Lê Nguyên Vỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Nguyên Vỹ
LeNguyenVy.jpg
Chuẩn tướng
Lê Nguyên Vỹ
Tiểu sử
Sinh

22 tháng 8, 1933(1933-08-22)

Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam
Mất

30 tháng 4, 1975 (42 tuổi)

Bình Dương, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Binh chủng Nhảy dù
Sư đoàn 5 Bộ binh
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Công việc khác Quận trưởng

Lê Nguyên Vỹ (1933-1975), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ một trường Võ bị Địa phương do Chính phủ Quốc gia mở ra ở Trung phần. Ra trường được điều về đơn vị Bộ binh, sau chuyển qua phục vụ đơn vị Nhảy dù một thời gian ngắn. Sau đó lại trở về Bộ binh tuần tự giữ nhiều chức vụ cho đến năm 1973, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy một Sư đoàn Bộ binh (cũng là Chỉ huy cuối cùng của đơn vị này). Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 (1).

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 22 tháng 8 năm 1933, trong một gia đình có truyền thống hiếu học tại Sơn Tây (nay thuộc Tp Hà Nội). Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1951, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/204.567. Theo học khóa 2 Lê Lợi tại trường Võ bị Địa phương Trung Việt (2) ở Huế, khai giảng ngày 1 tháng 2 năm 1951. Ngày 1 tháng 10 cùng năm mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy hiện dịch. Ra trường, ông được chuyển về phục vụ trong Tiểu đoàn 19 Việt Nam thuộc Quân đội Quốc gia là thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp với chức vụ Trung đội trưởng do Đại úy Đỗ Cao Trí làm Tiểu đoàn trưởng. Tháng 4 năm 1952, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm. Đầu năm 1953, ông được cử theo học khóa 1 Biệt kích tại Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội tại Vạt Cháy (Bãi Cháy), Hòn Gai, Quảng Yên. Mãn khóa trở về đơn vị gốc (Tiểu đoàn 19) ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức vụ Đại đội trưởng. Ngày 1 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 19 Việt Nam giải tán dùng làm nòng cốt để thành lập Tiểu đoàn 6 Nhảy dù. Cùng năm, ông được tuyển chọn đi du học khóa huấn luyện viên Nhảy dù tại Pau, Pháp.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông bị thương trong chiến trận đẩy lui lực lượng Bình Xuyên ra khỏi trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Đến giữa năm 1956, ông được thăng cấp Đại úy và được theo học lớp Bộ binh cao cấp. Mãn khóa, ông được bổ nhiệm làm Quận trưởng Quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đầu năm 1961, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Sau đó trở lại đơn vị Bộ binh, ông được giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh.

Trung tuần tháng 8 năm 1968, sau chiến trận Mậu thân đợt 2, ông được thăng cấp Trung tá lên giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8 Bộ binh. Đến giữa năm 1970, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Sau đó được cử đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu (3) tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Ngày 11 tháng 6 năm 1971 mãn khóa.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1971, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh. Ông trực tiếp tham gia trong Chiến trường An Lộc tử thủ căn cứ chỉ huy. Sau khi chiến thắng, ông được giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Chiến thuật Quân đoàn III, sau đó được cử đi du hành thăm viếng Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).

Giữa năm 1973, ông được chuyển về Quân khu 4 giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 21 Bộ binh do Chuẩn tướng Lê Văn Hưng làm Tư lệnh. Thượng tuần tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh (4) thay thế Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch được cử đi làm Chánh thanh tra Quân đoàn III và Quân khu 3. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Tự sát[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi nghe nhật lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đến bàn giao. Ông ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Sau đó ông dùng khẩu Beretta 6.35 bắn vào đầu tự sát tại Bộ Tư lệnh ở Lai Khê (5). Hưởng dương 42 tuổi.

