Lê Văn Tỵ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Văn Tỵ
Tiểu sử
Quốc tịch  Việt Nam Cộng hòa
Sinh

17 tháng 5, 1904

Thắng Tam. Vũng Tàu
Mất

20 tháng 10, 1964 (60 tuổi)

Sài Gòn,  Việt Nam Cộng hòa
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1922-1964
Cấp bậc US-O11 insignia.svg Thống tướng
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Lê Văn Tỵ (1904-1964), nguyên là một tướng lĩnh trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Xuất thân từ trường Thiếu sinh quân và trường Huấn luyện Quân sự Pháp. Ông là vị Thống tướng đầu tiên và duy nhất của Quân đội miền Nam Việt Nam. Ông phục vụ Quân đội từ ngày nhập ngũ cho đến khi từ trần, có 43 năm thâm niên quân vụ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm 1904 tại làng Thắng Tam, Vũng Tàu. Là con cả trong một gia đình bình dân gồm 4 anh em trai và 3 chị em gái.

Năm 1915: Sau khi đậu bằng Tiểu học. Ông được Thân phụ (nguyên là quân nhân trong Quân đội Pháp) gửi vào học ở trường Thiếu sinh quân Đông Dương tại Thủ Dầu Một. Năm 1922, ra trường với bằng cấp tương đương Trung học Đệ nhị cấp của chương trình phổ thông.

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1922: Sau khi tốt nghiệp Thiếu sinh quân, ông nhập ngũ vào Quân đội Viễn chinh Pháp tại Việt Nam với hàm Trung sĩ giữ chức Tiểu đội trưởng thuộc đơn vị Địa phương.

Năm 1928: Ông được đơn vị cho đi du học tại Trung tâm Huấn luyện Quân sự Frejus Pháp, ngành pháo binh. Tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy và được ở lại phục vụ Trung tâm. Mãi đến năm 1933 ông mới về nước, tiếp tục phục vụ trong đơn vị bộ binh của Quân đội thuộc địa. Một năm sau (1934), ông được thăng cấp Thiếu úy. Năm 1940, ông được thăng cấp Trung úy.

Năm 1945: Sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương vào ngày 9/3, cùng một số quân nhân Pháp theo đơn vị rút về Cà Mau để kháng Nhật. Khi Quân đội Pháp được lệnh đầu hàng, di chuyển về Hương Mỹ, Bến Tre là quê hương của phu nhân.

Năm 1946: Trở lại Sài Gòn, khi ngang qua Tân Trụ (Long An), ông bị Việt Minh bắt giữ và đem xử bắn. tới giờ hành quyết, ông được giải thoát bởi chính 2 xạ thủ là cựu quân nhân thuộc quyền lúc trước (Hai người này về sau hồi chánh và được phục vụ dưới quyền ông cho tới khi ông từ trần). Khi về tới Sài Gòn ông lại bị Pháp giam kỷ luật, thời gian sau ông được tái được tái phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Cuối năm, ông được thăng cấp Đại úy.

Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1948: Ông được điều chuyển sang làm Chánh võ phòng Thủ tướng Chính phủ Nam phần Việt Nam Nguyễn Văn Xuân. (Thời điểm này Trung úy Trần Tử Oai giữ chức phó Võ phòng, Trung úy Trần Văn Đôn giữ chức sĩ quan Tuỳ viên).

Năm 1949: Ông được thăng cấp Thiếu tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Vệ binh Nam việt kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Vệ binh Danh dự.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950: Khi quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập ở cấp phần (Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt), ông được thăng cấp Trung tá giữ chức Tham mưu Biệt bộ Bộ Quốc phòng và là sĩ quan Việt Nam có cấp bậc cao nhất tại Nam Việt lúc bấy giờ.

Năm 1951: Đầu tháng 6, ông được cử làm Tổng chỉ huy cuộc duyệt binh đầu tiên của quân đội Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn nhân ngày "Hưng quốc khánh niệm" (kỷ niệm lần thứ 149 ngày chúa Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế, niên hiệu Gia Long) dưới sự chứng kiến của Quốc trưởng Bảo Đại. Ngay sau đó, ông được thăng cấp Đại tá.

