khu được thu hồi để thành lập 3 Tiểu đoàn đặt dưới quyền các Quân khu là Tiểu đoàn 10 (Quân khu 1), Tiểu đoàn 20 (Quân khu 2) và Tiểu đoàn 30 (Biệt khu Thủ đô), sau đổi tên thành Tiểu đoàn 11, 21 và 31 để tương ứng với thứ tự từng vùng chiến thuật.

Sau những rối ren chính trị, từ năm 1965, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đi vào sự ổn định tương đối. Đến cuối năm 1965, các Đại đội Biệt động quân độc lập còn lại cũng được bổ sung và tổ chức lại thành 17 Tiểu đoàn Biệt động quân. Từ năm 1966, Lực lượng Biệt động quân tiếp tục được cải tổ để thành lập các Liên đoàn Biệt động quân (gồm các Liên đoàn 1, 2, 3, 4, và 5), đặt trực thuộc các Quân đoàn. Nhiệm vụ của Lực lượng Biệt động quân cũng thay đổi, trở thành các đơn vị trừ bị, có khả năng cơ động nhanh, đối tượng tác chiến không còn là các toán du kích nhỏ mà là các đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng cấp Trung đoàn. Liên đoàn 6 được thành lập vào năm 1968.

Tính đến giữa năm 1969, Lực lượng Biệt động quân được tổ chức 6 Liên đoàn, trong đó có Liên đoàn 5 và 6 là Lực lượng Tổng trừ bị cho Bộ Tổng tham mưu, dưới sự điều hành của Bộ chỉ huy Biệt động quân Trung ương. Các Liên đoàn 1, 2, 3 và 4 là đơn vị Tổng trừ bị cho 4 Quân khu, với sự điều hành của 4 Bộ chỉ huy Biệt động quân Quân khu và dưới quyền điều động trực tiếp của các Tư lệnh Quân đoàn I, II, III và IV. Năm 1973, thành lập Liên đoàn 7 làm đơn vị Tổng trừ bị cho Bộ Tổng tham mưu.

Biệt động quân Biên phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối năm 1961, CIA đã xây dựng một kế hoạch mang tên "Chương trình Phòng vệ xóm làng" (Village Defense Program - VDP) nhằm tách rời các buôn làng dân tộc thiểu số khỏi ảnh hưởng tuyên truyền của những người Cộng sản; đồng thời xây dựng một lực lượng vũ trang gồm người dân tộc thiểu số để làm tăng thêm khả năng chống xâm nhập của những người Cộng sản vào những khu vực hẻo lánh, tăng khả năng kiểm soát chiến tranh ở vùng Cao nguyên.

Chương trình này dẫn đến việc hình thành các trại Biệt kích Dân sự ở Cao nguyên, chuyên thực hiện các nhiệm vụ phá hoại, ngăn chặn đường xâm nhập của các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Bắc vào Nam. Tháng 2 năm 1962, các đơn vị Biệt kích Dân sự này chính thức hợp thành Lực lượng Dân sự Chiến đấu (Civilian Irregular Defense Group - CIDG), do CIA trực tiếp thực hiện, nằm ngoài sự quản lý của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 23 tháng 77 năm 1962, theo Quyết định 57 An ninh Quốc gia của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, CIA sẽ bàn giao tất cả những hoạt động bán quân sự, kể cả Lực lượng Dân sự Chiến đấu, cho Bộ Tư lệnh Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam.

Sự hình thành một Lực lượng Biệt kích Dân sự vũ trang không chịu sự kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng dẫn đến những hệ lụy có tác động không nhỏ. Do mâu thuẫn sắc tộc, sự thiếu quan tâm, thậm chí kỳ thị, của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã góp phần dẫn đến việc nhiều Biệt kích quân người dân tộc thiểu số tại Việt Nam đang chiến đấu cho Lực lượng Đặc biệt Hoa KỳLực lượng Dân sự chiến đấu đã tham gia Phong trào ly khai BAJARAKA. Dù sao, dưới sự dàn xếp của người Mỹ, những mâu thuẫn tạm thời chưa bùng nổ lớn. Các Biệt kích quân người dân tộc thiểu số tại Việt Nam vẫn chiến đấu dưới quyền chỉ huy của người Mỹ cho đến tận năm 1970, khi các đơn vị thuộc Lực lượng Dân sự Chiến đấu được người Mỹ bàn giao một phần cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được cải tổ thành Lực lượng Biệt động quân Biên phòng.

