Nguyễn Văn Toàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyễn Văn Toàn
Nguyen Van Toan1.jpg
Trung tướng Nguyễn Văn Toàn
Chức vụ
QD III VNCH.jpg
Tư lệnh Quân đoàn III
Nhiệm kỳ1/1975 – 29/4/1975
Cấp bậc-Trung tướng
Tiền nhiệm-Trung tướng Dư Quốc Đống
Kế nhiệmSau cùng
Vị tríQuân khu III
Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png
Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp
(Lần thứ hai)
Nhiệm kỳ10/1974 – 29/4/1975
Cấp bậc-Trung tướng
Tiền nhiệm-Chuẩn tướng Lý Tòng Bá
Kế nhiệmSau cùng
Vị tríBiệt khu Thủ đô
QD II VNCH.jpg
Tư lệnh Quân đoàn II
Nhiệm kỳ5/1972 – 10/1974
Cấp bậc-Thiếu tướng
-Trung tướng (3/1974)
Tiền nhiệm-Trung tướng Ngô Dzu
Kế nhiệm-Thiếu tướng Phạm Văn Phú
Vị tríQuân khu II
Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png
Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp
(Lần thứ nhất)
Nhiệm kỳ2/1972 – 5/1972
Cấp bậc-Thiếu tướng
Tiền nhiệm-Đại tá Phan Hòa Hiệp
Kế nhiệm-Đại tá Dương Văn Đô
Vị tríBiệt khu Thủ đô
ARVN 2nd Division SSI.svg
Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh
Nhiệm kỳ1/1967 – 2/1972
Cấp bậc-Chuẩn tướng (6/1968)
-Thiếu tướng (11/1970)
Tiền nhiệm-Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm
Kế nhiệm-Đại tá Phan Hòa Hiệp
Vị tríVùng 2 chiến thuật
Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png
Trung đoàn trưởng
Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Đà Nẵng
(Lần thứ hai)
Nhiệm kỳ12/1964 – 1/1967
Cấp bậc-Trung tá (11/1965)
-Đại tá (1/1967)
Tiền nhiệm-Trung tá Nguyễn Tuấn
Kế nhiệm-Thiếu tá Phan Hòa Hiệp
Vị tríVùng 1 chiến thuật
Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png
Chỉ huy trưởng Trường Thiết giáp
tại Long Hải, Phước Tuy
Nhiệm kỳ6/1963 – 12/1964
Cấp bậc-Thiếu tá
Tiền nhiệm-Thiếu tá Dương Văn Đô
Kế nhiệm-Trung tá Lâm Quang Thơ
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png
Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp
tại Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhất, Gia Định
Nhiệm kỳ1/1961 – 6/1963
Cấp bậc-Thiếu tá
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Chỉ huy trưởng-Trung tá Nguyễn Văn Thiện
Flag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png
Trung đoàn trưởng
Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Huế
(Lần thứ nhất)
Nhiệm kỳ7/1957 – 1/1959
Cấp bậc-Đại úy (12/1956)
-Thiếu tá (1/1959)
Tiền nhiệm-Đại úy Nguyễn Đình Bảng
Kế nhiệm-Đại úy Nguyễn Tuấn
Vị tríVùng 1 chiến thuật
Thông tin chung
Quốc tịch Hoa Kỳ
 Việt Nam Cộng hòa
Sinh6 tháng 10 năm 1932
Phú Vang, Thừa Thiên, Liên bang Đông Dương
Mất19 tháng 10 năm 2005
(73 tuổi)
Los Angeles, California, Hoa Kỳ
Nguyên nhân mấtTuổi già
Nơi ởCalifornia, Hoa kỳ
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
VợPhan Thu Cầm
Con cái3 người con (2 trai, 1 gái)
-Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Văn Vượng và Nguyễn Thị Thu Hằng
Học vấnTú tài bán phần
Học sinh trường-Trường Quốc học Khải Định, Huế
-Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt
-Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn Đông, Cap Saint Jacques (Vũng Tàu)
-Học viện Thiết giáp Kỵ binh Saumur, Pháp
-Trường Kỵ binh Fort Knox, [Kentucky, Hoa Kỳ
Quê quánTrung Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lưvj VNCH
Năm tại ngũ1950 - 1975
Cấp bậcUS-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vịFlag of ARVN Armored Cavalry Regiment.png Binh chủng Thiết giáp
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Bộ binh
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Grand Officer BAR.png Bảo quốc Huân chương đệ Nhị đẳng

