Tôn Thất Đính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TÔN THẤT ĐÍNH
Tiểu sử
Biệt danh Ba Đính
Sinh 20 tháng 11 năm 1926
Huế, Thừa Thiên
Việt Nam
Mất 21 tháng 11, 2013 (87 tuổi)
Santa Ana, California
Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1948-1966
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị ARVN 7th Division SSI.svg Liên đoàn 31 Lưu động
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Dã chiến
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Dã chiến
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân đội VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ II[1]
Công việc khác Thượng Nghị sĩ

Tôn Thất Đính (1926-2013), nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Trung Việt Nam, được sự cố vấn và hỗ trợ huấn luyện của Quân đội Pháp. Ông cũng là một Nghị sĩ giữ chức vụ cao trong Quốc hội Việt Nam Cộng hòa. Là một trong số ít các sĩ quan được ưu ái và thăng cấp tướng trong thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa. Tuy nhiên, ông lại là một trong những nhân vật chủ chốt trong cuộc Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963 và có liên quan đến cái chết của Ngô Đình Diệm, Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, và người em ruột là Cố vấn Ngô Đình Nhu.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có biệt danh là Ba Đính,[2] sinh ngày 20 tháng 11 năm 1926 Huế, Thừa Thiên trong một gia đình Tôn thất nhà Nguyễn. Cha mất sớm, ông được người anh cả là ông Tôn Thất Đĩnh đưa lên Đà Lạt nuôi dưỡng. Do truyền thống gia đình và nhờ sự giáo dục nghiêm khắc của người anh, dù có bản tính hiếu động nhưng ông vẫn có được một nền tảng giáo dục khá tốt thời bấy giờ. Năm 1944, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Đà Lạt với bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, ông trúng tuyển kỳ thi ngạch Thông phán tại Đà Lạt, tùng sự tại Tòa Công sứ Đà Lạt.

Tham gia kháng chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, Việt Minh giành chính quyền từ tay người Nhật Bản. Với sự nhiệt tình ái quốc của tuổi trẻ, khi người Pháp tái chiếm Bán đảo Đông Dương, ông hưởng ứng phong trào học sinh yêu nước trong cao trào kháng Pháp bấy giờ, tham gia Lực lượng Quân sự của Việt Minh chống Pháp, làm Ủy viên Chính trị một Trung đội trong Tiểu đoàn Vệ quốc Quân Việt Minh tại Đà Lạt [3]. Ông cùng đơn vị mình tham gia chiến đấu chống lại Liên quân Anh–Pháp–Nhật tại mặt trận Đà Lạt - Đơn Dương. Cùng chiến đấu tại đây có một Tiểu đoàn trưởng Việt Minh tên là Đỗ Mậu, người về sau đóng vai trò quan trọng cuộc đời binh nghiệp của ông sau này.[4]

Tuy nhiên do sự yếu kém trong tổ chức kháng chiến cũng như sức mạnh hỏa lực của đối phương, mặt trận nhanh chóng tan vỡ, đơn vị ông cũng tan rã hoàn toàn. Ông bỏ trốn về Đà Lạt, ẩn náu trong nhà người anh. Để tránh bị bắt bớ giam cầm, ông xin làm Thư ký cho Ty Cảnh sát Pháp. Nhưng đầu năm 1948, ông bị phát hiện từng tham gia Việt Minh chống Pháp nên bị Chính quyền Pháp bắt giam. Nhờ sự bảo lãnh của người anh trai, bấy giờ đang là một chuyên viên đang làm việc tại Viện Pasteur Đà Lạt, ông được thả tự do với cam kết không được tham gia các hoạt động chống Pháp.

