Bùi Đình Đạm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
BÙI ĐÌNH ĐẠM
Tiểu sử
Sinh 26 tháng 6 năm 1926
Hà Đông, Việt Nam
Mất 30 tháng 5, 2009 (83 tuổi)
California,Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1948-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Cờ Chỉnh binh thao lược.png Đại học Quân sự
ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 7 Bộ binh
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Tổng cục Tiếp vận
Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg Tổng nha Động Viên
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ III[1]

Bùi Đình Đạm (1926-2009), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên ở trường Võ bị Quốc gia do Chính phủ Quốc gia mở ra tại Trung phần dưới sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ cho Quân đội Quốc gia trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Ra trường ông được chọn về Bộ binh. Tuy nhiên, hầu hết thời gian tại ngũ, ông lại chuyên về lĩnh vực Tham mưu và Quân huấn. Ông rất hiếu học, nên mặc dù với nhiều trọng trách trong Quân đội, ông vẫn tiếp tục trau dồi thêm văn hóa và kiến thức.[2]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 26 tháng 6 năm 1926, trong một gia đình Nho giáo, có truyền thống hiếu học tại Phượng Trì, Đan Phượng, Hà Đông, Bắc phần Việt Nam (nay thuộc Thành phố Hà Nội). Năm 1946, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau đó, ông được tuyển dụng làm công chức tại Hà Đông một thời gian trước khi gia nhập quân đội.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1948, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/300.784. Theo học khóa 1 Bảo Đại tại trường Võ bị Huế,[3] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948. Ngày 1 tháng 6 năm 1949 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường được phân bổ làm Trung đội trưởng Trung đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3 Bộ binh Việt Nam do Thiếu tá Vũ Văn Thu làm Tiểu đoàn trưởng.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951, sau 1 năm Quân đội Quốc gia hình thành trong Quân đội Liên hiệp Pháp, ông được thăng cấp Trung úy làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3 (3e Bataillon Vietnamien - 3e Bắc VN) thay thế Đại úy Dương Quý Phan.

Đầu tháng 4 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Tháng 5 năm 1954, chuyển sang lĩnh vực Quân huấn ông được cử làm Tham mưu trưởng trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1955, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Sau khi Chính thể Đệ nhất Cộng hòa ra đời (ngày 26 tháng 10 năm 1955), ông chuyển sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa (đổi tên từ Quân đội Quốc gia Việt Nam). Tháng 7 năm 1956, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đến tháng 8 năm 1957, mãn khóa về nước ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng trường Đại học Quân sự do Trung tướng Trần văn Minh làm Chỉ huy trưởng.

Tháng 6 năm 1960, chuyển trở lại đơn vị Bộ binh, ông được chỉ định làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 7 Bộ binh. Đến tháng 4 năm 1962, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 7. Tháng 12 cùng năm, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 7 thay thế Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao đi làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến Thuật.

Cuối năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11), ông được lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Có, sau đó ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Trưởng phòng 4 đặc trách Tiếp vận.

Tháng 2 năm 1965, ông được đổi sang làm Trưởng phòng Tổng Quản trị thay thế Đại tá Trần Văn Trung được cử đi làm Chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức. Tháng 11 cùng năm, nhận lệnh bàn giao Phòng Tổng quản trị lại cho Trung tá Đồng Văn Khuyên, chuyển qua Bộ Quốc phòng ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha động viên.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Đến đầu tháng 7 năm 1970, ông được thăng Thiếu tướng tại nhiệm.

Tháng 9 năm 1973, Nha động viên được cải tổ thành Tổng nha Nhân lực. Ông mang chức danh mới là Tổng Giám đốc. Ông cũng là người đảm trách chức vụ này với thời gian lâu nhất (từ năm 1965 đến năm 1975).

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản sang ra khỏi Việt Nam. Sau đó sang Hoa Kỳ định cư tại Tp San Jose, Tiểu bang California.

-Năm 1983, ông tốt nghiệp Cao học Xã hội (MSW) tại Viện Đại học San Jose, California, Hoa Kỳ.

Ngày 30 tháng 5 năm 2009, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 83 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

_ 1 Lục quân Huân chương đệ I hạng.,br/>- 9 Anh dũng Bội tinh (gồm các đẳng cấp).
- 1 Chương mỹ Bội tinh đệ I hạng.
- 20 huy chương Quân sự và Dân sự.
- The Legion Merit (Degree Officer, Hoa Kỳ).
- Order of National Security Merit Cheon-Su Medal (Đại Hàn).<br/.- Medal of Precious Tripod (Trung hoa Quốc gia).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

- "Những áng văn hay" với bút hiệu Đan Phượng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng.
  2. ^ Những bằng cấp về sau của tướng Đạm:
    - Tốt nghiệp Cử nhân Văn khoa tại Viện Đại học Sài Gòn (1970).
    - Tốt nghiệp Cao học Xã hội tại Viện Đại học Sài Gòn (1973).
    - Tốt nghiệp Cao học Xã hội (MSW) tại Viện Đại học San José, Tiểu bang California, Hoa Kỳ (1985).
  3. ^ Trường Võ bị Huế đào tạo được 2 khóa sĩ quan hiện dịch: Khóa 1 Bảo Đại (sau đổi thành Phan Bội Châu) và khóa 2 Quang Trung. Tháng 7 năm 1950 trường di chuyển về Đà Lạt trên cơ sở cũ của Trường Võ bị Viễn Đông, lấy tên là Võ bị Liên quân tiếp tục đào tạo từ khóa 3 Trần Hưng Đạo. Năm 1959, cải danh thành Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Xuất thân ở trường Võ bị Quốc gia từ Huế đến Đa Lạt, sau này trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa có được 62 tướng lãnh gồm: 20 Trung tướng (8 Huế, 12 Đà Lạt), 17 Thiếu tướng (8 Huế, 9 Đà Lạt) và 25 Chuẩn tướng (3 Huế, 22 Đà Lạt)
    -Xem bài: Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.