Trần Văn Hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Văn Hai
Tranvanhai.jpg
Tiểu sử
Sinh

1925

Gò Công
Mất

1-5-1975

Mỹ Tho
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1952-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Bộ chỉ huy Biệt động quân
Quân đoàn II
Sư đoàn 7 Bộ binh
Chỉ huy Quân đội Quốc gia
Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Công việc khác Tỉnh trưởng
Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia

Trần Văn Hai (1925-1975), nguyên là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia Việt Nam. Trong suốt thời gian tại ngũ, ông đã giữ những chức vụ ở các lĩnh vực khác nhau như: Tỉnh trưởng, Chỉ huy trưởng Binh chủng, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, Chỉ huy trưởng Huấn khu và Tư lệnh Sư đoàn bộ binh...

Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tuẫn tiết trong sự kiện 30 tháng 4, 1975.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng Giêng năm 1925 tại Gò Công. Tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp tại Mỹ Tho với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, ông được tuyển dụng làm Công chức cho Chính quyền Bảo hộ tại Mỹ Tho.

Cuối tháng 4 năm 1952, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 45/102.692. Theo học khóa 7 Ngô Quyền tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 5 năm 1952. Ngày 25 tháng 2 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được điều đi phục vụ Tiểu đoàn 4 Việt Nam do Thiếu tá Đặng Văn Sơn làm Tiểu đoàn trưởng

(Tiểu đoàn 4 Việt Nam thành lập ngày 15/10/1952 tại Hưng Yên do Đại úy Trần Văn Cường làm Tiểu đoàn trưởng đầu tiên).

Sau ngày ký hiệp định Genėve (20 tháng 7), ông được thăng cấp Trung úy phục vụ tại Phòng 2 thuộc Đệ tứ Quân khu Cao nguyên do Đại úy Đặng Hữu Hồng làm trưởng phòng.

Quân đội Việt Nam Cộng hoà[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời, ông được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 262 đóng tại Ninh Hoà, Khánh Hoà. Tháng 12 cuối năm ông được thăng cấp Đại úy giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 81 Địa phương đồn trú tại Phan Thiết.

Đầu tháng 8 năm 1961, ông là một trong những người thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ do Thiếu tá Vĩnh Biểu làm Chỉ huy trưởng đầu tiên.

Giữa năm 1962, ông được cử giữ chức Trưởng khoa Hành quân kiêm Huấn luyện viên lớp "Biệt động Rừng núi sình lầy". Qua đầu năm 1963, ông được lên chức Trưởng khối Huấn luyện Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Tháng 8 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Đầu năm 1965, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên thay thế Trung tá Phạm Anh. Ngày 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Cuối năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Hạ tuần tháng 3 năm 1968, ông được lệnh bàn giao chức Tỉnh trưởng Tỉnh Phú Yên lại cho Trung tá Nguyễn Văn Bá. Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biệt động quân Trung ương. Đầu tháng 6 cùng năm, ông bàn giao Bộ chỉ huy Biệt động quân lại cho Trung tá Trần Công Liễu. Sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia thay thế Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan được đề cử giữ chức vụ Thanh tra Bộ Quốc phòng.

Tháng 7 năm 1970, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Sau đó, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia lại cho Thiếu tướng Trần Thanh Phong, để đi nhận chức Tư lệnh Biệt khu 44 (gồm 4 tỉnh: Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc và An Giang).

Đầu năm 1972, thuyên chuyển ra Quân khu 2, ông được cử làm Tư lệnh phó Quân đoàn II đặc trách Biên phòng. Đầu tháng 7 cùng năm ông được chỉ định giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn kiêm Chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ thay thế Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh chuyển đi làm Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang.

Cuối tháng 10 năm 1974, ông được lệnh bàn giao Quân trường Lam Sơn & Huấn khu Dục Mỹ lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Toán. Sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam được lên làm Tư lệnh Quân đoàn IV & Quân khu 4.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Trước sự kiện ngày 30 tháng 4 khoảng hơn một tuần, đích thân Tổng thống Thiệu cho máy bay riêng xuống đón ông di tản nhưng ông từ chối.[1]

Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi cho binh sĩ rời quân ngũ theo lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh, nửa đêm về sáng ngày 1 tháng 5 ông đã dùng thuốc Optalidon (uống nguyên ống 20 viên) tự vẫn trong phòng làm việc tại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Thi thể ông được Thân mẫu và bào đệ đem về mai táng tại Nghĩa trang Chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn vào ngày 2 tháng 5 năm 1975.

Ông được đánh giá là một tướng thanh liêm, chăm lo tốt đời sống binh sĩ thuộc quyền.[1]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Phạm Thị Cúc.
-Ông bà có 4 người con gồm 3 trai, 1 gái.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]