Nguyễn Văn Vỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN VĂN VỸ
Tiểu sử
Sinh 16 tháng 1, 1916
Hà Nội, Việt Nam
Mất 1981 (65 tuổi)
Begin, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1940-1973
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
Coat of Arms of South Vietnam (1954 - 1955).svg Chánh Võ phòng
Tổ quốc - Đại dương.gif Vùng Duyên hải
Flag of the Vietnamese National Army.svg Tổng Tham mưu QĐQG
Hiệu kỳ Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.png TTHL Quang Trung
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu[1]
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Viễn chinh Pháp
Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ II[2]
Công việc khác Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg Tổng trưởng Q.Phòng

Nguyễn Văn Vỹ (1916-1981), nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị do Quân đội Pháp mở ra ở miền Bắc Việt Nam Ông từng được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia. Là một trong số ít sĩ quan được phong tướng thời kỳ Quốc gia Việt Nam. Ông cũng từng giữ chức vụ Tổng Tư lệnh Quân đội thời Đệ nhị Cộng hòa. Về sau ông tham chính và được bổ nhiệm chức vụ Tổng trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 16 tháng 1 năm 1916 tại Hà Nội trong một gia đình trung lưu. Ông là học sinh trường Albert Sarraut tại Hà Nội. Năm 1937, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau đó, theo học Đại học Luật tại Hà Nội từ năm 1937 đến năm 1940.

Quân đội Viễn chinh Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1940, ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp, theo học khóa đầu tiên tại trường Võ Bị Tông Sơn Tây. Một năm sau tốt nghiệp ra trường với cấp bậc Chuẩn úy Bộ binh. Năm 1942, ông được thăng cấp Thiếu úy và được cử làm Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 4 Bộ binh Bắc Kỳ.

Năm 1945, ông được thăng cấp Trung uý, chuyển sang làm Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 19 Bộ binh Viễn chinh thuộc địa. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, ông vượt biển, đào thoát sang Trung Quốc, gia nhập Lực lượng lưu vong của tướng Pháp Marcel Alessandri. Năm 1946, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Liên đội Biệt kích Trinh sát hỗn hợp Việt-Pháp, trú đóng tại Nam Trung Quốc.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1947, sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông trở về Việt Nam và được thăng cấp Đại úy, giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 4 Biệt kích thuộc Tiểu đoàn Lưu động Đông Dương đóng tại vùng Việt Bắc. Sau đó, toàn Đại đội đi thụ huấn khóa học Nhảy dù và được đổi tên là Đại đội Nhảy dù Bắc Việt. Đầu năm 1949, ôn được chuyển qua làm Đại đội trưởng Đại đội 3 Nhảy dù Đông Dương, thuộc Tiểu đoàn 3 Biệt kích Nhảy dù, ông đã tham gia nhiều chiến dịch tại miền Bắc Việt Nam.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đến đầu năm 1951, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi du học khoá Tham mưu cao cấp tại Paris, Pháp. Tháng 6 cùng năm mãn khoá về nước ông được thăng cấp Trung tá. Đầu năm 1952, ông được Bộ Quốc phòng Pháp chuyển sang Quân đội Quốc gia Việt Nam. Sau khi sát nhập ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm làm Chánh Võ phòng Quốc Trưởng Bảo Đại thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh được Quốc trưởng chỉ định lên làm Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia.

Thượng tuần tháng 3 năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Vùng Duyên Hải kiêm Phụ tá Quân sự Thủ hiến Trung Việt. Sau ngày ký Hiệp định Genève 20 tháng 7 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng, tái bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Võ phòng Quốc trưởng Bảo Đại.

Tổng tham mưu trưởng trên giấy[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 11 năm 1954, ông được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm Quyền Tổng Tham mưu trưởng thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Hinh được Quốc trưởng triệu hồi sang Pháp trình diện. Tuy nhiên đến ngày 1 tháng 12 cuối năm, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lại ký Nghị định bổ nhiệm tân Thiếu tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng tham mưu trưởng, dù không được Quốc trưởng đồng ý phê duyệt.

