Trần Văn Hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TRẦN VĂN HAI
Tranvanhai.jpg
Chuẩn tướng Trần Văn Hai
Tiểu sử
Sinh

Tháng 1, 1925

Gò Công, Việt Nam
Mất

1 tháng 5, 1975 (50 tuổi)

Mỹ Tho, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1952-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Vietnamese Rangers SSI.svg Binh chủng BĐQ
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 7 Bộ binh
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác -Tỉnh trưởng
RVN National Police Flag.svg Tổng Giám đốc CSQG[1]

Trần Văn Hai (1925-1975), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia Việt Nam. Trong suốt thời gian tại ngũ, ông đã giữ những chức vụ ở các lĩnh vực khác nhau như: Tỉnh trưởng, Chỉ huy Binh chủng, Tổng Giám đốc ngành An ninh Nội chính, Chỉ huy Huấn khu và sau cùng là Tư lệnh đơn vị Bộ binh cấp Sư đoàn. Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tuẫn tiết vào ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa.[2]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng Giêng năm 1925 trong một gia đình điền chủ tại Gò Công, miền Tây Nam phần Việt Nam. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Mỹ Tho với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, ông được tuyển dụng làm Công chức tại Mỹ Tho cho đến ngày gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 4 năm 1952, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 45/102.692. Theo học khóa 7 Ngô Quyền tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 5 năm 1952. Ngày 25 tháng 2 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được phân bổ chức vụ Trung đội trưởng tại Tiểu đoàn 4 Việt Nam[3] do Thiếu tá Đặng Văn Sơn[4] làm Tiểu đoàn trưởng.

Cuối tháng 7 năm 1954, sau ngày ký hiệp định Genėve (20 tháng 7), ông được thăng cấp Trung úy phục vụ tại Phòng 2 thuộc Đệ tứ Quân khu Cao nguyên do Đại úy Đặng Hữu Hồng[5] làm Trưởng phòng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời, chuyên sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 262 đóng tại Ninh Hòa, Khánh Hòa. Tháng 12 cuối năm ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 81 Địa phương đồn trú tại Phan Thiết.

Đầu tháng 8 năm 1961, ông là một trong những người thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ do Thiếu tá Vĩnh Biểu[6] làm Chỉ huy trưởng đầu tiên.

Giữa năm 1962, ông được cử giữ chức vụ Trưởng khoa Hành quân kiêm Huấn luyện viên lớp "Biệt động Rừng núi sình lầy". Đầu năm 1963, ông được cử giữ chức vụ Trưởng khối Huấn luyện Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Tháng 8 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Đầu năm 1965, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên thay thế Trung tá Phạm Anh.[7] Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Cuối năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Hạ tuần tháng 3 năm 1968, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tỉnh trưởng Phú Yên lại cho Trung tá Nguyễn Văn Bá. Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biệt động quân Trung ương. Đầu tháng 6 cùng năm, ông bàn giao Bộ chỉ huy Biệt động quân lại cho Trung tá Trần Công Liễu.[8] Sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia thay thế Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan được cử giữ chức vụ Thanh tra tại Bộ Quốc phòng.

Tháng 7 năm 1970, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Sau đó, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia lại cho Thiếu tướng Trần Thanh Phong, để đi nhận chức vụ Tư lệnh Biệt khu 44 (gồm 4 tỉnh: Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc và An Giang).

Đầu năm 1972, thuyên chuyển ra Quân khu 2, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn II đặc trách Biên phòng. Đầu tháng 7 cùng năm ông được chỉ định giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn kiêm Chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ thay thế Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh chuyển đi làm Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang.

Cuối tháng 10 năm 1974, ông được lệnh bàn giao Quân trường Lam Sơn và Huấn khu Dục Mỹ lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Toán.[9] Sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4 thay Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Trước sự kiện ngày 30 tháng 4 khoảng hơn một tuần, đích thân Tổng thống Thiệu cho máy bay riêng xuống đón ông di tản nhưng ông từ chối.[10]

Chiều ngày 30 tháng 4, sau khi cho binh sĩ rời đơn vị theo lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh, nửa đêm về sáng ngày 1 tháng 5 ông đã dùng thuốc Optalidon (uống nguyên ống 20 viên) tự vẫn trong phòng làm việc tại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Thi thể ông được Thân mẫu và bào đệ đem về mai táng tại Nghĩa trang Chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn vào ngày 2 tháng 5 năm 1975.

Ông được đánh giá là một tướng thanh liêm, chăm lo tốt đời sống đối với binh sĩ thuộc quyền.[10]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Phạm Thị Cúc - Ông bà có 4 người con gồm 3 trai, 1 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tổng Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia Việt Nam.
  2. ^ Sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài tướng Trần Văn Hai, còn 4 vị tướng nữa cũng tự sát để đền nợ nước và nêu cao khí tiết:
    - Thiếu tướng Phạm Văn Phú (Nguyên Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2).
    - Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (Nguyên Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4).
    - Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (Nguyên Tư lệnh Phó Quân đoàn IV và Quân khu 4).
    - Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ (Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh).
  3. ^ Tiểu đoàn 4 Việt Nam được thành lập vào ngày 15 tháng 10 năm 1952, Tiểu đoàn trưởng đầu tiên là Đại úy Trần Văn Cường, (sinh năm 1930 tại Hà Đông. Tốt nghiệp khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Biệt động quân Trung ương tại trại Đào Bá Phước, Sài Gòn).
  4. ^ Thiếu tá Đặng Văn Sơn, sinh năm 1916 tại Huế. Tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan của Quân đội Pháp. Sau cùng là Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Trưởng khối Quân sử tại Bộ Tổng Tham mưu. Giải ngũ năm 1965.
  5. ^ Đại úy Đặng Hữu Hồng, nguyên Trung tá Tỉnh trưởng Quảng Đức, sau tử trận được truy thăng Đại tá.
  6. ^ Thiếu tá Vĩnh Biểu (là bào đệ của tướng Vĩnh Lộc), sinh năm 1929 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp Võ bị Địa phương Trung Việt K2 (còn gọi là trường Sĩ quan Đập Đá Huế). Sau cùng là Đại tá Phụ tá Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân khu 1.
  7. ^ Trung tá Phạm Anh, sinh năm 1929 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan của Quân đội Pháp. Sau cùng giải ngũ ở cấp Đại tá, Dân biểu Quốc hội Đệ nhị Cộng hòa.
  8. ^ Trung tá Trần Công Liễu, sinh năm 1932 tại Bà Rịa. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K8. Sau cùng là Đại tá Thị trưởng kiêm Đặc khu trưởng Đặc khu Cam Ranh.
  9. ^ Đại tá Nguyễn Hữu Toán, sinh năm 1930 tại Nam Định. Tốt nghiệp trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định. Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh.
  10. ^ a ă [1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.