Phát triển thành đại đơn vị[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với sự tiếp nhận và tái tổ chức các trại Biệt kích thuộc Lực lượng Dân sự Chiến đấu thành các Tiểu đoàn Biệt động quân Biên phòng, cũng như các Liên đoàn thuộc Lực lượng đặc biệt vừa bị giải thể thành Liên đoàn Biệt động quân thứ 7. Tính đến cuối năm 1971, lực lượng Biệt động quân có 21 Tiểu đoàn Biệt động quân chính quy và 37 Tiểu đoàn Biệt động quân Biên phòng. Mỗi Quân khu đều tổ chức Bộ chỉ huy Biệt động quân của Quân đoàn, chỉ huy 1 Liên đoàn Biệt động quân chính quy và một số Tiểu đoàn Biệt động quân Biên phòng. Riêng các Liên đoàn 5, 6, 7 do Bộ chỉ huy Biệt động quân Trung ương trực tiếp chỉ huy.

Trước tình hình chiến tranh khốc liệt, và quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, tháng 9 năm 1973, Đại tướng Cao Văn Viên đưa ra kế hoạch tái tổ chức lại 58 Tiểu đoàn Biệt động quân (kể cả Biệt động quân Biên phòng) thành 45 Tiểu đoàn, bỏ các đồn trại Biên phòng (trừ một số các đồn trại ở những nơi xung yếu) để hình thành Lực lượng Trừ bị cho các Quân đoàn và Tổng trừ bị cho Trung ương. Theo đó, 45 Tiểu đoàn Biệt động quân tổ chức thành 15 Liên đoàn Tiếp ứng, trong đó có 2 Liên đoàn (5 và 6) Tổng trừ bị (sau tăng thêm Liên đoàn 4 rút từ Quân đoàn IV về). Các Liên đoàn này được bố trí như sau:

  • Quân khu 1: Các Liên đoàn: 11, 12 (Liên đoàn 1 cũ), 14 và 15[2]
  • Quân khu 2: Các Liên đoàn: 21, 22, 23 (Liên đoàn 2 cũ), 24, và 25[3]
  • Quân khu 3: Các Liên đoàn: 31 (Liên đoàn 3 cũ), 32 (Liên đoàn 5 cũ), và 33[4]
  • Các Liên đoàn 4, 6 và 7 là Lực lượng Tổng trừ bị cho Bộ Tổng tham mưu.

Lực lượng Biệt động quân vào những năm cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam liên tục được tăng cường, nhằm tổ chức một lực lượng trừ bị mạnh để thay thế cho Sư đoàn DùSư đoàn Thủy quân lục chiến đang bị mắc kẹt với chiến trường Quân khu I. Cuối năm 1974, Liên đoàn 8 được thành lập, tháng 3 năm 1975, Liên đoàn 9 được thành lập. Một dự định tổ chức các đơn vị Biệt động quân thành cấp Sư đoàn để làm Lực lượng Trừ bị Chiến lược đã được hình thành. Tuy nhiên tình hình đã quá trễ.

Tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt NamQuân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đánh tan rã binh lực của 2 Quân đoàn và 2 Sư đoàn Tổng trừ bị của Việt Nam Cộng hòa. Lực lượng Biệt động quân chỉ còn lại 8 Liên đoàn, dự kiến sẽ tổ chức thành 3 Sư đoàn Biệt động quân, đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư lệnh Biệt động quân do Thiếu tướng Đỗ Kế Giai làm Tư lệnh, Đại tá Trần Công Liễu làm Tham mưu trưởng. Hai Bộ Tư lệnh cấp Sư đoàn được thành lập gồm Sư đoàn 101 do Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn làm Tư lệnh, và Sư đoàn 106 do Đại tá Nguyễn Văn Lộc (Nguyên Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Biệt động quân Trung ương) làm Tư lệnh. Tuy nhiên, tốc độ thành lập các Sư đoàn này không theo kịp với tốc độ hành quân của đối phương. Các đơn vị Biệt động quân chiến đấu trong những giờ cuối cùng của chiến tranh với đội hình cấp Tiểu đoàn, không thể chống nổi với đội hình quân đoàn hợp thành với thế mạnh áp đảo của đối phương, lần lượt tan rã. Đơn vị buông súng rã ngũ cuối cùng trưa 30 tháng 4 năm 1975 là Tiểu đoàn 43, sau khi nhận được lệnh đầu hàng từ Tổng thống Dương Văn Minh và Tư lệnh Đỗ Kế Giai.

Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và tên Cấp bậc Tại chức Ghi chú
1
Lữ Đình Sơn
Thiếu tá[5]
7/1960-10/1960
Chỉ huy trưởng đầu tiên. Giải ngũ cuối năm 1963.
2
Phan Trọng Chinh
Võ bị Đà Lạt K5[6]
nt
10/1960-11/1960
Tham gia cuộc đảo chính 11/11/1960, bị đày ra Côn Đảo cho đến cuối năm 1963 được phục hồi quân ngũ. Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Trung tướng Chỉ huy trưởng trường Chỉ huy và Tham mưu[7]
3
Phan Đình Thứ
(Lam Sơn)
Võ bị Lục quân Pháp
Đại tá
11/1960-5/1962
Chỉ huy trưởng lần thứ nhất.
4
Tôn Thất Xứng
Võ bị Huế K1
nt
5/1962-
Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Thiếu tướng Chỉ huy trưởng trường Chỉ huy và Tham mưu (1964-1967).
5
Phan Xuân Nhuận
Võ bị Huế K1
nt
8/1964-3/1966
Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (tháng 3/1966).
6
Trần Văn Hai
Võ bị Đà Lạt K7
Trung tá
Đại tá
3/1966-6/1968
Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Chuẩn tướng, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh.
7
Trần Công Liễu
Võ bị Đà Lạt K8
Đại tá
6/1968-8/1972
Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Đại tá Đặc khu trưởng kiêm Thị trưởng Cam Ranh.
8
Đỗ Kế Giai
Võ bị Đà Lạt K5
Chuẩn tướng
Thiếu tướng
8/1972-30/4/1975
Chỉ huy trưởng sau cùng (thăng cấp Thiếu tướng 1974).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Chỉ huy BĐQ Trung ương và các Quân khu (1975)[sửa | sửa mã nguồn]

-Chức danh Chỉ huy và Tham mưu sau cùng:

TT Họ và tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
1
Đỗ Kế Giai
Thiếu tướng
Chỉ huy trưởng
Biệt động quân Trung ương
Bộ Chỉ huy đặt ở trại Đào Bá Phước, đường Tô Hiến Thành, Quân 10, Sài Gòn.
2
Nguyễn Quang Kiệt
Võ khoa Thủ Đức[8]
Đại tá
Chỉ huy phó
3
Nguyễn Khắc Trường
Võ bị Đà Lạt
nt
Tham mưu trưởng
4
Nguyễn Đức Khoái
Võ khoa Thủ Đức
nt
Chỉ huy trưởng
Biệt động quân Quân khu 1
Bộ Chỉ huy đặt ở Đà Nẵng, cạnh Bộ Tư lệnh Quân đoàn I
5
Phạm Duy Tất[9]
Võ khoa Thủ Đức K4p[10]
Chuẩn tướng
Chỉ huy trưởng
Biệt động quân Quân khu 2
Bộ Chỉ huy đặt ở Pleiku, cạnh Bộ Tư lệnh Quân đoàn II.
6
Nguyễn Thành Chuẩn
Võ bị Đà Lạt K6
Đại tá
Chỉ huy trưởng
Biệt động quân Quân khu 3
Bộ Chỉ huy đặt ở Biên Hòa, cạnh Bộ Tư lệnh Quân đoàn III.
7
Đặng Toàn
Võ bị Đà Lạt K10
Trung tá
Chỉ huy trưởng
Pháo binh Biệt động quân
Bộ Chỉ huy đặt cạnh Bộ Chỉ huy Biệt động quân Trung ương, Sài Gòn.