Thi thể ông được an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư lệnh. Ngày 2 tháng 5 năm 1975 được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Năm 1987, do Nghĩa trang Hạnh Thông Tây có lệnh giải tỏa. Hài cốt ông được thân mẫu (đã ngoài 80 tuổi) cùng với người em là Lê Nguyên Quốc từ miền Bắc vào hợp cùng người anh con ông Bác là Trung tá Lê Nguyên Hoàng (mới đi tù về) đến Nghĩa trang Hạnh Thông Tây bốc mộ và hỏa thiêu, đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại nguyên quán số nhà 151 đường Lê Lợi Thị xã Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Sau đó, tái cải táng xây lăng mộ tại Nghĩa trang của gia tộc ở Sơn Tây.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Song thân: Cụ Lê Nguyên Liên và cụ Lê Thị Huệ.
  • Phu nhân: Bà Phan Thị Kim Yến (Ông bà có 4 người con gồm 3 trai, 1 gái). Hiện nay bà và các con cháu định cư tại Hoa Kỳ.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Lê Nguyên Vỹ được đánh giá là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và là một chỉ huỵ bộc trực, thanh liêm, chống tham nhũng. Ông là một trong những vị tướng hiếm hoi của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tinh thần tự lực cánh sinh, tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • (1) -Sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra, Việt Nam Cộng hòa có 5 tướng lĩnh đương nhiệm những chức vụ cao trong Quân lực đã tuẫn tiết, ngoài tướng Lê Nguyên Vỹ còn các tướng:
-Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (SN 1927, nguyên Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4).
-Thiếu tướng Phạm Văn Phú (SN 1928, nguyên Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2).
-Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (SN 1933, nguyên Phó Tư lện Quân đoàn IV và Quân khu 4).
-Chuẩn tướng Trần Văn Hai (SN 1925, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh).
  • (2) -Trường Võ bị Địa phương Trung Việt còn gọi là Trường Võ bị Đập Đá Huế được thành lập trên vị trí và cơ sở trước đó của trường Võ bị Quốc gia Huế thường gọi là "Trường Võ bị Huế".
(Trường Võ bị Huế bắt đầu đào tạo sĩ quan từ cuối năm 1948 đến giữa năm 1950 được 2 khóa: khóa 1 Phan Bội Châu và khóa 2 Quang Trung. Tháng 7 năm 1950 trường chuyển về Đà Lạt đổi tên thành Võ bị Liên quân Đà Lạt, tiếp tục nhận thí sinh và ngày 1 tháng 10 năm 1950 tổ chức nhập khóa cho khóa 3 Trần Hưng Đạo. Năm 1959, trường đổi tên thành Võ bị Quốc gia Đà Lạt).

Sau đó, trường Võ bị Địa phương Trung Việt tiếp quản cơ sở nói trên và đào tạo được 3 khóa. Ngày 1 tháng 8 năm 1950 tổ chức nhập học cho khóa 1. Tiếp đến khóa 2 nhập học ngày 1 tháng 2 năm 1951 và khóa 3 nhập học ngày 1 tháng 10 năm 1951. Sĩ quan tốt nghiệp ở 3 khóa này đều mang cấp bậc Chuẩn úy.

  • (3) -Du học khóa Chỉ huy Tham mưu ở Hoa Kỳ năm 1970, ngoài Đại tá Vỹ còn có:
-Đại tá Ngô Hán Đồng (SN 1930, khóa 2 Võ khoa Thủ Đức. Nguyên Chỉ huy trưởng Pháo binh Quân đoàn I. Năm 1972 tử nạn được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng).
-Đại tá Nguyễn Hữu Duệ (SN 1931, khóa 6 Võ bị Đà Lạt. Nguyên Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Thị xã Huế).
-Trung tá Nguyễn Quang Hưng (SN 1931, khóa 7 Võ bị Đà Lạt. Nguyên Tham mưu trưởng trường Đại học Chiến tranh Chính trị).
-Trung tá Võ Đại Khôi (SN 1932, khóa 3 Võ bị Đà Lạt. Nguyên Tổng cục phó Tổng cục Quân huấn).
  • (4) -Thời điểm tướng Vỹ nhậm chức Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, các sĩ quan đảm trách chức vụ Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Sư đoàn:
-Tư lệnh phó: Đại tá Trần Văn Thoàn (SN 1932, khóa 7 Võ bị Đà Lạt).
-Tham mưu trưởng: Đại tá Từ Vấn (SN 1936, khóa 12 Võ bị Đà Lạt).
-Trung đoàn 7: Đại tá Nguyễn Văn Vượng (SN 1933, khóa 8 Võ bị Đà Lạt).
-Trung đoàn 8: Trung tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng (SN 1935, khóa 10 Võ bị Đà Lạt, đầu năm 1975 được thăng cấp Đại tá).
  • (5) -Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh đặt tại căn cứ Lai Khê thuộc địa bàn quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
  1. ^ [1]