Huỳnh Văn Cao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Huỳnh Văn Cao (1927-2013), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mang quân hàm Thiếu tướng. Xuất thân từ Trường Võ bị Quốc gia. Ra trường ông được chọn về Lục quân (cũng là chuyên môn quân sự của ông). Tuy nhiên, khi lên đên sĩ quan trung cấp, ông được chuyển sang lĩnh vực Chỉ huy & Tham mưu. Ông đã từng Tư lệnh Sư đoàn, rồi Tư lệnh Quân đoàn. Ông cũng là một trong số ít sĩ quan được lên tướng ở nền Đệ nhất Cộng hòa (Thiếu tướng năm 1962). Sau cùng ông đắc cử vào Quốc hội với vai trò là một Thượng nghị sĩ.

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 26-9-1927 tại Phủ Cam, Huế Thừa Thiên. Trung phần. Đã học xong chương trình Trung học tại trường Quốc học Huế.

Năm 1945: Tốt nghiệp Ban hội họa trắc lượng tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế. Ra trường, phục vụ tại Sở Công chánh Đà Nẵng.

  • Song thân: Cụ Huỳnh Văn Hóa (tục gọi là Cụ Kiểm Hoá) & Cụ Nguyễn Thị Mai
  • Phu Nhân: Bà Ngô Thị Xuân Minh (Ông bà sinh hạ được 10 người con).

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1949: Ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 47/201.523. Trúng tuyển theo học khoá 2 Quang Trung Trường Võ Bị Huế (khai giảng: 25/9/1949, mãn khoá: 24/6/1950, đến khoá 3 Trường dời về Đà Lạt và cải danh thành Võ Bị Liên Quân Đà Lạt). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường ông được điều động phục vụ Quân đội Quốc gia.

Quân Đội Quốc Gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950: Làm Trung Đội Trưởng của Đại Đội Phú Vang thuộc Trung đoàn Duy Tân.

Năm 1951: Ông được giữ Chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 8 Việt Nam (thành lập ngày 15/4/1950 tại Mỹ Chánh, Quảng Trị).

Năm 1952: Ông được thăng cấp Trung úy Xử lý Thường vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn Nguyễn Huệ, đồn trú tại Đồng Hới. Cùng năm theo học lớp Chỉ huy Chiến thuật Cao cấp tại Hà Nội (tiền thân của Trường Chỉ huy & Tham mưu). Mãn khoá học, ông giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 29 Việt Nam (thành lập ngày 1/4/1952 tại Tây Thượng, Huế)'. Kế tiếp ông được chuyển công tác sang phục vụ tại Tiểu đoàn 30 Lưu động ở Đông Hà.

Năm 1953: Ông được thăng cấp Đại úy, làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 607 Địa phương (thành lập tại Quận Ninh Hoà, Tỉnh Khánh Hoà).

Năm 1954: Ông làm Tham mưu trưởng kiêm Trưởng Phòng 3 Tiểu khu Phan Thiết. Cuối năm, giữ chức Sĩ quan liên lạc của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Tham mưu trưởng Biệt bộ Tham mưu Phủ Tổng Thống.

Năm 1957: Thăng cấp Trung tá, tháng 12 bàn giao chức tham mưu trưởng lại cho Đại tá Nguyễn Văn Là. Cuối năm, Tư lệnh Sư đoàn 13 Khinh chiến, đồn trú tại Bến Kéo, Tây Ninh (căn cứ cũ của Quân đội Cao Đài).

Năm 1958: Giữa năm, bàn giao chức Sư đoàn 1 lại cho Trung tá Nguyễn Quang Thông (sinh năm 1922 tại Quảng Bình, khoá 2 Võ bị Huế, sau cùng là Đại Tá). (Cuối năm này Sư đoàn 13 Khinh chiến hợp cùng với Sư đoàn 11 Khinh chiến trở thành Sư đoàn 21 bộ binh). Cùng năm, du học lớp Chỉ huy & Tham mưu tại Fort Leavenworth, Kansas, mãn khoá tiếp tục học lớp Hành chánh & Quân chánh tại Fort Gordon, Georgia và lớp Hành quân Không vận tại Biloxi, Mississippi (cả 3 lớp này đều học tại Hoa Kỳ).

Năm 1959: Về nước Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh thay thế Đại tá Trần Thiện Khiêm đi học lớp Chỉ huy & Tham mưu tại Hoa Kỳ, đồng thời ông được thăng cấp Đại tá.

Năm 1962: Cuối năm, vinh thăng Thiếu tướng, bàn giao Sư đoàn 7 lại cho Đại tá Bùi Đình Đạm (nguyên là Tham mưu trưởng Sư đoàn).

Nắm 1963: Ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật tân lập tại Cần Thơ. Tháng 9, chỉ Huy cuộc Hành quân giải toả Đầm Dơi. Ngày 3-10 cùng năm, bàn giao Quân đoàn IV lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh). Cùng tháng đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Phát triển Khả năng Tác chiến.

Năm 1964: Hướng dẫn Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa sang Cambodia (Campuchia) tham dự Hội Nghị về Biên giới Việt-Miên. Kiêm Tổng giám đốc Văn phòng Dân ý vụ.

Năm 1965: Giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị kiêm Tổng thư ký Uỷ ban Thường vụ Hội đồng Quân lực do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.

Năm 1966: Giữa tháng 5, bàn giao chức Tổng cục trưởng lại cho Trung tướng Nguyễn Bảo Trị. Cùng ngày đi làm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Trung tướng Tôn Thất Đính. Cuối tháng rời khỏi chức vụ Tư lệnh Quân đoàn, Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm đương nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh được cử thay thế. Tháng 7 cùng năm giải ngũ.

Từ năm 1967-1971 đắc cử vào Quốc hội Thượng viện làm nghị viên. Từ 1971-1975 được các nghị viên trong Thượng viện bầu làm Đệ Nhất Phó Chủ Tịch.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29/4, Phu nhân và 9 người con di tản đến định cư tại Hoa Kỳ.

Sau ngày 30/4 ông bị kẹt lại và bị ở tù ở miền Bắc đến ngày 14/9/1987 được trả tự do. Sau khi ra trại, về miền Nam sống với gia đình người con trai trưởng.

Ngày 25/4/1990 cùng gia đình người con này sang đoàn tụ với phu nhân và những người con khác, định cư tại Maryland, Virginia, Hoa Kỳ. Ông là cộng tác viên của Tạp chí Vietnam Magazine và là Tác giả của Vietnam: Today & Tomrrow

Ông từ trần tại Virginia ngày 26/2/2013. Hưởng thọ 86 tuổi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]