Hoàng Xuân Lãm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HOÀNG XUÂN LÃM
Tiểu sử
Sinh Tháng 10, 1928
Quảng Trị, Việt Nam
Mất Tháng 05, 2017 (89 tuổi)
Thành phố Davis, California
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png Binh chủng Thiết giáp
Cờ Chỉnh binh thao lược.png Đại học Quân sự[1]
ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 23 Bộ binh
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Bộ binh
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ II[2]
Công việc khác Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg Phụ tá Quốc phòng

Hoàng Xuân Lãm (1928-2017) nguyên là một tướng lĩnh gốc Kỵ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Liên quân được Quốc gia Việt Nam mở ra ở Cao nguyên miền Trung Việt Nam, Tốt nghiệp ông được chọn về Binh chủng Thiết giáp. Ông đã phục vụ ngành chuyên môn của mình từ chức vụ chỉ huy cấp Chi đội tuần tự theo hệ thống chỉ huy đến cấp Trung đoàn.[3] Tuy nhiên, ông chỉ phục vụ trong Binh chủng Thiết giáp một thời gian ngắn (1952-1959). Sau đó ông được chuyển sang Tư lệnh đơn vị Bộ Binh. Sau cùng là Tư lệnh một Quân đoàn danh tiếng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau chiến trận "Mùa hè đỏ lửa" năm 1972, ông bị cách chức và thuyên chuyển về Bộ Quốc phòng giữ chức vụ không quan trọng.

Tiếu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 10 năm 1928 tại Quảng Trị trong một gia đình gia giáo có truyền thống hiếu học. Thiếu thời ông theo cấp Tiểu học ở Quảng Trị. Lên Trung học, ông được gia đình cho vào Huế học tại trường Quốc học. Năm 1948, ông tốt nghiệp Trung học với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó được bổ dụng về Quảng Trị làm giáo viên Tiểu học cho đến ngày gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1950, thi hành lệnh động viên của Quốc gia Việt Nam, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 48/201.368. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt,[4], khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950. Ngày 25 tháng 6 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chuyển quân số về Chi đoàn 4 Thám thính Xa với chức vụ Chi đội phó, đồn trú ở Cao nguyên Trung phần. Ngày 1 tháng 10 năm 1952, ông được cử theo học khóa căn bản Thiết giáp tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn Đông của Quân đội Pháp tại Cap Saint Jacquues (Vũng Tàu) trong thời gian 6 tháng.[5] Ngày 1 tháng 4 năm 1953, mãn khóa học căn bản ông trở về Chi đoàn 4. Ngày 25 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Chi đội trưởng thuộc trong Chi đoàn 4. Cuối năm, ông tiếp tục được cử đi du học khóa cao cấp Thiết giáp tại trường Kỵ binh Saumur, Pháp. Giữa năm 1954 mãn khóa về nước. Sau Hiệp định Genève (20 tháng 7 năm 1954), ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Chi đoàn trưởng Chi đoàn 4 tham gia Chiến dịch chống quân phiến loạn Bình Xuyên.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1955, ngay sau nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời, chuyển biên chế sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Kỵ binh[6] thay thế Thiếu tá Vĩnh Lộc[7]

Đầu tháng 5 năm 1957, ông được lệnh bàn giao Trung đoàn 1 Thiết giáp lại cho Đại úy Dương Hiếu Nghĩa.[8] Cuối tháng 5, ông được thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp tại trại Trần Hưng Đạo thay thế Trung tá Dương Ngọc Lắm[9]

Giữa năm 1959, ông nhận lệnh bàn giao Bộ chỉ huy Thiết giáp lại cho Thiếu tá Nguyễn Văn Thiện[10] để đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1960 mãn khóa về nước, ông được cử làm Trưởng khối Huấn luyện tại trường Đại học Quân sự ở Sài Gòn.

Tháng 2 năm 1963, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh (Bộ Tư lệnh Sư đoàn đặt tại Thị xã Ban Mê Thuột) thay thế Đại tá Lê Quang Trọng.[11].

Ngày 11 tháng 8 năm 1964, ông được thăng cấp Chuẩn tướng[12] tại nhiệm. Ngày 14 tháng 10 cùng năm nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 23 lại cho Đại tá Tư lệnh phó Nguyễn Xuân Thịnh.[13] Ngay ngày hôm sau chuyển ra Vùng 1 Chiến thuật, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Thanh Sằng[14] Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1965 ông được thăng Thiếu tướng tại nhiệm.