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một chuyến về thăm gia đình tại Huế, ông gặp được một người quen cũ là Đỗ Mậu, bấy giờ đang làm Trưởng phòng 3 Bộ Tham mưu Việt binh Đoàn tại Huế, một Lực lượng Quân sự bổ sung (forces supplétives) của quân đội Pháp. Do sự giới thiệu của ông Mậu, ông gia nhập Việt binh Đoàn. Sau khóa đào tạo Hạ sĩ quan tại Mang Cá (Huế), ông được phân bổ về làm Thư ký ở phòng Bí thư Bộ Tham mưu với cấp bậc Trung sĩ.[4]

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1948, một khóa huấn luyện ngắn hạn để đào tạo cấp tốc một số sĩ quan Việt Nam bổ sung cho Quân đội Liên hiệp Pháp được mở tại Đập Đá, Huế.[5] Với học lực Tú tài Pháp, ông được cử theo học khóa 1 Bảo Đại,[6] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948. Ngày 1 tháng 6 năm 1949 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[7] Ra trường, ông được chuyển đến trường Hạ sĩ quan An Cựu, Huế làm Huấn luyện viên. Giữa năm 1950, ông được chọn sang Pháp du học ở trường Kỵ binh Saumur (École de cavalerie de Saumur).[8]

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1951, mãn khóa học về nước, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội Ngự lâm quân đồn trú tại Thành Nội Huế. Năm 1952, ông được thăng cấp Trung úy và được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 12 Việt Nam (12e BVN) kiêm Phân khu trưởng Phân khu Hòa Luật, Quảng Bình.

Bấy giờ, ông được đánh giá là "người can trường, say mê chiến trận, lập được nhiều chiến công nên được tướng Nguyễn Văn Hinh thương mến và được thăng cấp mau lẹ" [4].

Đầu năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy chuyển ra Bắc giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên đoàn Lưu động số 2 đồn trú ở Ninh Giang, Hải Dương. Tháng 7 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Trưởng Phân chi khu Thái Bình kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 22 Việt Nam (22e Bataillon du Vietnam - 22e BVN). Tháng 4 năm 1954, ông được thăng cấp Trung tá Tư lệnh Liên đoàn Lưu động số 31 Bộ binh tại Hải Dương.[9] Sau đó, ông được cử theo học khóa Chỉ huy Liên đoàn Chiến thuật cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Quân sự Hà Nội. Mãn khóa học, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Liên đoàn Lưu động số 32 Bộ binh Việt Nam.

Sau hiệp định Genève, ông cùng đơn vị di chuyển vào Nam, đóng quân tại Phân khu Duyên hải Nha Trang, liên tiếp chỉ huy đơn vị hành quân tiếp thu Bình Định, Quảng Ngãi, sau khi Lực lượng Việt Minh rút đi tập kết. Đầu tháng 8 năm 1954, được sự giới thiệu của Trung tá Đỗ Mậu ông bí mật gia nhập Đảng Cần Lao Nhân vị và trở thành một thành viên tích cực ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm giành được quyền lực, được cử làm Ủy viên Quân ủy Trung ương. Ngày 1 tháng 2 năm 1955, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Cùng thời điểm này Liên đoàn 32 chiến thuật được tổ chức thành Sư đoàn 32 Bộ binh tại Đà Nẵng và ông làm Tư lệnh Sư đoàn.[10]

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Vị tướng trẻ của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa

Sau khi Thủ tướng Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa và trở thành Tổng thống đầu tiên, ông trở thành một sĩ quan trẻ được trọng dụng. Ngày 22 tháng 11 năm 1956, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy và Tham mưu tại Học viện quân sự Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ sau khi bàn giao Sư đoàn Dã chiến số 2 (Sư đoàn 32) lại cho Trung tá Đặng Văn Sơn. Tháng 5 năm 1957, sau khi du học ở Mỹ về, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Dã chiến số 1. Cùng năm đó, ông được cử đi du học ngắn hạn khóa Chỉ huy Hành quân hỗn hợp Binh chủng ở trường Cao đẳng Chiến tranh tại Okinawa, Nhật Bản. Đầu tháng 8 năm 1958, ông được thăng cấp Thiếu tướng (khi mới 32 tuổi) và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II & Vùng 2 Chiến thuật, sau khi bàn giao Sư đoàn Dã chiến số 1 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Chuân

Người hùng Đảo chính 1963[sửa | sửa mã nguồn]