Mặc dù vậy, dưới áp lực của các sĩ quan cao cấp ủng hộ Thủ tướng Diệm, ông buộc phải bàn giao chức vụ Tổng tham mưu trưởng cho tướng Tỵ, Để xoa dịu, Thủ tướng Diệm đã bổ nhiệm ông giữ chức Tổng Thanh tra Quân đội kiêm Tham mưu trưởng Võ phòng Quốc trưởng. Tuy vậy, đến ngày 28 tháng 4 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại từ Cannes gửi điện văn cho Thủ tướng Diệm biết là đã đề cử Tướng Vỹ làm Tổng Tham mưu trưởng. Ngày 30 tháng 4 năm 1955, ông cùng Đại tá Nguyễn Tuyên, Chỉ huy trưởng Ngự lâm quân Võ phòng Quốc trưởng, từ Đà Lạt vào Sài Gòn để yêu cầu tướng Tỵ phải bàn giao lại chức vụ Tổng Tham mưu trưởng. Trong buổi họp tại Dinh Độc Lập chiều cùng ngày, ông đã bị nhà văn Nhị Lang rút súng đe dọa.[3]

Sau biến cố này, ông nhanh chóng trở về Đà lạt, từ đó bay sang Campuchia rồi sang Pháp sống lưu vong. Tại Sài Gòn, ngày 12 tháng 5 năm 1955, Thủ tướng Diệm bãi chức Tổng Thanh tra Quân đội của ông và sát nhập Lực lượng Ngự lâm quân vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngày 21 tháng 5 năm 1955, ông cùng Đại tá Nguyễn Tuyên bị đưa ra Tòa án Quân sự về tội phá hoại an ninh và phản bội Quốc gia nhưng trước đó, hai ông đã sang Pháp.

Trở lại Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Mãi đến sau cuộc đảo chính 1963 lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm, ông cùng một số sĩ quan lưu vong tại Pháp mới trở về nước. Tuy nhiên, không lâu sau đó, tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc Chỉnh lý, ông cùng các tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn KimMai Hữu Xuân bị giam lỏng tại Đà Lạt một thời gian với lý do có xu hướng trung lập. Sau khi được trả tự do, ông được tái ngũ và được bổ nhiệm làm Đổng lý Văn phòng Tổng Tư lệnh (tương đương chức vụ Chánh văn phòng Bộ Tổng tham mưu cũ) vào tháng 10 năm 1964.

Trung tuần tháng 2 năm 1965, sau khi tướng Nguyễn Khánh dưới áp lực của các tướng trẻ buộc phải lưu vong, Bộ Tổng Tư lệnh chuyển lại thành Bộ Tổng tham mưu, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Quân trường Quang Trung.

Tháng 6 năm 1966, ông được chuyển sang giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn sau khi bàn giao Trung tâm Huấn luyện Quang Trung lại cho Đại tá Lê Ngọc Triển. Tháng 11 cùng năm, ông được chỉ định giữ chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu thay thế Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn[4]

Tháng 10 năm 1967, ông được thăng cấp Trung tướng. Ngày 24 tháng 11 cùng năm, bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng lại cho Thiếu tướng Trần Thanh Phong. Cùng ngày, ông tham chính vào Nội các Chính phủ, được cử giữ chức vụ Tổng trưởng Quốc phòng, lần lượt qua các đời các Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc (1967), Trần Văn Hương (1968) và Trần Thiện Khiêm (1969).

Tháng 8 năm 1972, ông từ xin chức Tổng trưởng Quốc phòng. Tháng 3 năm 1973, ông được giải ngũ với lý do đã phục vụ Quân đội trên 20 năm, cùng lượt với các tướng Nguyễn Văn Là, Trần Ngọc Tám, Ngô Du, Linh Quang Viên...

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, ông cũng bị Chính quyền mới gọi ra trình diện để đi tập trung cải tạo. Nhưng ngay vào thời điểm này ông bị trọng bệnh, phải khiêng cáng đến Đại học xá Minh Mạng và bị giam tại đây đến cuối năm 1975. Sau đó bị đưa về điều trị tại Bệnh viện Saint Paul trong tình trạng quản thúc. Năm 1979, nhân chuyến công du của Đại tướng Biegard (Thứ trưởng Quốc phòng Pháp) tại Hà Nội. Vị Đại tướng này đã can thiệp nên ông được cho sang Pháp chữa trị bệnh nan y. Nhưng bệnh tình của ông ngày càng trở nặng, đến năm 1981 ông từ trần tại Quân y Viện Begin, Pháp. Hưởng thọ 65 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Một số Huy chương Quân sự và Dân sự Việt Nam.
  • Chevalier de la Legion d'Honneur (Pháp)
  • Chiến tranh Bội tinh (Do Chính phủ Pháp tặng thưởng tại chiến trường Hải ngoại).
  • 1 Chiến thương Bội tinh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tướng Nguyễn Văn Vỹ có hai lần tùng sự tại Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Lần thứ nhất: Thiếu tướng Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn (1966). Lần thứ hai: Trung tướng Tham mưu trưởng (1967).
  2. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng.
  3. ^ Trần Văn Đôn, "Việt Nam nhân chứng", tr. 125
  4. ^ Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn được tái nhiệm Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức lần thứ 2.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.