Nguyễn Văn Toàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN VĂN TOÀN
Tiểu sử
Sinh

6 tháng 7, 1932(1932-07-06)

Phú Vang, Thừa Thiên
Việt Nam
Mất

19 tháng 10, 2005 (73 tuổi)

Los Angeles, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png Binh chủng Thiết giáp
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Bộ binh
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương Đệ II[1]

Nguyễn Văn Toàn (1932-2005) nguyên là một tướng lĩnh gốc Kỵ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia. Ra trường, được chọn phục vụ Binh chủng Kỵ binh, nên sau này ông được xem là một vị tướng xuất thân từ Thiết giáp. Có một thời gian, ông chuyển sang Bộ binh, chỉ huy một Sư đoàn đóng ở vùng có nhiều rừng cây Quế,[2] ông đã lợi dụng chức vụ, độc quyền thu gom và đầu cơ loại đặc sản này để tư lợị cho bản thân và gia đình. Do đó nên ông được gắn cho cái tên đầy mỉa mai là "Quế tướng công"[3]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 6-10-1932 trong một gia đình gia giáo khá giả tại Phú Vang, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu, ông là học sinh trường Quốc học Khải Định ở Huế. Ông tốt nghiệp Trung học phổ thông với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, sau khi thi đậu Tú tài và cũng vừa tròn 18 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/206.032. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950.[4] Đang thụ huấn nửa chừng, ông bị bệnh nên xin xuất khóa để điều trị. Qua năm 1951, ông tiếp tục theo học khóa 5 Hoàng Diệu, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Sau khi tốt nghiệp, ông gia nhập vào Binh chủng Thiết giáp. Nửa năm sau ông được theo học khóa căn bản Thiết giáp tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn đông ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Ngày 1 tháng 4 năm 1953, ra trường được giữ chức vụ Chi đội trưởng Thám thính xa. Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Trung úy, làm Chi đoàn phó Chi đoàn Thám thính.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1956, sau một thời gian từ Quân đội quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử đi du học khóa Thiết giáp cao cấp tại Học viện Thiết giáp Kỵ binh Saumur, Pháp. Mãn khóa về nước giữ chức vụ Chi đoàn trưởng Chi đoàn Thiết giáp. Cuối năm, ông được thăng cấp Đại úy và được cử giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 4 Thiết giáp.

Tháng 7 năm 1957, bàn giao chức vụ Trung đoàn phó lại cho Đại úy Trần Quang Khôi, ông được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Thiết giáp ở Huế thay cho Đại úy Nguyễn Đình Bảng. Cuối năm 1958, bàn giao Trung đoàn 4 lại cho Đại úy Nguyễn Tuấn,[5] Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi du học khóa Thiết giáp cao cấp tại trường Kỵ binh Fort Knox, bang Kentucky, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng.

Đầu năm 1961, ông được giữ chức Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp tại Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhất do Trung tá Nguyễn Văn Thiện làm Chỉ huy trưởng. Năm 1962, ông được cử đi du học lớp Tham mưu Đặc biệt (giáo trình chống nổi loạn) tại căn cứ Fort Bragg, North Carolina, Hoa Kỳ.

Tháng 6 năm 1963, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Thiết giáp tại Long Hải, Phước Tuy thay thế Thiếu tá Dương Văn Đô. Cuối năm 1964, bàn giao trường Thiết giáp lại cho Trung tá Lâm Quang Thơ để đi tái nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Đà Nẵng thay thế Trung tá Nguyễn Tuấn. Ngày 1 tháng 11 năm 1965,[6] ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Đầu tháng 1 năm 1967, ông được lệnh bàn giao Trung đoàn 4 Thiết giáp lại cho Thiếu tá Phan Hòa Hiệp. Trung tuần tháng 1 ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm được cử đi làm Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu 1.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1970, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Đầu tháng 2 năm 1972, ông được chỉ định chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp, hoán chuyển nhiệm vụ với Đại tá Phan Hòa Hiệp về làm Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh. Tháng 5 cùng năm, bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Thiết giáp lại cho Đại tá Dương Văn Đô. Sau đó ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II thay thế Trung tướng Ngô Du[7]

Đầu tháng 3 năm 1974, ông được thăng cấp Trung tướng. Cuối tháng 10 cùng năm bàn giao Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú để đi tái nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp[8] thay thế Chuẩn tướng Lý Tòng Bá[9]

Năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 1, ông được kiêm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế Trung tướng Dư Quốc Đống (xin từ nhiệm).

Chiều ngày 29 tháng 4, ông dùng trực thăng di tản ra Đệ thất Hạm đội đang đậu ở ngoài khơi Vũng Tàu. Sau đó, ông được sang định cư ở Tp Los Algeles, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Ngày 19 tháng 10 năm 2005, ông từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 73 tuổi. Ông được an táng tại Nghĩa trang Rose Hill, Los Algeles, California, Hoa Kỳ.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-30 huy chương đủ loại
-2 Silver Star U.S.[10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng.
  2. ^ Khu vực Duyên hải miền Trung Việt Nam là trách nhiệm bảo an và địa bàn họat động của Sư đoàn 2 Bộ binh gồm 2 tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi, trong đó có quận Quế Sơn thuộc tỉnh Quảng Tín là nơi chuyên canh cây Quế trồng thành rừng
  3. ^ Trong QLVNCH thời bấy giờ, tướng Toàn là một trong một số tướng lĩnh được xem là tham nhũng có tiếng và cũng là một vị tướng có nhiều giai thoại bê bối
  4. ^ Khóa đầu tiên khi trường Võ bị Quốc gia chuyển ở Huế về Đà Lạt. Đặt trên địa điểm trước đó là cơ sở của trường Võ bị Liên quân Viến Đông của Quân đội Thuộc địa Pháp.
  5. ^ Đại úy Tuấn sau là Trung tá Chỉ huy trưởng trường Huấn luyện Thiết giáp. Năm 1968 xảy ra ""Biến cố Mậu Thân", quân đối phương tấn công vào trại Thiết giáp Phù Đổng dã giết hại ông cùng với tất cả gia đình ông (gồm mẫu thân và vợ con của ông). Ông được truy thăng Đại tá.
  6. ^ Ngày kỷ niệm hai năm Cách mạng 1 tháng 11 năm 1963 thành công, sau này dùng làm ngày Quốc khánh cho nền Đệ nhị Cộng hòa (giai đoạn từ 1967-1975)
  7. ^ Trung tướng Dzu do yếu kém về lãnh vực chỉ huy trong chiến trận "Mùa hè dỏ lửa" năm 1972, đã để tổn thất quá nhiều cho Quân đoàn II và Quân khu 2, nên đã xin từ nhiệm trước để tránh việc bị cách chức.
  8. ^ Thời điểm này, Bộ Chỉ huy Thiết giáp đặt tại trại Phù Đổng ở Gò Vấp, Gia Định. Chỉ huy phó là Đại tá Thẩm Nghĩa Bôi (SN 1923, Võ bị Đà Lạt K5)
    -Phụ tá Chỉ huy trưởng: Đại tá Lương Bùi Tùng (SN 1930, Võ khoa (Sĩ quan Trừ bị) Nam Định K1)
  9. ^ Chuẩn tướng được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 25 bộ binh.
  10. ^ Huy chương Danh dự "Ngôi sao bạc" do Chỉnh phủ Hoa Kỳ trao tặng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Andrade, Dale. Trial by Fire: The 1972 Easter Offensive, America's Last Vietnam Battle. New York: Hippocrene Books, 1993.
  • Vien, General Cao Van, The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History, 1983.