Trường Bộ binh Thủ Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Bộ binh Thủ Đức
Việt Nam Cộng hòa
Cư an tư nguy.svg
Phù hiệu
Hoạt động 1951-1975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Quân chủng Quân trường
Phân loại Cao đẳng Quân sự
Bộ phận của Tổng cục Quân huấn
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Khẩu hiệu Cư An Tư Nguy
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Hồ Văn Tố
-Phan Đình Thứ
-Bùi Hữu Nhơn
-Phạm Quốc Thuần
-Nguyễn Vĩnh Nghi
Hiệu kỳ

Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, Liên trường Võ khoa Thủ Đức hay còn gọi là Trường Bộ binh Thủ Đức (đầu tiên ở Thủ Đức, đến cuối năm 1973 thì chuyển đến Long Thành) là một trong bốn trường đào tạo Sĩ quan cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ba trường còn lại là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, Trường Huấn luyện Không quân Nha TrangTrường Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Trường Thủ Đức hoạt động từ năm 1951 đến năm 1975.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Do sắc lệnh của Quốc Trưởng Bảo Đại ký ngày 15 tháng 7 năm 1951, kêu gọi tổng động viên: Thanh niên tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ. Những người có bằng từ Cao đẳng Tiểu học trở lên sẽ nhập học khóa sĩ quan trừ bị.

Vào thời điểm này Chính phủ Quốc gia Việt Nam tổ chức 2 vị trí để thành lập Trường sĩ quan trừ bị: miền Bắc lập trường tại Nam Định gọi là Trường sĩ quan trừ bị Nam Định và miền Nam lập tại Thủ Đức gọi là Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức (trường Thủ Đức được xây dựng trên đồi Tăng Nhơn Phú, xã Linh Xuân Thôn, Quận Thủ Đức, Tỉnh Gia Định). Cả hai trường đều tuyển sinh và khai giảng khóa học đầu tiên cùng thời gian: 1 tháng 10 năm 1951. Khóa 1 Nam Định mang tên Lê Lợi và khóa 1 Thủ Đức mang tên Lê Văn Duyệt.

Qua năm 1952, trường Nam Định được lệnh giải tán và sát nhập vào với trường Thủ Đức. Cũng từ thời điểm này, thí sinh trên toàn Quốc gia nhập ngũ vào sĩ quan trừ bị đều vào học tại Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Khóa 2 được khai giảng vào ngày 15 tháng 10 năm 1952.

Từ khóa 1 đến khóa 5, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu uý, trường hợp thi tốt nghiệp với số điểm thấp hơn quy định thì ra trường mang cấp bậc Chuẩn úy hoặc Trung sĩ (hạ sĩ quan). Thiếu úy sau 2 năm được đương nhiên thăng cấp Trung úy và Chuẩn úy sau 18 tháng được thăng cấp Thiếu úy.

Từ khóa 6, khóa sinh tốt nghiệp chỉ mang cấp bậc Chuẩn úy. Sĩ quan xuất thân từ khóa này trở về sau, không được áp dụng tiêu chuẩn lên cấp tướng. Cho nên, sau này chỉ thấy cấp cao nhất là cấp Đại tá (Ngoại trừ trường hợp được xét chuyển qua ngạch hiện dịch sẽ được hưởng quy chế lên tướng. Ngoài ra, các quân nhân xuất thân từ trường Thiếu sinh quân và 4 khóa sĩ quan hiện dịch đặc biệt thụ huấn ở Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế các năm từ 1959-1963 cũng được hưởng quy chế này).

Đầu tháng 2 năm 1955, Trường gián đoạn tuyển sinh và đào tạo sĩ quan trừ bị do ảnh hưởng của Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 trong điều khoản giảm trừ quân bị. Cuối tháng 2 năm 1957, Trường tái hoạt động và được cải danh thành Liên trường Võ khoa Thủ Đức.

Các Trường trong Liên trường Võ khoa[sửa | sửa mã nguồn]

TT Tên trường Chú thích TT Tên trường Chú thích
1
Trường Bộ binh
5
Trường Quân cụ
2
Trường Thiết giáp
6
Trường Truyền tin
3
Trường Pháo binh
7
Trường Quân chính
4
Trường Công binh
8
Trường Thông vận binh
Trường Quân xa
9
Trường Thể dục Quân sự

Tháng 10 năm 1961, các trường Chuyên môn được tách ra khỏi Liên trường Võ khoa Thủ Đức (ngoại trừ 3 Trường Bộ binh, Thiết giáp và Thể dục Quân sự).

