Sư đoàn 3 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 3 Bộ binh
ARVN 3rd Infantry Division SSI.svg
Phù hiệu Sư đoàn
Hoạt động 1971-1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Quân chủng Lục quân
Phân loại Bộ binh
Bộ phận của Quân đoàn I
Khẩu hiệu Xây dựng và Chiến thắng
Màu sắc Vàng, đỏ, lam, trắng
Tham chiến Mùa hè đỏ lửa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Vũ Văn Giai

Sư đoàn 3 Bộ binh[1] là đơn vị cấp sư đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tồn tại từ năm 1971 đến năm 1975. Biên chế sư đoàn bộ binh 3 thuộc Quân đoàn I Việt Nam Cộng Hòa, giám sát khu vực phía Bắc lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa.

Sư đoàn 3 Bộ binh ban đầu đặt bản doanh tại Căn cứ Ái Tử, Quảng Trị. Sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Sư đoàn lui về căn cứ Hòa Khánh, Đà Nẵng chịu trách nhiệm bảo vệ Quảng Nam, Đà Nẵng và một phần phía Tây tiểu khu Quảng Tín.

Quân kỳ Sư đoàn 3

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu thập niên 1970, trước việc quân Mỹ, đặc biệt là các đại đơn vị như Sư đoàn 1 và Sư đoàn 3 Thủy quân lục chiến, Sư đoàn 101 Kỵ binh không vận, Lữ đoàn 9 Viễn chinh, lần lượt rút về Mỹ, để lại những khoảng trống lớn trong thế trận phòng thủ phía Bắc lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Bên cạnh đó, phía Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày càng gia tăng áp lực mạnh mẽ trên địa bàn chiến trường B5 Bắc Quảng Trị. So sánh đơn thuần về binh lực, dù các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam yếu hơn đối phương, nhưng lại có ưu thế về thế chủ động và sẵn sàng hơn nhiều. Phía Quân đội Nhân dân Việt Nam liên tục tổ chức các hoạt động tấn công mạnh từ phía bắc của vĩ tuyến 17 qua vùng phi quân sự bờ Nam sông Bến Hải thuộc vùng lãnh thổ do phía Việt Nam Cộng hòa kiểm soát, thông qua đường mòn Hồ Chí Minh và đường 9 Nam Lào.

Nhờ các hoạt động tình báo mà phía Việt Nam Cộng hòa đã phát hiện sự chuẩn bị của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Các chỉ huy cao cấp đều dự đoán trước về cuộc tấn công mới còn dữ dội hơn năm 1968 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Mặc dù vậy, các đơn vị chủ lực hiện có của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đều bị dàn mỏng lực lượng giữ đất, cộng với việc quá phụ thuộc lớn vào sự yểm trợ của quân Mỹ, nên việc Quân đội Hoa Kỳ rút quân đã tạo ra lỗ hổng ngày càng lớn cho hệ thống phòng thủ phía Bắc và phía Tây của Việt Nam Cộng hòa.

Trước tình hình đó, cuối năm 1971, Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa quyết định thành lập thêm một sư đoàn bộ binh nữa để chia sẻ nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ với 2 đơn vị bạn là Sư đoàn 1 và Sư đoàn 2 bộ binh. Ngày 1 tháng 10 năm 1971, Sư đoàn 3 Bộ binh được thành lập tại căn cứ Ái Tử, Quảng Trị theo Nghị định số 2334-QP/TCTT/NĐ ngày 31 tháng 10 năm 1971, trực thuộc Quân đoàn I, chịu trách nhiệm an ninh khu vực giới tuyến và toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Trị, được mệnh danh là "Sư đoàn Bến Hải".

