Sư đoàn 21 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 21 Bộ binh
Việt Nam Cộng hòa
Hoạt động 1955-1975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Quân chủng Lục quân
Phân loại Bộ binh
Bộ phận của QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Tên khác Sấm sét Miền Tây
Khẩu hiệu Thành tín
Tham chiến Trận U Minh Thượng
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Trần Thiện Khiêm
-Nguyễn Văn Minh
-Đặng Văn Quang
-Nguyễn Vĩnh Nghi
-Lê Văn Hưng
-Mạch Văn Trường

SƯ ĐOÀN 21 BỘ BINH

  • Bản doanh: Vị Thanh, Chương Thiện.[1]

Sư đoàn 21 Bộ binh, là một trong ba đơn vị chủ lực quân thuộc Quân đoàn IV và Quân khu 4 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tồn tại từ năm 1955 đến năm 1975. Có phạm vi hoạt động và trách nhiệm bảo an một số tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (miền tây Nam bộ). Sư đoàn có 2 lần di chuyển Bộ Tư lệnh, ban đầu ở Long Xuyên khi thành lập, rồi chuyển về Bạc Liêu, sau cùng đặt bản doanh tại Chương Thiện (nay là Hậu Giang).

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn 21 Bộ binh được thành lập vào ngày 1 tháng 8 năm 1955 tại Long Xuyên với danh xưng ban đầu là Sư đoàn Khinh chiến số 1[2] do Trung tá Lê Quang Trọng làm Tư lệnh đầu tiên. Sau một thời gian ngắn, Sư đoàn di chuyển về Thị xã Sa Đéc. Tháng 10 cùng năm cải danh thành Sư đoàn Khinh chiến số 11.

Sau khi phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho tổ chức lại Quân đội Quốc gia Việt Nam và chính thức đặt tên lại là Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Khối bộ binh được tổ chức lại thành 4 Sư đoàn Dã chiến và 6 Sư đoàn Khinh chiến[3]. Đầu năm 1959, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa một lần nữa tổ chức lại các đơn vị[4]. Ngày 1 tháng 6 cùng năm, Sư đoàn khinh chiến số 11 thâu nhận thêm quân số của Sư đoàn Khinh chiến số 13[5] bị giải tán, để cải danh lần cuối cùng thành Sư đoàn 21 Bộ binh. Sau di chuyển Bộ Tư lệnh về Bạc Liêu. Cuối cùng chuyển sang Chương Thiện và cố định ở đây đến cuối tháng 4 năm 1975.

Địa bàn hoạt động và khu vực trách nhiệm của Sư đoàn bao gồm 6 tỉnh: Phong Dinh, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Chương Thiện, Kiên GiangAn Xuyên.

Sư đoàn 21 là đơn vị mệnh danh "Tia sét Miền Tây", hành quân trong vùng sình lầy kênh rạch Đồng bằng sông Hậu cho đến tận mũi Cà Mau.

Đơn vị trực thuộc và phối thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1[6]
Trung đoàn 31
10
Biệt đội Quân báo
2
Trung đoàn 32
11
Biệt đội Kỹ thuật
3
Trung đoàn 33
12
Biệt đội
Tác chiến'Điện tử
4[7]
Đại đội
Tổng hành dinh
13
Tiểu đoàn Quân y
5
Đại đội Trinh sát
14
Tiểu đoàn Truyền tin
6
Đại đội Quân cảnh
15
Tiểu đoàn Tiếp vận
7
Đại đội Công vụ
16
Tiểu đoàn
Công binh chiến đấu
8
Đại đội Quân vận
(Quân xa)
17
Trung đoàn Pháo binh
Các Tiểu đoàn: 210 (155 ly), 211, 212, 213 (105 ly). Phối thuộc và dưới sự điều động của Tư lệnh Sư đoàn
9
Đại đội
Hành chính Tài chính
18
Thiết đoàn 9
Thuộc "Lữ đoàn 4 Kỵ binh". Phối thuộc và dưới sự điều động của Tư lệnh Sư đoàn

Bộ Tư lệnh Sư đoàn và Chỉ huy Trung đoàn tháng 4/1975[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
1
Mạch Văn Trường
Võ bị Đà Lạt K12[8]
Chuẩn tướng
Tư lệnh
2
Nguyễn Hữu Kiểm
Võ khoa Thủ Đức[9]
Đại tá
Tư lệnh phó
3
Lâm Chánh Ngôn[10]
Võ bị Đà Lạt K7
nt
Tham mưu trưởng
4
Nguyễn Văn Biết[11]
Võ khoa Nam Định[12]
nt
Chỉ huy
Trung đoàn 31
5
Huỳnh Thanh Điền
Võ khoa Thủ Đức
Trung tá
Chỉ huy
Trung đoàn 32
6
Bùi Huy Sảnh[13]
Võ bị Địa phương
Nam Việt Vũng Tàu
Đại tá
Chỉ huy
Trung đoàn 33