Cuối tháng 5 năm 1966, ông được kiêm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao.[15] Tháng 11 cùng năm bàn giao Sư đoàn 2 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Toàn để chính thức giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật. Tháng 7 năm 1967 ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Tháng 2 năm 1971, ông được cử giữ chức Tư lệnh cuộc Hành quân Lam Sơn 719[16] Đầu tháng 5 năm 1972, sau vụ thất thủ và để mất Quảng Trị, ông được lệnh bàn giao Quân đoàn I lại cho Trung tướng Ngô Quang Trưởng[17] Giữa tháng 5 cùng năm, ông được cử làm Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng và ở chức vụ này cho đến cuối tháng 4 năm 1975.[18]

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Trưa ngày 29 tháng 4, ông đem theo gia đình, từ Vũng Tàu di tản ra khơi trên Cơ xưởng Hạm Vĩnh Long HQ-802. Hạm trưởng là Hải quân Trung tá Vũ Quốc Công.[19] Sau đó, ông và gia đình được sang định cư tại Davis, California, Hoa Kỳ.

2017[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu Trung tướng Thiết Giáp Hoàng Xuân Lãm đã từ trần ngày thứ Ba, 2 tháng 5 năm 2017 tại thành phố Davis, Bắc California, hưởng thọ 90 tuổi.[20]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ ông Hoàng Trọng Thuần
  • Thân mẫu: Cụ bà Hồ Thị Đạt
  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Lê Hồng - Ông bà có 5 người con: 1 trai, 4 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tiền thân của trường Đại học Quân sự là Trung tâm Huấn luyên Chiến thuật thành lập năm 1952 tại Hà Nội, sau Hiệp định Genève 20/7/1954 di chuyển vào Nam và đổi tên. Năm 1960, di chuyển lên Đà Lạt đổi tên lần cuối thành trường Chỉ huy và Tham mưu.
  2. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng.
  3. ^ Binh chủng Thiết giáp khi thành lập, đã có một Bộ chỉ huy được đặt gần Trung ương, các đơn vị trực thuộc ban đầu có tổ chức cao nhất là cấp Chi đoàn, sau đó Binh chủng được phát triển để đáp ứng và đối phó với chiến trường, tổ chức đơn vị được nâng lên cấp Trung đoàn (mỗi Trung đoàn có từ 3 đến 5 Chi đoàn trực thuộc). Về sau, thành lập tại mỗi Quân khu một Lữ đoàn được đặt tên theo chữ số của 4 Quân khu, mỗi Lữ đoàn có Bộ Tư lệnh riêng, phối thuộc và dưới sự điều động của Tư lệnh Quân đoàn, cấp số của mỗi Lữ đoàn có từ 5 đến 6 Thiết đoàn (Trung đoàn) bao gồm ba loại thiết xa: Chiến xa hạng nặng M.48, Chiến xa hạng trung M.41 và Thiết vận xa M.113.
    Tư lệnh Lữ đoàn là một sĩ quan cao cấp, chức vụ ngang với một Tư lệnh cấp Sư đoàn của Lục quân và các Quân, Binh chủng khác.
  4. ^ Khóa 3 Trần Hưng Đạo có thể xem là khóa đầu tiên của trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, nhưng thực tế là khóa tiếp nối hai khóa trước là khóa 1 Phan Bội Châu và khóa 2 Quang Trung của trường Võ bị Quốc gia ở Huế trước khi di chuyển về Đà Lạt. Do trường được đặt tại cơ sở cũ của trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội Thuộc địa Pháp nên lấy tên là trường Võ bị Liên Quân Đà Lạt. Đến năm 1959 đổi tên thành trường Võ bị Quốc gia Đà lạt
  5. ^ Theo học khóa căn bản Thiết giáp tại Vũng Tàu tháng 10 năm 1952, còn có các Thiếu úy:
    -Lý Tòng Bá, sinh năm 1931 tại Long Xuyên, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K6. Sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh.
    -Phan Hòa Hiệp, sinh năm 1927 tại Quảng Trị, tốt nghiệp Võ bị Địa phương Trung Việt (Sĩ quan Đập Đá, Huế). Sau cùng là Chuẩn tướng Tổng trưởng Thông tin và Chiêu hồi.
    -Trần Quang Khôi, sinh năm 1930 tại Bến Tre, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K6. Sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh.
    -Nguyễn Văn Toàn, sinh năm 1932 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K5. Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp
    -Nguyễn Văn Tồn, sinh năm 1923, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K3. Sau cùng là Đại tá Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Binh chủng Thiết giáp.
    -Nhan Nhật Chương, sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng An Xuyên (Cà Mau).
  6. ^ Đầu năm 1956, Trung đoàn 1 Kỵ binh được đổi tên thành Trung đoàn 1 Thiết giáp.
  7. ^ Thiếu tá Vĩnh Lộc được cử đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.