Năm 1952: Tháng 4, nhận chức Tham mưu trưởng Liên quân Quân Đội Quốc gia, đồng thời làm Chánh chủ khảo kỳ thi tốt nghiệp khoá 5 Hoàng Diệu trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Tháng 7, ông được cử giữ chức Tư lệnh đầu tiên Đệ nhất Quân khu Nam Việt (khi lãnh thổ Việt Nam được chia thành 4 Quân khu).

Năm 1954: Chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước nắm quyền Thủ tướng. Cuối năm, ông được vinh thăng Thiếu tướng, bàn giao chức Tư lệnh Đệ nhất Quân khu Nam Việt lại cho Đại tá Trần Văn Minh (Lục quân) (nguyên Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu). Sau đó, ông được bổ nhiệm giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Hinh.

  • Việc này đã làm bùng nổ xung đột tranh giành quyền lực trong quân đội. Ngày 28 tháng 4 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại từ Cannes gửi điện về Sài Gòn báo cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia và yêu cầu Thủ tướng sang Pháp trình bày về tình hình. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm đã từ chối thực hiện. Cộng với sự ủng hộ của các tướng lĩnh, ông được tín nhiệm lưu chức.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Ngày 26/10, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thực hiện trưng cầu dân ý, phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ông được vinh thăng Trung tướng.

Năm 1956: Cuối năm, ông được vinh thăng Đại tướng tại nhiệm. (Ông giữ chức vụ Tổng tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam Cộng hòa từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 7 năm 1963).

Năm 1959: Hướng dẫn phái đoàn công du thăm viếng Tân Gia Ba (Singapore) và Mã Lai (Malaysia).

Năm 1963: Cuối tháng 7, ông sang Mỹ chữa trị ung thư phổi phải. Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm Tham mưu trưởng Liên quân được cử tạm thời giữ chức quyền Tổng tham mưu trưởng. Sau đó, Trung tướng Trần Văn Đôn Tư lệnh Lục quân, được Tổng thống Ngô Đình Diệm cử giữ chức Quyền Tổng Tham mưu trưởng thay tướng Khiêm (Chính tướng Trần Văn Đôn là một trong những tướng lĩnh chủ chốt trong cuộc đảo chính lật đổ nền Đệ nhất Cộng hòa ngày 1 tháng 11 năm 1963).

Cuộc đảo chính 1/11/1963 thành công. Ông được cử làm Cố vấn trong Chính phủ lâm thời do Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng. Tuy nhiên, do sức khỏe yếu, ông không tham gia vào bất kỳ hoạt động quân sự và chính trị nào nữa.

Năm 1964: Đầu tháng 2, ông lại sang Mỹ điều trị bệnh một thời gian ngắn. Sau cuộc chỉnh lý nội bộ của tướng Nguyễn Khánh vào cuối tháng 1. Để tưởng thưởng công lao phục vụ quân đội của ông, ngày 21/7/1963 ông được phong cấp bậc Thống tướng vừa được đặt ra và được trao tặng Đệ nhất đẳng Bảo Quốc Huân chương. Ông trở thành vị thống tướng đầu tiên và duy nhất giữ cấp bậc cao nhất của Việt Nam Cộng hòa. Lễ phong hàm được tổ chức tại tư gia số 37 Cường Để (Sài Gòn), do Trung tướng Nguyễn Khánh, Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng chủ trì.

Ông từ trần ngày 20 tháng 10 năm 1964 tại Sài Gòn, hưởng thọ 61 tuổi. Lễ an táng của ông được cử hành theo nghi thức quốc gia. Linh cữu được đặt trên một chiếc Thiết vận xa M.113 di chuyển đến Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi và thi hài ông được an nghỉ tại đây.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Lê Văn Tỵ có 3 người con gồm 1 trai, 2 gái:

  1. Lê Thị Thu Hồng (Phu quân: Nguyễn Tất Huệ, Trung tá Quân cụ Việt Nam Cộng hòa. Định cư tại Anh)
  2. Lê Thị Thu Cúc (Định cư tại Pháp)
  3. Lê Anh Tuấn (Đại úy Nhảy dù, cải tạo 13 năm. Đinh cư tại Hoa Kỳ)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa". Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân và Lê Đình Thuỵ 2011