Năm 1962, phù hiệu của Liên trường Võ khoa Thủ đức gồm ngọn lửa hồng bao quanh thanh kiếm bạc trong nền xanh và được ghi thêm phương châm Cư An Tư Nguy (Có nghĩa là muốn sống yên ổn thì phải nghĩ đến lúc hiểm nguy. Suy rộng ra: "Muốn Hòa bình phải chuẩn bị Chiến tranh") do sáng kiến của Đại tá Phan Đình Thứ (tự Lam Sơn) đương nhiệm Chỉ huy trưởng của trường.

Ngày 1 tháng 8 năm 1963, Trường lấy lại danh hiệu cũ lúc ban đầu là Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Năm 1964, Trường lãnh thêm nhiệm vụ đào tạo các cán bộ Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng (theo chương trình học, khi mãn khóa được cấp văn bằng tốt nghiệp Đại đội trưởng hoặc Bộ binh Cao cấp). Cũng kể từ năm này các thí sinh muốn trúng tuyển vào học sĩ quan trừ bị phải có văn bằng Tú tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương. Ngày 1 tháng 7/ năm 1964 Trường được cải danh thành Trường Bộ binh Thủ Đức

Trường đào tạo từ khóa 1 (1951) đến khóa 27 theo thứ tự từng năm nhưng khi chiến cuộc leo thang, nhu cầu đòi hỏi nhiều sĩ quan khiến số khóa tăng lên từ 2 khóa mỗi năm. Kể từ năm 1968 trở đi thì mỗi khóa được gọi là "1/68", "2/68", "1/69", "2/69"...[1].

Trong khuôn viên Trường có một đài tưởng niệm gọi là Trung nghĩa Đài ghi bốn chữ "Tổ quốc ghi ơn."[2] Kể từ năm 1968 công việc đào tạo sĩ quan trừ bị của Trường Thủ Đức được bổ túc bởi Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, thường gọi là Trường Đồng Đế ở Nha Trang.[3]

Cuối năm 1973, Trường Bộ binh Thủ Đức được lệnh di chuyển về Huấn khu Long Thành. Đến giữa tháng 4 năm 1975 lại di chuyển về Thủ Đức.

Trường Bộ binh Thủ Đức giải thể vào năm 1975, khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Trong thời gian hoạt động 1951-1975, Trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt.[4]

Khóa Sĩ quan Trừ bị từ Nam Định đến Thủ Đức và Đà Lạt[sửa | sửa mã nguồn]

Khóa Tên khóa Niên khóa Thời gian Tên Trường Chú thích
1
Lê Lợi
1951-1952
8 tháng
Sĩ quan Trừ bị Nam Định
1
Lê Văn Duyệt
1951-1952
8 tháng
Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
2
Phụng Sự
1952-1953
6 tháng
nt
3
Đống Đa 1
1953
7 tháng
nt
3p
Đống Đa 2[5]
1953-1954
7 tháng
nt
4
Cương Quyết 1
1953-1954
7 tháng
nt
4p
Cương Quyết 2[6]
1954
7 tháng
nt
5
Vì Dân
1954-1955
8 tháng
nt
5p
Vương Xuân Sỹ[7]
1954-1955
12 tháng
nt
6
Cộng Hòa
1957-1958
12 tháng
Liên trường Võ khoa
7
Nhân Vị
1958-1959
nt
nt
8
Bạch Đằng
1959-1960
nt
nt
9
Đoàn Kết
1959-1960
13 tháng
nt
10
Thành Tín
1960-1961
12 tháng
nt
11
Đồng Tiến
1961
11 tháng
nt
12
Trần Hưng Đạo
1961-1962
10 tháng
nt
13
Ấp chiến lược[8]
1962
nt
nt
14
Nhân Trí Dũng
1962-1963
nt
nt
15
Cách mạng
1963
nt
nt
16
Võ Tánh
1963-1964
8 tháng
nt
17
Nguyễn Thái Học
1964
9 tháng
Trường Bộ binh
18
Phan Văn Trị
1964-1965
nt
nt
19
Nguyễn Huệ
1964-1965
nt
nt
20
Xây dựng
1965
8 tháng
nt
21
1965-1966
13 tháng
nt
22
1966
10 tháng
nt
23
1966-1967
9 tháng
nt
24
1967
nt
nt
25
1967-1968
7 tháng
nt
26
1967-1968
7 tháng
nt
27
1967-1968
7 tháng
nt