Các Liên đoàn trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

-Chức danh Chỉ huy sau cùng:

TT Liên đoàn Họ và Tên
Liên đoàn trưởng
Cấp bậc Tiểu đoàn Họ và Tên
Tiểu đoàn trưởng
Cấp bậc
1
Liên đoàn 4
42, 43, 44[11]
Trần Văn Sáu
Võ khoa Thủ Đức
Trung tá
Tiểu đoàn 42
Tiểu đoàn 43
Tiểu đoàn 44
Quách Hồng Quang[12]
Nhữ Văn Tước
Giang Văn Xẻn
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
2
Liên đoàn 6
34, 35, 51
Cao Văn Uỷ
Võ bị Đà Lạt K7
Đại tá
Tiểu đoàn 34
Tiểu đoàn 35
Trịnh Trân
Huỳnh Thiên Mạng
Thiếu tá
Thiếu tá
3
Liên đoàn 7
32, 58[13], 85
Nguyễn Kim Tây
Võ bị Đà Lạt K10
nt
Tiểu đoàn 32
Tiểu đoàn 58
Tiểu đoàn 85
Hà Mộng Thuý
Phan Văn Kết
Hoàng Đình Độc
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
4
Liên đoàn 8
84, 86, 87
Vũ Phi Hùng
Võ khoa Thủ Đức K3
nt
Tiểu đoàn 84
Tiểu đoàn 86
Tiểu đoàn 87
Nguyễn Văn Nam
Trần Tiễn San
Tạ Thành Lộc
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
5
Liên đoàn 9
93, 97, 98
Trịnh Ngọc Điệp
Trung tá
Tiểu đoàn 93
Nguyễn Trí Hòa
Thiếu tá
6
Liên đoàn 11
68, 69, 70
Phạm Khắc Ấn
nt
7
Liên đoàn 12
21, 37, 39
Trần Kim Đại
Võ khoa Thủ Đức K3
Đại tá
Tiểu đoàn 21
Tiểu đoàn 37
Tiểu đoàn 39
Nguyễn Văn Long
Trần Văn Nghênh
Hồ Văn Hạc[14]
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
8
Liên đoàn 14
77, 78, 79
Chung Thanh Tòng
Trung tá
Tiểu đoàn 79
Hà Văn Lầu[15]
Trung tá
9
Liên đoàn 15
60, 61, 94
Nguyễn Văn Thiệt
nt
Tiểu đoàn 60
Đỗ Đức Chiến
Thiếu tá
10
Liên đoàn 21
72, 89, 96
Lê Quý Dậu
Sĩ quan Hiện dịch
Đặc biệt Đồng Đế K3
nt
Tiểu đoàn 72
Tiểu đoàn 89
Tiểu đoàn 96
Lê Đình Diên
Trần Thiện Khuê
Huỳnh Công Hiển[16]
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
11
Liên đoàn 22
62, 88, 95
Bùi Văn Huấn
Đại tá
Tiểu đoàn 62
Tiểu đoàn 88
Tiểu đoàn 95
Lê Thanh Phong[17]
Vũ Ngọc Di
Nguyễn Thanh Vân
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
12
Liên đoàn 23
11, 22, 23
Lê Tất Biên
Võ bị Đà Lạt K10
nt
Tiểu đoàn 11
Tiểu đoàn 22
Tiểu đoàn 23
Hồ Khắc Đàm[18]
Nguyễn Đình Ngọ
Phạm Duy Ánh
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
13
Liên đoàn 24
63, 81, 82
Hoàng Kim Thanh
Trung tá
Tiểu đoàn 63
Tiểu đoàn 81
Tiểu đoàn 82
Trần Đình Đàng[19]
Nguyễn Hữu Tài
Vương Mộng Long[20]
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
14
Liên đoàn 25
67, 76, 90
Đặng Hưng Long
Đại tá
Tiểu đoàn 76
Tiểu đoàn 90
Phạm Công Toại
Phan Bát Giác
Thiếu tá
Thiếu tá
15
Liên đoàn 31
31, 36, 52
Nguyễn Văn Biết
Võ khoa Nam Định[21]
nt
Tiểu đoàn 31
Tiểu đoàn 36
Tiểu đoàn 52
Nguyễn Văn Tú
Đào Kim Minh
Trần Đình Nga[22]
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
16
Liên đoàn 32
30, 33, 38
Lê Bảo Toàn
Trung tá
Tiểu đoàn 30
Tiểu đoàn 32
Tiểu đoàn 38
Nguyễn Ngọc Khoan
Đinh Trọng Cường
Trần Đình Tự[23]
Thiếu tá
Thiếu tá
Thiếu tá
17
Liên đoàn 33
64, 83, 92
Nguyễn Văn Sâm
nt
Tiểu đoàn 64
Tiểu đoàn 83
Tiểu đoàn 92
Phạm Văn Bản
Hoa Văn Hạnh
Trần Đình Ngọc
Đại úy
Thiếu tá
Thiếu tá