Việc thành lập Sư đoàn này khiến cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mất uy tín với Hoa Kỳ vì cam kết sẽ không tăng thêm quân số, vì như thế khiến Hoa Kỳ phải gia tăng viện trợ và mất lòng dư luận trong nước.[cần dẫn nguồn]

Trừ Trung đoàn 2 Bộ binh là đơn vị chủ lực, Sư đoàn được thành lập vội vã từ đơn vị tân lập với thành phần chủ yếu từ các quân nhân vi phạm kỷ luật như đi phép quá hạn, quậy phá hoặc bị báo cáo đào ngũ, các quân nhân bị giam trong các quân lao ra được "phục hồi quân ngũ" (hồi ngũ). Vì vậy, sư đoàn còn có hỗn danh là "Sư đoàn Giới tuyến" hoặc "Sư đoàn Trừng giới".

Việc trang bị cho Sư đoàn cũng khá vất vả khi chỉ có Trung đoàn 2 là được trang bị vũ khí cá nhân như M16, M60, M79 và tên lửa chống tăng vác vai M72, trong khi đó, 2 Trung đoàn còn lại được trang bị hỗn độn. Ví dụ như cả Đại đội chỉ có vài khẩu M16 và M79, còn lại sử dụng M14 đã lỗi thời và thậm chí cả BAR, M1, chỉ có vài khẩu M72. Trung đoàn Pháo binh chỉ được trang bị pháo M2 105mm đã lỗi thời, trong khi đó các đơn vị bạn được trang bị lựu pháo M101 và M102, lựu pháo 155mm tân tiến hơn. Việc trang bị cho Sư đoàn phần lớn phải đi vay mượn từ những đơn vị bạn hoặc những vũ khí đã cũ được niêm yết trong Tổng kho Long Bình.

Sau khi thành lập không lâu, Sư đoàn phải bước vào tham chiến trong chiến dịch Xuân Hè 1972 trong tình trạng chưa huấn luyện hoàn chỉnh, sức chiến đấu yếu. Chỉ trong vòng tháng 3 năm 1972, các đơn vị của Sư đoàn bị đánh thiệt hại nặng trước sức tấn công mãnh liệt của phía Quân đội Nhân dân Việt Nam. Các căn cứ Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn, lần lượt thất thủ. Ngày 2 tháng 4 năm 1972, một sự kiện gây chấn động xảy ra là việc Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng, và Trung tá Vĩnh Phong, Trung đoàn phó, cùng 600 binh sĩ Trung đoàn 56 Bộ binh đóng trong căn cứ Caroll ra đầu hàng phía Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Trước tình hình này, Tư lệnh Sư đoàn là tướng Vũ Văn Giai đã gọi điện cho thượng cấp của mình là Trung tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh Quân đoàn 1 để xin ý kiến, nhưng chỉ nhận được những chỉ đạo chung chung. Ngay chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhiều lần cùng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đáp máy bay đến Huế họp bàn với tướng Hoàng Xuân Lãm, tướng Phạm Văn Phú (Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh), tướng Vũ Văn Giai, nhưng vẫn không đưa ra được quyết sách cụ thể. Cuối tháng 4 năm 1972, tướng Giai gọi điện báo cáo với tướng Lãm về tình hình nguy kịch của Sư đoàn, tuy nhiên, một lần nữa tướng Lãm không phản hồi biện pháp cụ thể. Trong hoàn cảnh không còn sự lựa chọn, tướng Giai đành phải ra lệnh rút toàn bộ những gì còn lại của Sư đoàn về Đà Nẵng.

Với thảm bại ở Quảng Trị, ngày 4 tháng 5 năm 1972, tướng Vũ Văn Giai bị gọi về Bộ Tổng tham mưu để phúc trình sự việc, sau đó bị yêu cầu đến trình diện ở Phòng Thanh tra. Tai đây, tướng Giai bị giữ tại Đại đội Tổng hành dinh một tháng. Chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh truy tố tướng Giai và chuyển qua Khám Chí Hòa giam giữ chờ đưa ra tòa xét cử. Tòa án Quân sự Sài Gòn sau đó đã kết án tướng Vũ Văn Giai 5 năm tù vì tội "bất tuân thượng lệnh". Tướng Lãm cũng bị mất chức Tư lệnh Quân đoàn 1. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều từ Quân đoàn 4 ra thay thế.