Các khoá đặt tên theo năm học[sửa | sửa mã nguồn]

Năm học Khóa học Chú thích Năm học Khóa học Chú thích
1968[9]
1/68
2/68
3/68
4/68
5/68
6/68
7/68
8/68
9/68
Chín (9) khóa học
1972
1/72
(1/72)
2/72
(2/72)
3/72
4/72
(4B/72)
5/72
(5B/72)
6/72
6B/72
7/72
(7B/72)
8/72
8B/72
8C/72
9A/72
9B/72
9C/72
(10A/72)
(10B/72)
11/72
(12A/72)
Hai mươi ba (23) khóa học
Các khóa (1/72, 2/72, 4B/72, 5B/72, 7B/72, 10A/72, 10B/72 và 12A/72) thụ huấn tại trường Hạ sĩ quan Đồng Đế
(Thời điểm này chiến tranh tại Việt Nam đã lên đến đỉnh điểm. Do đó nhu cầu về cán bộ chỉ huy ở các đơn vị, nhất là các đơn vị Chủ lực quân cũng tăng theo. Bộ Quốc phòng đã phải ban hành lệnh Tổng động viên toàn miền Nam Việt Nam Cộng hòa)
1969
1/69
2/69
3/69
4/69
6/69
(6/69)
Sáu (6) khóa học
Khóa (6/69) thụ huấn tại trường Hạ sĩ quan Đồng Đế
1973
1/73
2A/73
2B/73
3/73
4/73
5/73
5B/73
6/73
7/73
8/73
9/73
Mười một (11) khóa học
1970
1/70
2/70
3/70
4/70
5/70
6/70

Sáu (6) khóa học
1974
1/74
2/74
3/74
Ba (3) khóa học
(Khóa 3/74 còn đang thụ huấn dở dang tại Huấn khu Long Thành thì xảy ra biến cố 30/4/1975)
1971
1/71
3/71
4/71
5/71
Bốn (4) khóa học
1975
1/75
Một (1) khóa học
(Mới khai giảng tại Huấn khu Long Thành)
  • Trong thời gian từ 1951 đến 1974, các trường Nam Định, Thủ Đức và Đồng Đế đã huấn luyện và đào tạo được tất cả là 90 khóa sĩ quan trừ bị. Trong số các khóa sĩ quan trừ bị (tính cả ba khóa thụ huấn tại Đà Lạt), sau này có được 43 vị tướng lãnh (Nam Định 11 vị, Thủ Đức 30 vị và Đà Lạt 2 vị).

Tướng lãnh xuất thân từ Nam Định[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc
sau cùng
Năm phong Chú thích
1
Lê Nguyên Khang
Trung tướng
1966[10]
2
Nguyễn Bảo Trị
nt
1967
3
Nguyễn Đức Thắng
nt
1968
4
Nguyễn Cao Kỳ
Thiếu tướng
1964
5
Nguyễn Duy Hinh
nt
1973
6
Nguyễn Chấn
Chuẩn tướng
1967
7
Đặng Đình Linh
nt
1972
8
Nguyễn Văn Lượng
nt
nt
9
Phạm Hữu Nhơn
nt
nt
10
Vũ Đức Nhuận
nt
nt
11
Đặng Cao Thăng
nt
nt
12
Phan Phụng Tiên
nt
nt
13
Nguyễn Hữu Tần
nt
1974

