Nguyễn Đức Thắng (tướng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN ĐỨC Thắng
Tiểu sử
Sinh Tháng 1 năm 1930 (87 tuổi)
Cao Bằng, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1973
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Flag of ARVN's Artillery Forces.svg Binh chủng Ph.Binh[1]
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
ARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu[2]
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Tổng trưởng Xây dựng Nông thôn

Nguyễn Đức Thắng (sinh 1930), nguyên là một cựu tướng lĩnh gốc Pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên và cũng là khóa duy nhất tại trường Sĩ quan Trừ do Quốc gia Việt Nam mở ra miền Bắc Việt Nam. Tốt nghiệp ông được chọn về đơn vị Pháo binh và đã phục vụ chuyên ngành một thời gian. Sau đó ông được chuyển nhiệm vụ sang đơn vị Bộ binh và các đơn vị khác. Ông đã từng chỉ huy các Sư đoàn Bộ binh và Chỉ huy trưởng Binh chủng gốc của mình. Ông được đánh giá là một vị tướng giỏi về Pháo binh. Ông cũng là một vị tướng thanh liêm của Việt Nam Cộng hòa.[3]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 1 năm 1930 trong gia đình trung lưu khá giả tại Cao Bằng, vùng Tây Bắc miền Bắc Việt Nam. Khi lên Trung học, do gia đình có điều kiện về mặt kinh tế, nên ông được gửi về Hà Nội theo chương trình Pháp tại trường Lycée Albert Saraut. Năm 1950, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau này, trong đời sống quân ngũ, ông luôn trau dồi văn hóa. Nên sau khi được giải ngũ, ông ghi danh học tiếp lên Đại học.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 9 năm 1951, thi hành lệnh động viên của Quốc trưởng Bảo Đại, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 50/300.515. Theo học khóa 1 Lê lợi tại trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1951. Sau 2 tuần thụ huấn, cùng trong số 18 khóa sinh được chuyển vào trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức nhập chung với khóa 1 Lê Văn Duyệt (khai giảng cùng ngày với trường Nam Định) để tiếp tục theo học ngành chuyên môn Pháo binh. Ngày 11 tháng 6 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy.[4] Ra trường, ông được chuyển đi làm sĩ quan Tiền sát Pháo binh thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 54 Việt Nam, đồn trú tại Ninh Giang do Đại úy Nguyễn Văn Huấn[5] làm Tiểu đoàn trưởng. Tháng 2 năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 2 Pháo binh.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954 Hiệp định Genève được ký kết, ông cùng đơn vị di chuyển vào Nam. Ba tháng sau ông được thăng cấp Đại úy được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Pháo binh[6]

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1955, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm sau đó bàn giao Tiểu đoàn 2 lại cho Đại úy Trần Văn Cẩm. Cuối năm chuyển biên chế sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa[7] Đến đầu năm 1958, ông được thăng cấp Trung tá, chuyển về Liên trường Võ khoa Thủ Đức giữ chức vụ Trưởng khối Huấn luyện.

Đầu năm 1961, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay thế Đại tá Tôn Thất Xứng. Một sau ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 10 cùng năm, nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 1 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, chuyển nhiệm vụ sang Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Trần Ngọc Tám.

Cuối năm 1962, một lần nữa bàn giao Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Thiệu, ông được chuyển về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Trưởng phòng Kế hoạch Hành quân. Giữa năm 1964, ông được kiêm thêm chức vụ Trưởng phòng 3 Bộ Tổng tham mưu, thay thế Đại tá Đặng Văn Quang.[8] Ngày 11 tháng 8 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.[9] Tháng 9 năm 1965, ông tham chính được cử làm Uỷ viên Xây dựng Nông thôn trong Nội các Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 1 tháng 11 cùng năm ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Đầu năm 1966 và tháng 3 năm 1967, ông được cử tháp tùng Phái đoàn Chính phủ do Trung tướng Thiệu và Thiếu tướng Kỳ làm trưởng và phó đoàn, tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Honolulu với Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Baines Johnson. Tháng 11 năm 1967, ông chính thức giữ chức vụ Tổng trưởng Xây dựng Nông thôn trong Nội các Chính phủ Nguyễn Văn Lộc của nền Đệ nhị Cộng hòa.

Trung tuần tháng 2 năm 1968, bàn giao Bộ Xây dựng Nông thôn lại cho Trung tướng Nguyễn Bảo Trị, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật. Bố tháng sau, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Tháng 8 cùng năm, bàn giao Quân đoàn IV lại cho Trung tướng Nguyễn Văn Là, ông được chuyển về Trung ương giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh Trung ương. Giữa năm 1969, chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Phụ tá Kế hoạch cho Tổng Tham mưu trưởng.

Đầu năm 1973, ông xin nghỉ dài hạn không lương để học tiếp chương trình Đại học lấy bằng Cử nhân. Cùng năm ông được giải ngũ.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó được sang định cư tại Tiểu bang Connecticut, Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tướng Nguyễn Đức Thắng có hai giai đoạn phục vụ trong Binh chủng Pháo binh. Giai đoạn 1: từ Thiếu úy Trung đội trưởng đến Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng (1952-1955). Giai đoạn 2: Trung tướng Chỉ huy trưởng Binh chủng (1968)
  2. ^ Hai lần phục tại Bộ Tổng Tham mưu. Lần thứ nhất: Đại tá Trưởng phòng Kế hoạch Hành quân, Chuẩn tướng Trưởng phòng 3 (1962-1965). Lần thứ hai: Trung tướng Phụ tá Kế hoạch cho Tổng Tham mưu trưởng (1069-1973)
  3. ^ Trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa có 4 vị tướng được xem là có đức độ và thanh liêm:
    -Nguyễn Đức Thắng
    -Phan Trọng Chinh (SN 1931, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K5. Chức vụ sau cùng: Chỉ huy trưởng trường Chỉ huy và Tham mưu)
    -Nguyễn Viết Thanh (SN 1931, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K4. Chức vụ sau cùng: Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4, năm 1970 bị tử nạn trực thăng được truy thăng Trung tướng)
    -Ngô Quang Trưởng (SN 1929, tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức K4. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1)
    -Đã được giới quân nhân đương thời truyền tụng: "Nhất Thắng, Nhì Chinh, Tam Thanh, Tứ Trưởng"
  4. ^ Do được theo học ngành chuyên môn (Pháo binh) nên số 18 học viên ở trường Nam Định gửi vào trường Thủ Đức tốt nghiệp và mãn khóa sau 10 ngày so với các học viên đồng khóa Lê Lợi và Lê Văn Duyệt (cả hai đều mãn khóa ngày 1 tháng 6 năm 1952).
  5. ^ Đại úy Nguyễn Văn Huấn, sinh năm 1925 tại Nam Định, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Đại tá Chỉ huy phó Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  6. ^ Tiểu đoàn 2 Pháo binh được thành lập ngày 1 tháng 2 năm 1953 tại Đệ nhị Quân khu Trung Việt, Huế.
  7. ^ Sinh năm 1930 tại Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Chuẩn tướng Tư lệnh phó kiêm Phụ tá Hành quân Tư lệnh Quân đoàn II.
  8. ^ Đại tá Đặng Văn Quang được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh.
  9. ^ Cùng được thăng cấp Chuẩn tướng với Đại tá Nguyễn Đức Thắng ngày 11 tháng 8 năm 1964, còn có các Đại tá:
    -Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh Lộc, Lê Nguyên KhangHoàng Xuân Lãm

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trang 203-204.