Huỳnh Văn Cao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huỳnh Văn Cao
Tiểu sử
Sinh

26 tháng 9, 1927(1927-09-26)

Huế, Thừa Thiên, Việt Nam
Mất

26 tháng 2, 2013 (86 tuổi)

Virginia, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1949-1966
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Sư đoàn 7 Bộ binh
Quân đoàn IV & Quân đoàn I
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Công việc khác Thượng nghị sĩ Quốc hội Việt Nam Cộng hòa

Huỳnh Văn Cao (1927-2013), nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia do Chính phủ Quốc gia dược Quân đội Pháp hỗ trợ mở ra ở Trung phần. Ông là một trong số ít tướng lĩnh được Tổng thống Ngô Đình Diệm tín nhiệm phong cấp tướng trong nền Đệ nhất Cộng hòa (1962). Sau khi cuộc đời binh nghiệp của ông chấm dứt bởi vụ "Biến động Miền Trung", ông tham gia chính trường và trở thành một Thượng nghị sĩ cho đến ngày chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 26 tháng 9 năm 1927 tại Phủ Cam, Huế, Thừa Thiên trong một gia đình Công giáo. Đương thời, thân phụ ông là một chức sắc trong Hội đồng Giáo xứ Phủ Cam (tục gọi là cụ kiểm Hóa). Năm 1945, ông tốt nghiệp ban Hội họa Trắc lượng tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế, được cấp chứng chỉ tốt nghiệp tương đương với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Ra trường, ông được tuyển dụng phục vụ tại Sở Công chánh Đà Nẵng.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1949, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp, theo học khóa 2 Quang Trung tại trường Võ bị Quốc gia Huế, khai giảng ngày 25 tháng 9 năm 1949. Ngày 24 tháng 6 năm 1950 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường ông được điều động phục vụ trong một Tiểu đoàn Bộ binh Việt Nam.

Cuối tháng 5 năm 1950, ông được cử làm Trung đội trưởng của Đại đội Phú Vang thuộc Trung đoàn Duy Tân, thuộc Lực lượng Vệ binh Trung Việt. Qua năm 1951, ông chuyển sang giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 8 Việt Nam (8e BVN).

Giữa năm 1952, chính thức chuyển sang phục vụ Quân đội Quốc gia, ông được thăng cấp Trung úy và chuyển trở lại lực lượng Vệ binh Trung Việt, nhận nhiệm vụ Xử lý Thường vụ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn Nguyễn Huệ, đồn trú tại Đồng Hới. Cùng năm theo học lớp Chỉ huy Chiến thuật cao cấp tại Hà Nội. Mãn khóa học, trở về đơn vị ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 29 Việt Nam (thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1952 tại Tây Thượng, Huế). Sau đó ông chuyển công tác sang phục vụ tại Tiểu đoàn 30 Lưu động ở Đông Hà. Cuối năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy và chuyển đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 607 Địa phương.

Sau Hiệp định Genève (20 tháng 7) năm 1954, ông giữ chức vụ Tham mưu trưởng kiêm Trưởng phòng 3 Tiểu khu Phan Thiết. Cuối năm, đảm nhiệm chức vụ sĩ quan liên lạc của Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Quan lộ hanh thông[sửa | sửa mã nguồn]

Là một tín đồ Công giáo, ông nhiệt tình ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm nắm quyền chính thay Quốc trưởng Bảo Đại, vì thế rất được Thủ tướng Diệm chú ý và tín nhiệm. Cuối năm 1955, sau khi Chính thể Việt Nam Cộng hòa được thành lập, ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Tham mưu trưởng Biệt bộ Tham mưu tại phủ Tổng thống. Cuối năm 1957, ông được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 13 Khinh chiến, đồn trú tại Bến Kéo, Tây Ninh, vốn là một căn cứ cũ của Quân đội Giáo phái Cao Đài.

Giữa năm 1958, bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 13 (*) lại cho Trung tá Nguyễn Quang Thông. Sau đó ông được cử đi du học tại Hoa Kỳ, thụ huấn 3 khóa học Chỉ huy và Tham mưu tại Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, khóa Hành chánh và Quân chánh tại Fort Gordon, Tiểu bang Georgia và khóa Hành quân Không vận tại Biloxi, Tiểu bang Mississippi. Cuối tháng 3 năm 1959, mãn khóa về nước ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh, đồng thời được thăng cấp Đại tá.

Thượng tuần tháng 12 năm 1962, ông được thăng cấp Thiếu tướng, bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 lại cho Đại tá Bùi Đình Đạm để đi giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Phân khu miền Tây của Quân đoàn III và Vùng 3 chiến thuật, Bộ chỉ huy đặt tại Cần Thơ. Ngày 1 tháng 1 năm 1963, Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật được thành lập trên cơ sở của Phân khu miền Tây, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh.