Tướng lãnh xuất thân từ Thủ Đức và khóa trừ bị Đà Lạt[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc
sau cùng
Năm phong Khóa học Chú thích
1
Trần Văn Minh
Không quân
Trung tướng
1968[11]
Khóa 1
2
Ngô Quang Trưởng
nt
1970
Khóa 4
3
Đồng Văn Khuyên
nt
1972
Khóa 1
4
Nguyễn Ngọc Loan
Thiếu tướng
1968
nt
5
Nguyễn Khoa Nam
nt
1972
Khóa 3
6
Phan Đình Soạn
nt
nt
Khóa 1
7
Võ Xuân Lành
nt
1974
nt
8
Nguyễn Khắc Bình
nt
1975
nt
9
Bùi Thế Lân
nt
nt
Khóa 4
10
Nguyễn Bá Liên
nt
1969
Khoá 3p
Truy thăng
11
Nguyễn Văn Khương
nt
1970
Khóa 2
Truy thăng
12
Nguyễn Văn Thiện
nt
nt
nt
13
Hồ Trung Hậu
nt
1971
Khóa 4
14
Đỗ Văn An
nt
1972
nt
Truy thăng
15
Nguyễn Trọng Bảo
nt
nt
nt
Truy thăng
16
Ngô Hán Đồng
nt
nt
Khóa 2
Truy thăng
17
Lê Văn Hưng
nt
nt
Khóa 5
Tự sát ngày 30/4/1975
18
Huỳnh Văn Lạc
nt
nt
Khóa 3
19
Trần Quốc Lịch
nt
nt
Khóa 4p
20
Lê Quang Lưỡng
nt
nt
Khóa 4
21
Huỳnh Bá Tính
nt
nt
Khoá 1
22
Huỳnh Công Thành
nt
1973
nt
Truy thăng
23
Bùi Quý Cảo
nt
1974
Khóa 2
Truy thăng
24
Nguyễn Văn Điềm
nt
nt
Khóa 4
25
Phạm Ngọc Sang
nt
nt
Khóa 1
26
Trương Bảy
nt
1975
nt
27
Nguyễn Văn Giàu
nt
nt
Khóa 3
28
Chung Tấn Phát
nt
nt
nt
29
Trang Sĩ Tấn
nt
nt
Khóa 16
Thụ huấn bổ túc
30
Phạm Duy Tất
nt
nt
Khóa 4p
(10B Đà Lạt)

Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thiếu tướng Georges Bouillet (Thủ Đức từ 1/10/1951)[12]
  2. Thiếu tá Tilly (Nam Định từ 1/10/1951)
  3. Đại tá Chalandon (Nam Định + Thủ Đức từ 5/1/1952)
Stt Họ và Tên Cấp bậc
tại nhiệm
Thời gian
tại chức
Tên Trường Chú thích
1
Phạm Văn Cảm
Thiếu sinh quân Pháp[13]
Đại tá
11/1953-9/1956
Sĩ quan Trừ bị
Giải ngũ ở cấp Đại tá
2
Lê Văn Nghiêm
Võ bị Lục quân Pháp
Thiếu tướng
(1955)
9/1956-5/1961
Sĩ quan Trừ bị
Liên trường Võ khoa
(1957)
Giải ngũ năm 1965 ở cấp Trung tướng
3
Nguyễn Văn Chuân
Võ bị Huế K1
Đại tá
(1958)
5/1961-7/1961
nt
Giải ngũ năm 1966 ở cấp Thiếu tướng
4
Hồ Văn Tố
Võ bị Huế K2
Thiếu tướng
7/1961-5/1962
nt
Từ trần đột ngột năm 1962
5
Phan Đình Thứ
(Lam Sơn)
Võ bị Lục quân Pháp
Đại tá
(1958)
5/1962-11/1963
Liên trường Võ khoa
Sĩ quan Trừ bị
(8/1963)
Giải ngũ năm 1973 ở cấp Chuẩn tướng
6
Trần Ngọc Tám
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà lạt
Thiếu tướng
(1958)
11/1963-4/1964
nt
Giải ngũ năm 1974 ở cấp Trung tướng
7
Bùi Hữu Nhơn
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
Chuẩn tướng
(3/1964)
4/1964-11/1964
Sĩ quan Trừ bị
Trường Bộ binh
(7/1964)
Chỉ huy trưởng lần thứ 1
8
Cao Hảo Hớn
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
Chuẩn tướng
(5/1964)
11/1964-5/1965
nt
Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng
9
Trần Văn Trung
Võ bị Huế K1
Đại tá
(1958)
Chuẩn tướng
(11/1965)
5/1965-12/1966
nt
Sau cùng là Trung tướng Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị
10
Bùi Hữu Nhơn
Thiếu tướng
(1965)
12/1966-4/1967
nt
Tái nhiệm Chỉ huy trưởng lần thứ 2. Giải ngũ năm 1968 ở cấp Thiếu tướng
11
Lâm Quang Thơ
Võ bị Đà Lạt K3
Đại tá
(1965)
Chuẩn tướng
(6/1968)
4/1967-8/1969
nt
Sau cùng là Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt
12
Phạm Quốc Thuần
Võ bị Đà Lạt K5
Thiếu tướng
(6/1968)
Trung tướng
(8/1971)
8/1969-10/1973
nt
Sau cùng là Trung tướng Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Đồng Đế
13
Nguyễn Văn Minh
Võ bị Đà Lạt K4
Trung tướng
(11/1972)
10/1973-11/1974
nt
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Biệt khu Thủ đô
14
Nguyễn Vĩnh Nghi
Võ bị Đà Lạt K5
Trung tướng
(3/1974)
11/1974-4/1975
nt
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh phó Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Tiền phương, đảm trách phòng tuyến Phan Rang
15
Trần Đức Minh[14]
Võ khoa Thủ Đức K3p
(Khóa 9B Đà Lạt)
Đại tá
4/1975
nt
Chỉ huy trưởng sau cùng

Nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Họa sĩ Tạ Tỵ[15][16]
  • Nhà văn Văn Quang[17]
  • Trung úy Nguyễn Lương Y (Tốt nghiệp thủ khoa khóa 15), từng là thư ký riêng của tướng Nguyễn Chánh Thi, một tình báo viên được nhà nước Việt Nam công nhận liệt sĩ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trịnh Quang Chiếu. "Quân trường hoài niệm". Hội Ái hữu Khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Vì Dân, Kỷ yếu kỷ niệm 60 năm 1954-2014. 2014. Tr 268-71
  2. ^ Trung nghĩa Đài
  3. ^ Lịch sử Quân trường Đồng Đế
  4. ^ "Ðường trường xa, cựu sĩ quan Thủ Ðức vẫn một lòng đi tới" theo báo Người Việt
  5. ^ Được gửi đi thụ huấn ở trường Võ bị Đà Lạt mang tên khóa 9B Trừ bị
  6. ^ Được gửi đi thụ huấn ở trường Võ bị Đà Lạt mang tên khóa 10B Trừ bị.
  7. ^ Được gửi đi thụ huấn ở trường Võ bị Đà Lạt mang tên khóa 11B Trừ bị.
  8. ^ Tên khóa học "Ấp Chiến Lược" còn được đặt cho khóa 16 sĩ quan võ bị thụ huấn ở Đà Lạt và khóa 3 Sĩ quan Hiện dịch Đặc biệt thụ huấn ở Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang. Cả ba khóa, dù khai giảng khác thời điểm nhưng đều mãn khóa vào tháng 12 năm 1962.
  9. ^ Thời gian thụ huấn chỉ còn 6 tháng tại Quân trường và 3 tháng thử nghiệm thực tế (chiến dịch) tại các đơn vị.
  10. ^ Thứ tự từ Trung tướng, Thiếu tướng, Chuẩn tướng và theo năm được phong cấp
  11. ^ Thứ tự từ Trung tướng, Thiếu tướng, Chuẩn tướng và theo năm được phong cấp.
  12. ^ Ban đầu các Chỉ huy trưởng là Sĩ quan người Pháp
  13. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan
  14. ^ Sinh năm 1932 tại Thái Bình
  15. ^ Tên thật là Tạ Văn Tỵ, Sinh năm 1921 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 4 Cương Quyết 1. Chức vụ sau cùng: Trung tá phục vụ trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị
  16. ^ Tạ Tỵ đã ra đi
  17. ^ Tên thật là Nguyễn Quang Tuyến. Sinh năm 1933 tại Thái Bình, tốt nghiệp khóa 4 Cương Quyết 1. Chức vụ sau cùng: Trung tá phục vụ trong Cục Chính huấn thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]