Nguyễn Viết Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
  • Nguyễn Viết Thanh (1931–1970) nguyên là một tướng lĩnh của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa. Năm 1970, tử nạn được truy phong hàm Trung tướng. Xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia. Ông là một chỉ huy tài năng, đức độ, được binh sĩ thuộc cấp quý mến và kính phục. Là một trong số các tướng lĩnh được đánh giá tài giỏi & thanh liêm và được lưu truyền trong Quân lực: (Nhất Thắng, Nhì Chinh, Tam Thanh, Tứ Trưởng), đó là các Trung tướng Nguyễn Đức Thắng, Phan Trọng Chinh & Ngô Quang Trưởng).

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 31/3/1931 tại Tân An, Long An, miền nam Việt Nam.

Là học sinh Trường Lasan Taberd và trường Lycée Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Tốt nghiệp Tú tài.

  • Song thân: Cụ Nguyễn Văn Chi (công chức) & Cụ Nguyễn Thị Hành.
  • Bào đệ: Nguyễn Viết Cần (sinh 1933 tại Tân An, khoá 4 sĩ quan Thủ Đức. Năm 1972 là Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 33 thuộc Sư đoàn 21 bộ binh. Tháng 6 cùng năm, tử trận được truy thăng Đại tá)
  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết (Ông bà có 7 người con gồm 4 trai, 3 gái)

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951: Cuối năm ra trường, giữ chức Trung đội trưởng Trung đội 12, Đại đội 51 Tiểu đoàn 15 Việt Nam (thành lập ngày 1-7-1951), đồn trú tại Rạch Giá.

Năm 1952: Đảm nhiệm chức vụ Đại đội trưởng (vẫn thuộc Tiểu đoàn 15).

Năm 1953: Thăng cấp Trung úy, cuối năm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 707 Địa phương.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Thăng cấp Đại úy, giữa năm được cử đi học khoá Trung đoàn trưởng tại Trung tâm Nghiên cứu Quân sự (tiền thân của Trường Chỉ huy & Tham mưu), mãn khoá cuối năm.

Năm 1956: Đầu năm, Tham mưu trưởng Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, sau đó du học khoá Bộ binh cao cấp tại Trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Columbus, Georgia, Hoa Kỳ.

Năm 1957: Tháng 3, Liên đoàn trưởng Liên đoàn khoá sinh (khoá 6 Cộng hòa, Liên trường Võ khoa Thủ Đức)*.

Năm 1959: Ngày 26/10 thăng cấp Thiếu tá - Qua năm 1960: Nhận chức Chánh Sự Vụ Sở Kế Hoạch Tổng Nha Bảo An.

Năm 1961: Ông được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh Trưởng Long An thay thế Thiếu tá Mai Ngọc Dược (giải ngũ ở cấp Trung tá).

Năm 1962: giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12, Sư đoàn 7 Bộ binh thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Xuân (Khoá 3 Đà Lạt, sau là Đại tá).

Năm 1963: Ngày 20/12 được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Gò Công tái lập

Năm 1964: Ông được thăng cấp Trung tá.

Năm 1965: Tháng 4, bàn giao tỉnh Gò Công lại cho Thiếu tá Trần Thanh Xuân (giải ngũ ở cấp Trung tá). Giữa năm ông được thăng chức Đại tá. Tháng 10 cùng năm, ông được cử giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh (thay thế Thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị đi làm Tư lệnh Quân đoàn III & Vùng 3 Chiến thuật).

Năm 1966: Ngày 19/6 vinh thăng Chuẩn tướng. Tháng 10 cùng năm chuyển sang Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh.

Năm 1968: Ngày 19-6 vinh thăng Thiếu tướng, bàn giao Sư đoàn 5 lại cho Chuẩn tướng Nguyễn Thành Hoàng (nguyên Tham mưu trưởng Quân đoàn III). Tháng 7 cùng năm được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng 4 chiến thuật.

Năm 1970: Ngày 2/5. Ông bị tử nạn trực thăng, sát biên giới Việt-Miên khi đang bay thị sát mặt trận trên vùng trời hai tỉnh Kiến PhongKiến Tường.

Ông được truy thăng Trung tướng và truy tặng Đệ nhị đẳng Bảo quốc Huân chương.

Ngày 8/5 tang lễ được cử hành theo nghi lễ quân cách và an táng tại Nghĩa trang Đô thành Mạc Đĩnh Chi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

*Tên ban đầu: Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, sau cải danh thành Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, cuối cùng cải danh thành Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bổ sung theo:
  • Nguồn: "Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng hòa -Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011,

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]