Có một số tài liệu ghi lại, trong thời gian đầu của Mùa Hè Đỏ Lửa, việc làm mất Quảng Trị từng khiến cho Tổng thống Thiệu muốn đổi phiên hiệu Sư đoàn 3 thành Sư đoàn 27 Bộ Binh vì ông cho rằng số 3 là con số xui. Tuy nhiên việc này đã được Trung tướng Ngô Quang Trưởng ngăn cản và cam kết sẽ biến Sư đoàn thành Sư đoàn Bộ Binh xuất sắc nhất Vùng I.[cần dẫn nguồn]

Sau thất bại thảm hại, Sư đoàn được tái tổ chức lại, chịu trách nhiệm an ninh Tiểu khu Quảng Nam, Đà Nẵng, từ Quế Sơn, Quảng Tín đến Hải Vân, Đà Nẵng. Tướng Nguyễn Duy Hinh được bổ nhiệm làm tư lệnh sư đoàn. Trong hơn một năm, Sư đoàn được củng cố và phục hồi được năng lực chiến đấu, bắt đầu thực hiện thành công trong các nhiệm vụ tái chiếm Quế Sơn, Tiên Phước.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Sư đoàn được giao nhiệm vụ lấn chiếm lãnh thổ, tấn công và kiểm soát khu vực căn cứ West, đồi 1460 trước thời điểm hiệp định có hiệu lực, nhằm giành lợi thế kiểm soát lãnh thổ với phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Đầu năm 1975, phía Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Hồ Chí Minh, quyết tâm giành thắng lợi quân sự cuối cùng. Các đơn vị chủ lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Vùng I và Vùng II nhanh chóng tan rã và rút chạy về phía Nam. Sư đoàn được lệnh rút về phòng tuyến sông Thu Bồn làm nút chận cho quân bạn rút lui. Tuy nhiên phòng tuyến nhanh chóng tan vỡ. Sư đoàn tiếp tục rút về tuyến phòng thủ Phước Tuy và tan rã tại đây ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Đơn vị trực thuộc & yểm trợ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung đoàn 2 Bộ binh
  • Biệt đội Quân báo
  • Trung đoàn 56 Bộ binh
  • Biệt đội Kỹ thuật
  • Trung đoàn 57 Bộ binh
  • Biệt đội Tác chiến Điện tử
  • Đại đội Tổng hành dinh
  • Tiểu đoàn Quân y
  • Đại đội Trinh sát
  • Tiểu đoàn Truyền tin
  • Đại đội Quân cảnh
  • Tiểu đoàn Tiếp vận
  • Đại đội Công vụ
  • Tiểu đoàn Công binh chiến đấu
  • Đại đội Vận tải (Quân xa)
  • Trung đoàn Pháo binh
  • Đại đội Hành chính Tài chính
  • Thiết đoàn 11 (thuộc Lữ đoàn 1 Kỵ binh phối thuộc)

Các đời tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên Cấp bậc Thời gian tại chức Chú thích
1 Vũ Văn Giai Chuấn tướng Từ 1/11/1971 đến 3/5/1972 Tư lệnh đầu tiên
2 Phạm Văn Chung Đại tá Từ 3/51972 đến 9/6/1972 Xử lý thường vụ chức Tư lệnh trong thời gian chờ bổ nhiệm Tư lệnh chính thức
3 Nguyễn Duy Hinh Chuẩn tướng Từ 9/6/1972 đến 29/3/1975 Tư lệnh cuối cùng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. tr. 526–533. ISBN 1-57607-040-9. 
  • Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân, Lược sử Quân lực VNCH, 2011.