  8. ^ Đại úy Dương Hiếu Nghĩa, sinh năm 1925 tại Sa Đéc, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K5. Sau cùng là Đại tá, thành viên của Việt Nam Cộng hòa trong Ủy ban Liên hợp 4 bên.
  9. ^ Trung tá Dương Ngọc Lắm, sinh năm 1924 tại Gia Định, học khóa 1 Nguyễn Văn Thinh tại trường Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, mãn khóa không đủ điểm nên chỉ được mang cấp bậc Thượng sĩ. Khi trường Liên quân Viễn Đông di chuyển về Vũng Tàu lấy tên mới là trường Sĩ quan Nước ngọt, ông tiếp tục nhập học khóa 2 Đỗ Hữu Vị và tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Sau cùng là Thiếu tướng Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1964, ông được cho giải ngũ.
  10. ^ Thiếu tá Nguyễn Văn Thiện, sinh năm 1928 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức K2. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 thánh 11 năm 1970, ông nhận được Quyết định thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm khi ông đang là Đại tá Tư lệnh Biệt khu Quảng Nam và Đà Nẵng, đồng thời ông cũng nhận được giấy mời về Dinh Độc Lập để dự lễ gắn cấp bậc. Ngày 3 tháng 11, ông bay bằng phương tiện máy bay phản lực A.37 để vào Sài Gòn. Trên máy bay chỉ có ông và viên sĩ quan Hoa tiêu (Phi công chính và duy nhất là Đại úy Bùi Văn Lợi, sinh năm 1939, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K17), nhưng trên hành trình bay chiếc phản lực đã bị tai nạn mất tích. Sau nhiều ngày nỗ lực của đoàn "tìm kiếm và cứu nạn" thuộc đơn vị Bộ binh phối hợp với đơn vị Không quân không có kết quả. Nên ông và Đại úy Lợi được ghi nhận là đã tử nạn mất tích.
  11. ^ Đại tá Lê Quang Trọng, sinh năm 1925, tốt nghiệp Võ bị Huế K2, giải ngũ năm 1964 sau cuộc Chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh 30/1/1964.
  12. ^ Cùng đợt thăng cấp Chuẩn tướng ngày 11/8/1964 với tướng Hoàng Xuân Lãm còn có các Đại tá:
    -Nguyễn Đức Thắng, sinh năm 1930 tại Cao Bằng, tốt nghiệp Võ khoa Nam Định K1. Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Kế hoạch Tổng Tham mưu trưởng.
    -Nguyễn Xuân Trang, sinh năm 1924 tại Sài Gòn, tốt nghiệp Sĩ quan Nước Ngọt Vũng Tàu. Sau cùng là Thiếu tướng Tham mưu phó Nhân viên Bộ Tổng Tham mưu.
    -Nguyễn Cao, sinh năm 1925 tại Ba Xuyên, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K4. Sau cùng là Thiếu tướng Chánh Văn phòng cho Thủ tướng Nguyễn Khánh.
    -Nguyễn Văn Kiểm, sinh năm 1924 Vĩnh Long, tốt nghiệp Võ bị Liên quân Viễn Đông K1. Sau là Thiếu tướng Tham mưu trưởng Tham mưu Biệt bộ Phủ Tổng thống.
    -Đặng Văn Quang, sinh năm 1929 tại Sóc Trăng, tốt nghiệp Võ bị Huế K1. Sau cùng là Trung tướng Cố vấn Tổng thống, Đặc trách An ninh Quốc gia.
    -Vĩnh Lộc, sinh năm 1923 tại Huế, tốt nghiệp Võ bị Lục quân Pháp. Sau cùng là Trung tướng Tổng Tham mưu trưởng.
    -Lê Nguyên Khang, sinh năm 1931 tại Sơn Tây, tốt nghiệp Võ khoa Nam Định K1. Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng.
  13. ^ Đại tá Nguyễn Xuân Thịnh, sinh năm 1929 tại Hưng Yên, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K3 Đà Lạt. Sau cùng là Trung tướng Chỉ huy trưởng Binh chủng Pháo binh.
  14. ^ Đại tá Nguyễn Thanh Sằng, sinh năm 1925 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp Võ bị Huế K2. Sau cùng là Thiếu tướng Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn IV, giải ngũ năm 1973.
  15. ^ Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, sinh năm 1927 tại Huế, tốt nghiệp Võ bị Huế K2. Giải ngũ năm 1966.
  16. ^ Chiến dịch Lam Sơn 718 diễn ra vào năm 1971 tại khu vực đường 9 Nam Lào nên gọi là 719. Khai diễn ngày 8 tháng 2 năm 1971, kết thúc ngày 6 tháng 4 cùng năm.
  17. ^ Trung tướng Ngô Quang Trưởng, sinh năm 1929 tại Bến Tre, tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức K4, là Tư lệnh cuối cùng của Quân đoàn I.
  18. ^ Chức vụ Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng, thực tế chỉ là một chức vụ "ngồi chơi xơi nước".
  19. ^ Hải quân Trung tá Vũ Quốc Công, sinh năm 1938 tại Nam Định. Tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải quân Nha Trang K10.
  20. ^ “Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Hành Quân Lam Sơn 719, qua đời”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.