Trung đoàn Pháo binh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đơn vị phối thuộc
TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Đơn vị Chú thích
1
Nguyễn Bá Nhẫn
Trung tá
Chỉ huy trưởng
Bộ chỉ huy
Trung đoàn
2
Huỳnh Vạn Thọ
Võ khoa Thủ Đức K12
Thiếu tá
Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 210
3
Lê Văn Thịnh
nt
nt
Tiểu đoàn 211
4
Phan Trác Thành
Võ khoa Thủ Đức K7
nt
nt
Tiểu đoàn 212
5
Lê Văn Nghị
Võ khoa Thủ Đức K7
nt
nt
Tiểu đoàn 213

Tư lệnh Sư đoàn qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Tại chức Ghi chú
1
Lê Quang Trọng[14]
Võ bị Huế K2
Trung tá[15]
8/1955-10/1957
Sau giải ngũ ở cấp Đại tá
2
Nguyễn Bảo Trị
Võ khoa Nam Định
nt
10/1957-9/1959
Sau cùng là Trung tướng Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn
3
Trần Thanh Chiêu
Võ bị Đà Lạt K5
nt
9/1959-2/1960
Sau giải ngũ ở cấp Đại tá
4
Trần Thiện Khiêm
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
Đại tá
2/1960-12/1962
Sau cùng là Đại tướng, Thủ tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa
5
Bùi Hữu Nhơn
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
nt
12/1862-11/1963
Giải ngũ năm 1968 ở cấp Thiếu tướng
6
Cao Hảo Hớn
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
nt
11/1963-6/1964
Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng
7
Đặng Văn Quang
Võ bị Huế K1
nt
6/1964-3/1965
Sau cùng là Trung tướng Cố vấn An ninh Quốc gia cạnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
8
Nguyễn Văn Minh
Võ bị Đà Lạt K4
nt
3/1965-6/1968
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Biệt khu Thủ đô
9
Nguyễn Vĩnh Nghi
Võ bị Đà Lạt K5
nt
6/1968-5/1972
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh phó kiêm Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn III, đặc trách phòng tuyến Phan Rang
10
Hồ Trung Hậu
Võ khoa Thủ Đức K4
Chuẩn tướng
5/1972-9/1972
Sau cùng là Chánh thanh tra Quân đoàn III
11
Chương Dzềnh Quay
Võ bị Đà lạt K5
Đại tá
9/1972-6/1973
Sau cùng là Tham mưu trướng Quân đoàn IV
12
Lê Văn Hưng
Võ khoa Thủ Đức K5
Chuẩn tướng
6/1973-11/1974
Sau cùng là Tư lệnh Phó Quân đoàn IV, tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1975
13
Mạch Văn Trường
Đại tá
11/1974-30/4/1975
Ngày 26 tháng 4 năm 1975, được thăng cấp Chuẩn tướng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn, còn gọi là Hậu cứ
  2. ^ Nghị định số 612/QP/NĐ ngày 9 tháng 8 năm 1955
  3. ^ Đơn vị Dã chiến gồm các Sư đoàn 1, 2, 3 và 4, với quân số hơn 8.500 người mỗi Sư đoàn, là những đơn vị có biên chế, trang bị mạnh, được huấn luyện tác chiến chính quy để đảm đương nhiệm vụ chủ yếu là ngăn chặn quân chủ lực của miền Bắc vào. Đơn vị Khinh chiến gồm các Sư đoàn 11, 12, 13, 14, 15, 16, với quân số hơn 5.000 người mỗi Sư đoàn, là những đơn vị được tổ chức biên chế, trang bị gọn nhẹ hơn, đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu là bảo đảm an ninh nội địa, kết hợp tiếp sức chi viện cho các Sư đoàn Dã chiến khi cần.
  4. ^ Khi đó, 3 Sư đoàn Khinh chiến 12, 13, và 16 được giải thể và bổ sung về các Sư đoàn còn lại để thành lập 7 Sư đoàn Bộ binh 1, 2, 5, 7, 21, 22 và 23, với quân số hơn 10.500 người mỗi Sư đoàn.
  5. ^ Hậu thân của Sư đoàn Khinh chiến số 3 được thành lập tại Thủ Đầu Một cùng ngày với Sư đoàn Khinh chiến số 1, sau di chuyển lên đặt Bản doanh tại Bến Kéo, Tây Ninh là căn cứ cũ của Quân đội Giáo phái Cao Đài
  6. ^ Từ số 1 đến số 3 là đơn vị Tác chiến trực thuộc Sư đoàn.
  7. ^ Từ số 4 đến số 18 là đơn vị Yểm trợ trực thuộc Sư đoàn.
  8. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan.
  9. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
  10. ^ Sinh năm 1929 tại Vĩnh Long
  11. ^ Sinh năm 1930 tại Chợ Lớn
  12. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định.
  13. ^ Sinh năm 1927 tại Cần Thơ
  14. ^ Sinh năm 1925 tại Thừa Thiên
  15. ^ Cấp bậc khi nhậm chức.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.