Nguyễn Văn Toàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Văn Toàn
Tiểu sử
Sinh

6-10-1932

Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên
Mất

19-10-2005

Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Binh chủng Thiết giáp
Sư đoàn 2 Bộ binh
Quân đoàn II và Quân đoàn III
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam

Nguyễn Văn Toàn (1932-2005) nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia. Ra trường, được tuyển chọn phục vụ binh chủng Kỵ binh, nên sau này ông được mệnh danh là một vị tướng Thiết giáp. Ông còn có biệt danh là "Quế tướng công" (*). Vào thời kỳ làm Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh (**), ông đã lợi dụng chức vụ, độc quyền thu gom và đầu cơ loại đặc sản này để tư lợi về cho bản thân.

(*) Cách gọi mỉa mai.
(**) Sư đoàn này trách nhiệm toàn vùng tỉnh Quảng Ngãi, trong đó có quận Quế Sơn là khu vực chuyên canh cây quế được trồng thành rừng.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 6-10-1932 trong một gia đình Nho giáo tại Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên thủ phủ Trung phần. Ông là học sinh trường Quốc học Khải Định, Huế. Tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp.

Quân đội quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, (khi vừa tròn 18 tuổi), ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/206.032. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (*). Đang thụ huấn nửa chừng, ông bị bệnh nên xin xuất khóa để điều trị. Qua năm 1951, tiếp tục theo học khóa 5 Hoàng Diệu (khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951, mãn khoá ngày 24 tháng 4 năm 1952). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, tháng 10 cùng năm ông được theo học khoá căn bản Thiết giáp tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn đông ở Cap Saint Jacques, mãn khoá ngày 1 tháng 4 năm 1953, ra trường được giữ chức Chi đội trưởng Thám thính xa. Đến năm 1954, ông được thăng cấp Trung úy, làm Chi đoàn phó Chi đoàn Thám thính.

(*) Khóa đầu tiên khi trường Võ bị Quốc gia ở Huế chuyển về Đà Lạt, cơ sở trước đó là trường Võ bị Liên quân Viễn Đông do Quân đội Pháp huấn luyện và đào tạo sĩ quan người Việt

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1956, sau một thời gian từ Quân đội quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử đi du học khóa cao cấp Thiết giáp tại Học viện Thiết giáp Kỵ binh Saumur, Pháp. Mãn khóa về nước giữ chức Chi đoàn trưởng Chi đoàn Thiết giáp. Cuối năm này, ông được thăng cấp Đại úy và được cử giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn 4 Thiết giáp.

Tháng 7 năm 1957, bàn giao chức Trung đoàn phó lại cho Đại úy Trần Quang Khôi, ông được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Thiết giáp ở Huế thay cho Đại úy Nguyễn Đình Bảng. Qua cuối năm 1958, bàn giao Trung đoàn 4 lại cho Đại úy Nguyễn Tuấn (*). Để đi du học khóa cao cấp Thiết giáp tại trường Kỵ binh Fort Knox, bang Kentucky, Hoa Kỳ.

(*) Sau là Trung tá chỉ huy trưởng trường Thiết giáp, năm 1968 "Biến cố Mậu thân", quân đối phương tấn công vào trại Thiết giáp Phù Đổng đã giết hại ông cùng với tất cả vợ con của ông. Ông được truy thăng cấp bậc Đại tá.

Năm 1961, ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp tại Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhứt do Trung tá Nguyễn Văn Thiện làm Chỉ huy trưởng. Qua năm 1962, ông được cử đi du học lớp Tham mưu đặc biệt tại căn cứ Fort Bragg, North Carolina, Hoa Kỳ.

Tháng 6 năm 1963, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Thiết giáp tại Long Hải (Phước Tuy) thay thế Thiếu tá Dương Văn Đô. Đến cuối năm 1964, bàn giao trường Thiết giáp lại cho Trung tá Lâm Quang Thơ để đi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Đà Nẵng thay thế Trung tá Nguyễn Tuấn. Ngày 1 tháng 11 năm 1965, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.


Đầu năm 1967, bàn giao Trung đoàn 4 Thiết giáp lại cho Thiếu tá Phan Hòa Hiệp. Trung tuần tháng 1 ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh thay thế Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm được cử đi làm Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu 1.

Tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Đến đầu tháng 11 năm 1970, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Đầu tháng 2 năm 1972, ông được chỉ định chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp, hoán chuyển nhiệm vụ với Đại tá Phan Hòa Hiệp về làm Tư lệnh Sư đoàn 2. Tháng 5 cùng năm bàn giao chức Chỉ huy trưởng Thiết giáp lại cho Đại tá Dương Văn Đô. Sau đó ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II thay thế Trung tướng Ngô Du (xin từ nhiệm).

Đầu tháng 3 năm 1974, ông được thăng cấp Trung tướng. Cuối tháng 10 cùng năm bàn giao Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú để đi tái nhiệm chức Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết giáp (*) thay thế Chuẩn tướng Lý Tòng Bá được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 25 bộ binh.

(*) Vào thời điểm này Bộ chỉ huy Thiết giáp đặt tại trại Phù Đổng, Gò Vấp. Chỉ huy phó là Đại tá Thẩm Nghĩa Bôi, Phụ tá Chỉ huy trưởng là Đại tá Lương Bùi Tùng.

Ngày 6 tháng 1, ông được kiêm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế Trung tướng Dư Quốc Đống (xin từ nhiệm).

Chiều ngày 29 tháng 4 ông dùng trực thăng di tản ra Đệ thất Hạm đội đang đậu ở ngoài khơi Vũng Tàu.

Sau tháng 4 năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, ông định cư ở Tp Los Algeles, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Ngày 19-10-2005, ông từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 73 tuổi. Ông được an táng tại Nghĩa trang Rose Hill, Los Algeles, California, Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa. Hương Quê. tr. 227–228. ISBN 978-0-9852-1820-1. 
  • Andrade, Dale. Trial by Fire: The 1972 Easter Offensive, America's Last Vietnam Battle. New York: Hippocrene Books, 1993.
  • Vien, General Cao Van, The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History, 1983.