Lê Nguyên Vỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Nguyên Vỹ
LeNguyenVy.jpg

Tiểu sử
Sinh


Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam
Mất


Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1955-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Tham chiến Trận An Lộc

Lê Nguyên Vỹ (1933-1975), nguyên là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Chuẩn Tướng. Ông xuất thân từ một trường Võ bị Địa phương do Chính phủ Quốc gia mở ra ở Trung phần. Ra trường được điều về đơn vị bộ binh, sau chuyển qua phục vụ đơn vị Nhảy dù một thời gian ngắn. Sau lại trở về bộ binh tuần tự giữ nhiều chức vụ cho đến năm 1973, ông được bổ nhiệm chức Tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn 5 bộ binh. Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 22 tháng 8 năm 1933 tại Sơn Tây trong một gia đình nho giáo và có truyền thống hiếu học. Là con của cụ Lê Nguyên Liên và cụ Lê thị Huệ. Ông tốt nghiệp trung học phổ thông chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Đầu năm 1951, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc Gia, mang số quân: 52/204.567. Theo học khóa 2 Lê Lợi tại trường Võ bị Địa phương Trung Việt (*) toạ lạc ở Huế (khai giảng ngày 1 tháng 2 năm 1951, mãn khoá ngày 1 tháng 10 cùng năm). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chuyển về phục vụ trong Tiểu đoàn 19 Việt Nam thuộc Quân đội Quốc gia là thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp với chức vụ Trung đội trưởng do Đại úy Đỗ Cao Trí làm Tiểu đoàn trưởng.

  • (*) Trường Võ bị Địa phương Trung Việt còn gọi là Trường Võ bị Đập Đá. Vị trí trước đó là Trường Võ bị Quốc gia Huế, đã đào tạo được 2 khoá, sau dời về Đà Lạt đổi tên là Võ bị Liên Quân.

Đầu năm 1953, ông được cử theo học khoá 1 Biệt kích tại Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội Vạt Cháy (Bãi Cháy), Hòn Gai, Quảng Yên. Mãn khoá trở về đơn vị gốc (Tiểu đoàn 19) ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức Đại đội trưởng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 19 Việt Nam giải tán dùng làm nòng cốt để thành lập Tiểu đoàn 6 Nhảy dù. Cùng năm, ông được tuyển chọn đi du học khóa huấn luyện viên Nhảy dù tại Pau, Pháp.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông bị thương trong chiến trận đẩy lui lực lượng Bình Xuyên ra khỏi trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Qua giữa năm 1956, ông được thăng cấp Đại úy và được theo học lớp bộ binh cao cấp. Mãn khoá, ông được bổ nhiệm làm Quận trưởng Quận Bến Cát, Bình Dương.

Đầu năm 1961, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Sau đó chuyển trở về bộ binh được giữ chức Tiểu đoàn trưởng một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 bộ binh.

Trung tuần tháng 8 năm 1968, sau chiến trận Mậu thân đợt 2, ông được thăng cấp Trung tá lên giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8 bộ binh. Qua giữa năm 1970, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Sau đó được cử đi du học khoá Chỉ huy và Tham mưu tại Fort Leavenworth, Hoa Kỳ.

  • Cùng du học với ông còn có:
  1. Đại Tá Ngô Hán Đồng (khoá 2 Thủ đức, năm 1972 tử nạn được truy thăng Chuẩn Tướng)
  2. Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ (khoá 6 Đà lạt, sau cùng là Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên)
  3. Trung Tá Nguyễn Quang Hưng (khoá 7 Đà Lạt, sau cùng là Tham mưu trưởng Đại học Chiến tranh Chính trị)
  4. Trung Tá Võ Đại Khôi (khoá 3 Đà Lạt, sau là Đại tá Tổng cục phó Tổng cục Quân huấn )

Trung tuần tháng 6 năm 1971 mãn khoá từ Hoa Kỳ về nước, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 5 bộ binh. Ông trực tiếp tham gia trong chiến trường An Lộc tử thủ căn cứ chỉ huy. Sau khi chiến thắng, ông được giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Chiến thuật Quân đoàn III, sau đó được cử đi du hành thăm viếng Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).

Giữa năm 1973, ông được chuyển về quân khu 4 giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 21 bộ binh do Chuẩn tướng Lê Văn Hưng làm Tư lệnh. Thượng tuần tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh thay thế Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch được cử đi làm Chánh thanh tra Quân đoàn III và Quân khu 3.

  • Thời điểm này, các sĩ quan chỉ huy và tham mưu cao cấp của Sư đoàn 5 như sau:
  1. Đại Tá Trần Văn Thoàn (tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt, Tư lệnh phó)
  2. Đại Tá Từ Vấn (khoá 12 Đà Lạt, Tham mưu trưởng).
  3. Đại Tá Nguyễn Văn Vượng (Chỉ huy Trung đoàn 7)
  4. Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng (khoá 10 Đà Lạt, Chỉ huy Trung đoàn 8. Thăng cấp Đại tá tại nhiệm cuối năm 1974).

Ngày 1 tháng 11 năm 1974, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi nghe nhật lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đến bàn giao. Ông ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Sau đó ông dùng khẩu Beretta 6.35 bắn vào đầu tự sát tại Bộ Tư Lệnh ở Lai Khê (Bến Cát, Bình Dương).

Thi thể ông được an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ngày 2 tháng 5 năm 1975 được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Năm 1987, Do Nghĩa trang Hạnh Thông Tây có lệnh giải toả. Hài cốt ông được Thân mẫu (đã ngoài 80 tuổi) cùng với người em là Lê Nguyên Quốc từ miền Bắc vào hợp cùng người anh con ông Bác là Trung Tá Lê Nguyên Hoàng (mới cải tạo về) đến Nghĩa trang Hạnh Thông Tây bốc mộ và hỏa thiêu, đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại nguyên quán số nhà 151 đường Lê Lợi Thị xã Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Sau đó, tái cải táng xây lăng mộ tại Nghĩa trang của gia tộc ở Sơn Tây.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Lê Nguyên Vỹ được đánh giá là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và là một chỉ huỵ bộc trực, thanh liêm, chống tham nhũng. Ông là một trong những vị tướng hiếm hoi của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tinh thần tự lực cánh sinh, tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ.[1]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Lê Thị Kim Yến. Ông bà có 4 người con gồm 3 trai, 1 gái. Hiện bà và các con cháu định cư tại Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]