Dù có được sự sủng ái của Tổng thống Diệm, ông vẫn bị Cố vấn Nhu đánh giá là một người bốc đồng, tự cao tự đại và huênh hoang, thích rượu chè và tiệc tùng, những yếu tố rất nguy hiểm cho một tướng lĩnh cầm quân. Bên cạnh đó, ông cũng dính vào một số cáo buộc về việc bao che cho người anh trai Tôn Thất Đĩnh độc quyền khai thác gỗ ở Cao nguyên Trung phần cũng như việc đưa người em Tôn Thất Đình làm sĩ quan văn phòng để không phải tham gia chiến đấu. Mặc dù vậy, ông vẫn được xem là không có tham vọng chính trị và đứng đầu sổ về lòng trung thành với Tổng thống Diệm. Sau vụ Binh biến năm 1962 do 2 phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử lái 2 chiếc máy bay khu trục Skyraider ném bom Dinh Độc lập. Ngày 7 tháng 2 năm 1962, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn III & Vùng 3 Chiến thuật. Đến ngày 21 tháng 8 năm 1963, kiêm Tổng trấn Đô thành Sài Gòn, giám sát khu vực xung quanh Đô thành. Với vai trò đó, ông trở thành một yếu tố quan trọng trong sự thành công hay thất bại của bất kỳ cuộc đảo chính nào.

Cuối năm 1963, các sĩ quan cao cấp, vốn bị thất sủng, đã thuyết phục ông kiến nghị Tổng thống Diệm trao cho ông một chức vụ trong Nội các, dù biết rằng Tổng thống Diệm cực lực phản đối. Bất mãn khi bị Tổng thống Diệm khước từ, ông chấp nhận tham gia nhóm các sĩ quan dự định đảo chính.

Không nắm được những biến chuyển này, khi Tổng thống Diệm và em trai là cố vấn Ngô Đình Nhu biết được có một âm mưu đảo chính, đã lên kế hoạch một cuộc đảo chính giả nhằm bẫy đối thủ. Trong kế hoạch này, ông được giao đóng vai trò quan trọng cốt yếu. Hai anh em ông Diệm và Nhu đều không ngờ rằng, toàn bộ kế hoạch phản đảo chính đều bị tướng Đính thông tin cho nhóm đảo chính. Qua đó, nhóm đảo chính đã kịp thời bố trí các đơn vị trung thành với chế độ ở xa bên ngoài Sài Gòn và điều các lực lượng nổi dậy về gần Đô thành.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, cuộc Đảo chính nổ ra. Ông Diệm và Nhu bị lật đổ và bị hành quyết sau khi nhận ra một cách muộn màng sự phản bội của ông. Ngày 2 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tướng và được cử vào chức vụ Đệ Nhị Phó Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Tổng trưởng An ninh trong Nội các của Chính phủ Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ.

Ngày 30 tháng 1 năm 1964, do mâu thuẫn quyền lợi, tướng Nguyễn Khánh từ Pleiku đã lén về Sài Gòn tiến hành trót lọt "Cuộc Chỉnh lý". Ngày 5 tháng 2, ông bị tướng Khánh buộc bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III lại cho Trung tướng Trần Thiện Khiêm (nguyên Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu). Ngày 14 tháng 2, ông cùng các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu XuânNguyễn Văn Vỹ (mới trở về từ Pháp) bị buộc tội có xu hướng "Trung lập", bị bắt và quản thúc, loại khỏi Chính quyền Quân sự. Ông bị biệt giam tại Pleiku trong một thời gian, sau đó bị đưa về quản thúc tại Đà Lạt. Thời điểm này ở Cao nguyên Trung phần xảy ra cuộc bạo loạn do lực lượng Fulro của người một nhóm người sắc tộc ở các tỉnh Darlac, Pleiku và Kontum khuấy động đòi tự trị. Ngày 14 tháng 11 ông được tướng Khánh triệu ra làm Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Hành quân dẹp loạn Fulro. Sau khi dẹp loạn thành công, ông bị quản thúc tiếp tại Vũng Tàu Đến cuối tháng 12, ông mới được tướng Khánh cử giữ chức vụ Tổng thanh tra Quân lực kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn (những chức vụ chẳng có mấy quyền lực).