Nguyễn Văn Toàn (1932 - 2005) nguyên là một tướng lĩnh gốc Kỵ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia. Ra trường, được chọn phục vụ Binh chủng Kỵ binh, nên sau này ông được xem là một vị tướng xuất thân từ Thiết giáp. Có một thời gian ông chuyển sang Bộ binh, chỉ huy một Sư đoàn đóng ở vùng có nhiều rừng cây Quế,[1] ông đã lợi dụng chức vụ, độc quyền thu gom và đầu cơ loại đặc sản này để tư lợi cho bản thân và gia đình. Do đó nên ông được gắn cho cái tên đầy mỉa mai là "Quế tướng công".[2]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 6-10-1932 trong một gia đình gia giáo khá giả tại Phú Vang, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu, ông là học sinh trường Quốc học Khải Định ở Huế. Ông tốt nghiệp Trung học phổ thông với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, sau khi thi đậu Tú tài và cũng vừa tròn 18 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/206.032. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950.[3] Đang thụ huấn nửa chừng, ông bị bệnh nên xin xuất khóa để điều trị. Qua năm 1951, ông tiếp tục theo học khóa 5 Hoàng Diệu, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Sau khi tốt nghiệp, ông gia nhập vào Binh chủng Thiết giáp. Nửa năm sau ông được theo học khóa căn bản Thiết giáp tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn đông ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Ngày 1 tháng 4 năm 1953, ra trường được giữ chức vụ Chi đội trưởng Thám thính xa. Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Trung úy, làm Chi đoàn phó Chi đoàn Thám thính.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1956, sau một thời gian từ Quân đội quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử đi du học khóa Thiết giáp cao cấp tại Học viện Thiết giáp Kỵ binh Saumur, Pháp. Mãn khóa về nước giữ chức vụ Chi đoàn trưởng Chi đoàn Thiết giáp. Cuối năm, ông được thăng cấp Đại úy và được cử giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 4 Thiết giáp.

Tháng 7 năm 1957, bàn giao chức vụ Trung đoàn phó lại cho Đại úy Trần Quang Khôi, ông được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Thiết giáp ở Huế thay cho Đại úy Nguyễn Đình Bảng.[4] Cuối năm 1958, bàn giao Trung đoàn 4 lại cho Đại úy Nguyễn Tuấn,[5] Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi du học khóa Thiết giáp cao cấp tại trường Kỵ binh Fort Knox, bang Kentucky, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng.

Đầu năm 1961, ông được giữ chức Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp tại Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhất do Trung tá Nguyễn Văn Thiện làm Chỉ huy trưởng. Năm 1962, ông được cử đi du học lớp Tham mưu Đặc biệt (giáo trình chống nổi loạn) tại căn cứ Fort Bragg, North Carolina, Hoa Kỳ.

Tháng 6 năm 1963, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Thiết giáp tại Long Hải, Phước Tuy thay thế Thiếu tá Dương Văn Đô.[6] Cuối năm 1964, bàn giao trường Thiết giáp lại cho Trung tá Lâm Quang Thơ để đi tái nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Đà Nẵng thay thế Trung tá Nguyễn Tuấn. Ngày 1 tháng 11 năm 1965,[7] ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Đầu tháng 1 năm 1967, ông được lệnh bàn giao Trung đoàn 4 Thiết giáp lại cho Thiếu tá Phan Hòa Hiệp. Trung tuần tháng 1 ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm được cử đi làm Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu 1.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1970, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Đầu tháng 2 năm 1972, ông được chỉ định chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp, hoán chuyển nhiệm vụ với Đại tá Phan Hòa Hiệp về làm Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh. Tháng 5 cùng năm, bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Thiết giáp lại cho Đại tá Dương Văn Đô. Sau đó ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II thay thế Trung tướng Ngô Dzu[8]

Đầu tháng 3 năm 1974, ông được thăng cấp Trung tướng. Cuối tháng 10 cùng năm bàn giao Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú để đi tái nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp[9] thay thế Chuẩn tướng Lý Tòng Bá[10]

Năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 1, ông được kiêm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế Trung tướng Dư Quốc Đống (xin từ nhiệm).