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Cuộc đấu tranh chống gián điệp Biệt kích ở miền Bắc
  2. ^ Là các Liên đoàn Trừ bị cho Quân đoàn I
  3. ^ Là các Liên đoàn Trừ bị cho Quân đoàn II
  4. ^ Là các Liên đoàn Trừ bị cho Quân đoàn III
  5. ^ Cấp bậc khi nhậm chức
  6. ^ Xuất thân từ trường Sĩ quan.
  7. ^ Trường Chỉ huy và Tham mưu, tiền thân là Trung tâm Chiến thuật tại Hà Nội. Sau Hiệp định Genève 1954, di chuyển vào Sài Gòn đổi tên là Đại học Quân sự. Năm 1960 chuyển cơ sở lên Đà Lạt đổi tên là Chỉ huy và Tham mưu. Năm 1971 chuyển cơ sở về Long Bình, Biên Hòa
  8. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, về sau đổi tên là trường Bộ Binh Thủ Đức.
  9. ^ Nguyên Đại tá Tư lệnh Chiến trường Kontum. Ngày 14 tháng 3 năm 1975 được thăng cấp Chuẩn tướng, sau đó 2 ngày (16/3) được giao chức vụ Tư lệnh cuộc triệt thoái các đơn vị chủ lực thuộc Quân đoàn II di tản khỏi Cao nguyên (Kontum, Pleiku) theo đường 7B để về Duyên hải (Phú Yên).
  10. ^ Còn gọi là khóa 10B Trừ bị, thụ huấn tại trường Võ bị Đà Lạt
  11. ^ Các Tiểu đoàn trực thuộc.
  12. ^ Tốt nghiệp khóa 14 Sĩ quan Thủ Đức
  13. ^ Cải danh từ Tiểu đoàn 41 cũ
  14. ^ Tốt nghiệp khóa 16 Võ bị Đà Lạt
  15. ^ Tốt nghiệp khóa 19 Võ bị Đà Lạt. Nguyên là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79 BĐQ, năm 1974 tử trận tại chiến trường Thượng Đức, Quảng Nam. Được truy thăng Trung tá.
  16. ^ Tốt nghiệp khóa 15 Sĩ quan Thủ Đức
  17. ^ Tốt nghiệp khóa 20 Võ bị Đà Lạt
  18. ^ Tốt nghiệp khóa 16 Võ bị Đà Lạt
  19. ^ Tốt nghiệp khóa 15 Võ bị Đà Lạt
  20. ^ Tốt nghiệp khóa 20 Võ bị Đà Lạt
  21. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định
  22. ^ Tốt nghiệp khóa 18 Võ bị Đà Lạt
  23. ^ Tốt nghiệp khóa 14 Sĩ quan Thủ Đức

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]