Binh nghiệp phập phềnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ một ngày sau khi nhậm chức Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật, theo kế hoạch định sẵn, ông ra lệnh cho tân Tư lệnh Sư đoàn 7 là Đại tá Bùi Đình Đạm tổ chức cuộc hành quân vào Ấp Bắc thuộc tỉnh Mỹ Tho nhằm tiêu diệt một Đại đội Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và một đài phát radio đóng tại đây. Cuộc hành quân với sự tham gia của một Tiểu đoàn Bộ binh của Sư đoàn 7 và 2 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đoàn thiết giáp (13 xe thiết giáp M.113) và 3 Đại đội Bộ binh (trong đó có 2 Đại đội làm lực lượng trừ bị), khoảng 8 máy bay ném bom, 20 trực thăng đổ quân và vũ trang, 11 máy bay quan sát và vận tải, 13 tàu xuồng các loại và khoảng 1 Tiểu đoàn Pháo binh chi viện. Tổng cộng gần 1.800 quân do Đại tá Đạm và Trung tá Cố vấn John Paul Vann trực tiếp chỉ huy. Tuy nhiên, cuộc hành quân nhanh chóng trở thành thảm họa, khi không đạt được mục tiêu vây bắt và tiêu diệt đối phương, nhưng lại phải trả một cái giá quá đắt về thiệt hại cũng như thất bại chiến thuật trước một đối thủ thua kém về trang bị lẫn quân số. Tháng 9 cùng năm, ông được giao chỉ huy cuộc hành quân giải tỏa quận Đầm Dơi.

Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963[sửa | sửa mã nguồn]

Khi cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 xảy ra, ông là một trong số ít tướng lĩnh trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, ông lại không thể đưa quân về ứng cứu được do Hội đồng Quân nhân Cách mạng đề phòng trước và đã rút hết các phà của bến phà Mỹ Thuận về phía bờ bắc của sông Tiền. Cũng vì lý do này nên mặc dù đã tuyên bố phục tùng quyết định của nhóm tướng lĩnh đảo chính khi nhận thấy tình hình không thể cứu vãn. Nhưng ngày 3 tháng 11, ông vẫn bị cách chức Tư lệnh Quân đoàn IV và bị đổi đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Phát triển Khả năng Tác chiến. Ngày 20 tháng 3 năm 1964, ông lãnh nhiệm vụ hướng dẫn Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa sang Campuchia tham dự Hội nghị về Biên giới Việt-Camn. Ngày 4 tháng 5 cùng năm, ông được giao kiêm chức vụ Tổng giám đốc Văn phòng Dân ý vụ.

Đầu tháng giêng năm 1965, sau một thời gian bị đình chỉ công vụ, ông được cử giữ chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị kiêm Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Hội đồng Quân lực do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.

Biến động Miền Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa tháng 5 năm 1966, vụ Biến động Miền Trung nổ ra. Ông được cử đi làm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Trung tướng Tôn Thất Đính. Tuy nhiên, ông không thực hiện được hành động gì để cải thiện tình hình, vì vậy sau đó không lâu bị cách chức Tư lệnh Quân đoàn. Ngày 14 tháng 7 cùng năm, ông và một số tướng lĩnh khác bị đưa ra xét xử tại Hội đồng Kỷ luật và bị buộc phải giải ngũ.

Chính khách[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1967, ông ra tranh cử Thượng nghị sĩ nhiệm kỳ 1967-1973, Thụ uỷ Liên danh Trời Việt và đắc cử vào Thượng viện trong Quốc hội Lưỡng viện của Việt Nam Cộng hòa. Từ 1971 đến 1975, ông được các nghị viên trong Thượng viện tín nhiệm bầu làm Đệ nhất Phó Chủ tịch Thượng nghị viện.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 4, phu nhân của ông cùng 9 người con di tản khỏi Sài Gòn và sau đó đến định cư tại Hoa Kỳ. Riêng ông bị kẹt lại và bị chính quyền mới đưa đi tù lưu đày từ Nam ra Bắc, mãi đến ngày 14 tháng 9 năm 1987 mới được trả tự do.

Sau khi tự do, ông về sống với gia đình người con trai trưởng. Ngày 25 tháng 4 năm 1990, ông cùng gia đình người con này xuất cảnh đi đoàn tụ với phu nhân và những người con khác, định cư tại Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Trong những năm cuối đời, ông là cộng tác viên của Tạp chí Vietnam Magazine. Ông cũng là tác giả của quyển "Vietnam: Today & Tomorrow"

Ngày 26 tháng 2 năm 2013, ông từ trần tại nơi đinh cư. Hưởng thọ 86 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Song thân: Cụ Huỳnh Văn Hóa và cụ Nguyễn Thị Mai
  • Phu nhân: Bà Ngô Thị Xuân Minh
-Ông bà có 10 người con.
  • Trưởng nam: Huỳnh Thái Sơn (nguyên Trung úy thuộc Binh chủng Biệt động quân VNCH, xuất thân khóa 2/68 tại trường Bộ binh Thủ Đức).


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Neil Sheehan, A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam. Random House, New York. 1988
  • David Halberstam, "Vietcong downs five U.S. copters, hits nine others." The New York Times. Jan. 3, 1963
  • Hoành Linh Đỗ Mậu, Việt Nam Máu lửa quê hương tôi, Nhà xuất bản Hương Quê, 1986.