  • Bộ Tư lệnh Quân đoàn III vào tháng 4 năm 1975 gồm các sĩ quan chỉ huy và tham mưu như sau:

-Trung tướng Nguyễn Văn Toàn - Tư lệnh
-Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - Tư lệnh Tiền phương
-Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu - Tư lệnh phó Hành quân
-Thiếu tướng Đào Duy Ân - Tư lệnh phó Lãnh thổ
-Chuẩn tướng Lê Trung Tường - Tham mưu trưởng
-Đại tá Hoàng Đình Thọ[11] - Trưởng phòng 3
-Đại tá Nguyễn Khuyến - Chánh Sở An ninh Quân đội
-Đại tá Lê Văn Trang[12] - Chỉ huy trưởng Pháo binh
-Đại tá Trần Quốc Khang[13] - Chỉ huy trưởng Tiếp vận

Chiều ngày 29 tháng 4, ông dùng trực thăng di tản ra Đệ Thất Hạm đội đang đậu ở ngoài khơi Vũng Tàu. Sau đó, ông được sang định cư ở Tp Los Algeles, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Ngày 19 tháng 10 năm 2005, ông từ trần tại nơi định cư, "thọ" 73 tuổi. Ông được táng tại Nghĩa trang Rose Hill, Los Algeles, California, Hoa Kỳ.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Phan Thu Cầm
-Ông bà có 3 người con:
-Nguyễn Văn Thịnh
-Nguyễn Văn Vượng
-Nguyễn Thị Thu Hằng

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng
-30 huy chương đủ loại
-2 Silver Star U.S.[14]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khu vực Duyên hải miền Trung Việt Nam là trách nhiệm bảo an và địa bàn hoạt động của Sư đoàn 2 Bộ binh gồm 2 tỉnh Quảng TínQuảng Ngãi, trong đó có quận Quế Sơn thuộc tỉnh Quảng Tín là nơi chuyên canh cây Quế trồng thành rừng.
  2. ^ Trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa thời bấy giờ, tướng Nguyễn Văn Toàn là một trong những tướng lĩnh được xem là tham nhũng có tiếng và cũng là một vị tướng có nhiều bê bối.
  3. ^ Khóa đầu tiên khi trường Võ bị Quốc gia chuyển ở Huế về Đà Lạt. Đặt trên địa điểm trước đó là cơ sở của trường Võ bị Liên quân Viến Đông của Quân đội Thuộc địa Pháp.
  4. ^ Đại uý Nguyễn Đình Bảng sinh năm 1928 tại Nam Định, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Thị trưởng Cam Ranh.
  5. ^ Đại uý Nguyễn Tuấn sinh năm 1931 tại Nam Định, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, sau là Trung tá Chỉ huy trưởng Trường Thiết giáp. Năm 1968 xảy ra ""Biến cố Mậu Thân", quân đối phương tấn công vào trại Thiết giáp Phù Đổng đã giết hại ông cùng với tất cả gia đình ông (gồm mẫu thân và vợ con của ông). Ông được truy thăng Đại tá.
  6. ^ Thiếu tá Dương Văn Đô sinh năm 1926 tại Sơn Tây, tốt nghiệp khóa 2 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Đại tá tùng sự tại Bộ chỉ huy Thiết giáp Trung ương.
  7. ^ Ngày kỷ niệm hai năm Cách mạng 1 tháng 11 năm 1963 thành công, sau này dùng làm ngày Quốc khánh cho nền Đệ Nhị Cộng hòa (giai đoạn từ 1967-1975)
  8. ^ Trung tướng Dzu do yếu kém về lãnh vực chỉ huy trong chiến trận "Mùa hè dỏ lửa" năm 1972, đã để tổn thất quá nhiều cho Quân đoàn II và Quân khu 2, nên đã xin từ nhiệm trước để tránh việc bị cách chức.
  9. ^ Thời điểm này, Bộ Chỉ huy Thiết giáp đặt tại trại Phù Đổng ở Gò Vấp, Gia Định. Chỉ huy phó là Đại tá Thẩm Nghĩa Bôi (Sinh năm 1923 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt), Phụ tá Chỉ huy trưởng là Đại tá Lương Bùi Tùng (Sinh năm 1930 tại Bắc Ninh, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Nam Định)
  10. ^ Chuẩn tướng Bá được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 25 bộ binh.
  11. ^ Đại tá Hoàng Đình Thọ sinh năm 1930 tại Ninh Bình, tốt nghiệp trường Võ bị Địa phương Bắc Việt
  12. ^ Đại tá Lê Văn Trang sinh năm 1934 tại Nam Định, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Liên quân Đà Lạt
  13. ^ Đại tá Trần Quốc Khang sinh năm 1931 tại Nam Định, tốt nghiệp trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định
  14. ^ Huy chương Danh dự "Ngôi sao bạc" do Chỉnh phủ Hoa Kỳ trao tặng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Andrade, Dale. Trial by Fire: The 1972 Easter Offensive, America's Last Vietnam Battle. New York: Hippocrene Books, 1993.
  • Vien, General Cao Van, The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History, 1983.