Ngày 9 tháng 4 năm 1966, thời điểm vụ Biến động Phật giáo miền Trung xảy ra ở Huế, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I & Vùng I Chiến thuật thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Nhưng vì ông cũng bất lực trước tình hình như 2 Tư lệnh tiền nhiệm là các tướng Nguyễn Chánh Thi, Chuân và có xu hướng ngả theo nhóm Phật tử cầm đầu vụ Biến động nên ông bị triệu hồi về Sài Gòn, thay thế ông là Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Giữa tháng 7 cùng năm, ông bị buộc phải giải ngũ khi mới 38 tuổi.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trở về đời sống dân sự một thời gian, Đầu năm 1967, ông ra ứng cử vào Thượng viện trong Quốc hội và đắc cử Nghị sĩ trong Liên danh Hoa Sen, được cử làm Chủ nhiệm Nhật báo Công Luận. Tháng 1 năm 1970, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Thượng viện kiêm Chủ tịch Hội Chủ báo Việt Nam thay thế Nghị sĩ Trung tướng Trần Văn Đôn mãn nhiệm. Tiếp đến, ông làm Trưởng Khối Xã hội Dân chủ. Năm 1973, ông tái tranh cử và đắc cử Thượng Nghị sĩ nhiệm kỳ 1973-1979.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó sang Hoa Kỳ định cư, lúc đầu ở Tiểu bang Virginia. Sau chuyển về Garden Grove, rồi Westminster, thuộc Tiểu bang California và sống ở đây đến cuối đời.

Ngày 21 tháng 11 năm 2013, ông từ trần tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 87 tuổi.

Tang lễ được cử hành trọng thể tại Nam California theo nghi thức của quân đội.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Được tặng thưởng nhiều Huy chương Quân sự, Dân sự và Đồng minh (Hoa Kỳ, Thái Lan, Philippines và Trung Hoa Dân quốc).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

-Hai mươi năm Binh nghiệp (1998)

Gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tộc phả của Dòng tộc Nguyễn Phúc, tướng Đính thuộc hệ thứ 9 của Hoàng tộc nhà Nguyễn, hậu duệ của Ông Hoàng Mười tức Dục vận Công thần Trấn quốc Đại tướng quân Nguyễn Phúc Yến.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Tôn Thất Dinh (1888-1951)
  • Thân mẫu: Cụ Ngô Thị Đồng
  • Bào huynh:
    -Ông Tôn Thất Đĩnh (Nguyên Trưởng khu Dinh điền Pleiku, sau là Dân biểu Quốc hội Đệ nhất Cộng hòa)
    -Ông Tôn Thất Dĩnh (Cư ngụ tại và mất tại Đà lạt năm 1985)
  • Bào đệ:
    -Ông Tôn Thất Đình (Sinh năm 1927 tại Đà Lạt, là Công chức được đồng hóa vào Quân đội, tốt nghiệp khóa 2 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Chức vụ sau cùng: Đại tá Chánh Sở Nghiên cứu Kế hoạch tại Bộ Quốc phòng. Năm 1982 từ trần tại trại giam Hà Tây, miền Bắc Việt Nam)
  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Phương Đông (Ái nữ của cụ Nguyễn Thụy Long và cụ Nguyễn Thị Tín)
-Ông bà có bốn người con gồm 2 trai, 2 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng.
  2. ^ Trong gia đình, tướng Đính là con thứ năm nhưng có lẽ là con trai thứ ba nên thường được gọi là Ba Đính. Sau này trở thành biệt danh của ông.
  3. ^ Hoàng Linh Đỗ Mậu, "Việt Nam máu lửa quê hương tôi". Chương 3.
  4. ^ a ă â Hoàng Linh Đỗ Mậu, "Việt Nam máu lửa quê hương tôi". Chương 13.
  5. ^ Còn được gọi là trường Võ bị Quốc gia Huế
  6. ^ Khóa 1 Bảo Đại, sau cải danh thành khóa 1 Phan Bội Châu
  7. ^ Cùng tốt nghiệp khóa 1 Phan Bội Châu trường Võ bị Huế, có 2 sĩ quan trẻ là Nguyễn Văn ThiệuNguyễn Hữu Có, về sau trở thành những nhân vật quan trọng trong sự nghiệp chính trị của tướng Đính.
  8. ^ Cùng du học với tướng Đính tại trường Kỵ binh Saumur, Pháp năm 1950 còn có Trung úy Lâm Văn Phát, về sau là người đồng mưu với ông trong cuộc Đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963.
  9. ^ Liên đoàn Lưu động số 31 sau được nâng cấp thành Sư đoàn 31 Bộ binh, rồi lại đổi thành Sư đoàn Dã chiến số 11. Sau cùng trở thành Sư đoàn 7 Bộ binh
  10. ^ Sư đoàn 32 Bộ binh sau được đổi thành Sư đoàn Dã chiến số 2. Sau cùng trở thành Sư đoàn 2 Bộ binh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Who's Who In Vietnam", Vietnam Press, Saigon 1972
  • Tôn Thất Đính, "20 Năm Binh Nghiệp"
  • Hoàng Linh Đỗ Mậu, "Việt Nam máu lửa quê hương tôi"
  • Blair, Anne E. (1995). Lodge in Vietnam: A Patriot Abroad. New Haven, Connecticut: Yale University Press. ISBN 0-300-06226-5. 
  • Blair, Anne E. (2001). There to the Bitter End: Ted Serong in Vietnam. Crows Nest, New South Wales: Allen & Unwin. ISBN 1-86508-468-9. 
  • Catton, Philip E. (2002). Diem's final failure: prelude to America's War in Vietnam. Lawrence, Kansas: University Press of Kansas. ISBN 0-7006-1220-3. 
  • Gibbons, William Conrad (1995). The U.S. government and the Vietnam war: executive and legislative roles and relationships. Princeton, New Jersey: Princeton University Press. ISBN 0-691-00635-0. 
  • Halberstam, David; Singal, Daniel J. (2008). The Making of a Quagmire: America and Vietnam during the Kennedy Era. Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-6007-4. 
  • Hammer, Ellen J. (1987). A Death in November: America in Vietnam, 1963. New York City, New York: E. P. Dutton. ISBN 0-525-24210-4. 
  • Hatcher, Patrick Lloyd (1990). The suicide of an elite: American internationalists and Vietnam. Stanford, California: Stanford University Press. ISBN 0-8047-1736-2. 
  • Hickey, Gerald Cannon (2002). Window on a War: An Anthropologist in the Vietnam Conflict. Lubbock, Texas: Texas Tech University Press. ISBN 0-89672-490-5. 
  • Isaacs, Arnold R. (1983). Without Honor: Defeat in Vietnam and Cambodia. Baltimore, Maryland: Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-3060-5. 
  • Jacobs, Seth (2006). Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America's War in Vietnam, 1950–1963. Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-4447-8. 
  • Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-505286-2. 
  • Kahin, George McT. (1979). “Political Polarization in South Vietnam: U.S. Policy in the Post-Diem Period”. Pacific Affairs (Vancouver, British Columbia) 52 (4): 647–673. 
  • Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A history. New York City, New York: Penguin Books. ISBN 0-670-84218-4. 
  • Langguth, A. J. (2000). Our Vietnam: the war, 1954–1975. New York City, New York: Simon & Schuster. ISBN 0-684-81202-9. 
  • Lent, John A. (1971). The Asian Newspapers' Reluctant Revolution. Iowa State University Press. ISBN 0-8138-1335-2. 
  • Moyar, Mark (2006). Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965. New York City, New York: Cambridge University Press. ISBN 0-521-86911-0. 
  • Nguyen Tien Hung; Schecter, Jerrold L. (1986). The Palace File. New York City, New York: Harper & Row. ISBN 0-06-015640-6. 
  • Prochnau, William (1995). Once upon a Distant War. New York City, New York: Vintage. ISBN 0-8129-2633-1. 
  • Shaplen, Robert (1966). The Lost Revolution: Vietnam 1945–1965. London: Andre Deutsch. 
  • Sheehan, Neil (1988). A Bright Shining Lie:John Paul Vann and America in Vietnam. New York City, New York: Random House. ISBN 0-679-72414-1. 
  • Toczek, David M. (2001). The battle of Ap Bac, Vietnam: they did everything but learn from it. Westport, Connecticut: Greenwood Publishing Group. ISBN 0-313-31675-9. 
  • Topmiller, Robert J. (2006). The Lotus Unleashed: The Buddhist Peace Movement in South Vietnam, 1964–1966. Lexington, Kentucky: University Press of Kentucky. ISBN 0-8131-9166-1. 
  • Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9. 
  • Wright, Jackie Bong (2002). Autumn Cloud: From Vietnamese War Widow to American Activist. Herndon, Virginia: Capital Books. ISBN 1-931868-20-4.