Trần Quang Khôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Quang Khôi
Tiểu sử
Sinh

24 tháng 1, 1930(1930-01-24)

Bến Tre, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Binh chủng Thiết giáp
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Trần Quang Khôi, nguyên là một tướng lĩnh Kỵ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu ở trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia thành lập trên cơ sở trước đó là trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội Pháp. Được sự hỗ trợ huấn luyện của Quân đội Pháp nhằm mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ Quân đội Quốc gia trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Thời gian tại ngũ, ông đã tuần tự giữ từ chức vụ nhỏ trong chuyên ngành của mình cho đến chức vụ Chỉ huy một đơn vị Kỵ binh cấp Lữ đoàn, trách nhiệm yểm trợ cho một Quân khu.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 24 tháng 1 năm 1930 trong một gia đình đại điền chủ giàu có. Ông được sinh ở quê ngoại (1) tại làng Đa Phước Hội, Quận Mỏ Cày, Tỉnh Bến Tre, miền Tây Nam phần Việt Nam, ông là người con thứ 5 trong tổng số 12 anh chị em. Do gia đình có điều kiện nên khi còn là học sinh Trung học ông được học ở những ngôi trường danh tiếng. Từ năm 1943 đến năm 1945, ông theo học ở trường Trung học Tabert, Sài Gòn. Năm 1946 đến năm 1949, trường Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ và từ năm 1949 đến năm 1951 trường trung học Le Myre de Vilers, Mỹ Tho. Tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần Pháp (Part II) (2).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1951, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 50/119.246. Theo học khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh tại trường Võ bị Liên Quân Đà Lạt (3), khai giảng ngày 1 tháng 12 năm 1951. Ngày 1 tháng 10 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông gia nhập vào đơn vị Thiết giáp và được tiếp tục theo học khóa căn bản Binh chủng tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn Đông của Pháp tại Vũng Tàu.

Tháng 4 năm 1953, sau khi mãn khóa căn bản ông được điều động về Đại đội 5 thuộc Tiểu đoàn Thám thính giữ chức vụ Trung đội trưởng Trung đội 4 kiêm Đại đội phó đồn trú tại Thái Bình, Bắc Việt do Trung úy Trần Văn Ái làm Đại đội trưởng.

Tháng 6 năm 1954, ông chuyển sang làm Trung đội trưởng Chiến xa Obusier 75 ly kiêm Đại đội phó Đại đội 3 Thám thính tại Nam Định do Đại úy Nguyễn Duy Hinh làm Đại đội trưởng. Sau Hiệp định Genève (ngày 20 tháng 7), ông cùng đơn vị di chuyển vào Nam đồn trú tại Đà Nẵng. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Sau đó một tháng, ông được cử đi du học khóa cao cấp Thiết giáp Kỵ binh tại trường Saumur, Pháp đến trung tuần tháng 8 năm 1955 mãn khóa.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1955, sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Chi đoàn trưởng chi đoàn Thuỷ Xa Cua thuộc Liên đoàn 5 Thuỷ Xa tại Nhà Bè, Gia Định. Đến tháng 9 năm 1956, chuyển đi làm Trưởng ban 3 Trung đoàn 2 Thiết giáp tại Mỹ Tho. Giữa năm 1957, ông được chỉ định làm Trung đoàn phó Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Huế. Giữa năm 1958, ông được cử đi du học khóa cao cấp Thiết giáp tại Trường Thiết giáp Lục quân Fort Knox, Tiểu bang Kentucky, Hoa Kỳ. Tháng 6 năm 1959, mãn khóa về nước ông được giữ chức vụ Chỉ huy phó trường Thiết giáp kiêm Giám đốc Huấn luyện tại Thủ Đức do Thiếu tá Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc làm Chỉ huy trưởng. Kế tiếp, ông được cử đi học khóa 2 ở trường Chiến tranh Chính trị tại Sài Gòn.

Tháng 6 năm 1960, ông được thăng cấp Thiếu tá và được chỉ định làm Trung đoàn phó Trung đoàn 6 Thiết giáp tại Quảng Trị. Tháng 12 cùng năm, chuyển sang làm Trung đoàn phó Trung đoàn 3 Thiết giáp tại Pleiku.

Đầu tháng 2 năm 1964 sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 các tướng lãnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng để lên nắm quyền lãnh đạo của tướng Nguyễn Khánh, ông được biệt phái sang đơn vị Bộ binh giữ chức vụ Quyền Trung đoàn trưởng Trung đoàn 41 thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh tại Kontum. Tháng 7 cùng năm, chuyển về Bộ Tư lệnh Quân đoàn II tại Pleiku giữ chức vụ Trưởng phòng 3 Kế hoạch hành quân. Tháng 12 cùng năm, chuyển trở lại đơn vị cũ, ông được cử làm Chiến đoàn phó Chiến đoàn 5 Chiến xa tại Gò Vấp.

Tháng 8 năm 1965, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Thiết giáp tại Xuân Lộc, Long Khánh. Đến đầu năm 1967, được lệnh bàn giao chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 lại cho Thiếu tá Phạm Đăng Chương. Tháng 7 cùng năm, ông được cử đi làm Tham vụ báo chí ở Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Seoul, Nam Hàn do Trung tướng Đỗ Cao Trí làm Đại sứ. Tháng 8 năm 1968, về nước được chỉ định làm Chánh văn phòng Tư lệnh Quân đoàn III do Trung tướng Đỗ Cao Trí làm Tư lệnh.

Tháng 6 năm 1969, ông được thăng cấp Đại tá, một lần nữa biệt phái qua Bộ binh giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 18 Bộ binh tại Xuân Lộc, Long Khánh. Đầu năm 1970, ông được chỉ định làm Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh tại Biên Hòa. Tháng 6 năm 1972, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đến tháng 6 năm 1973, mãn khóa về nước ông nhận nhiệm vụ làm Trưởng khối Huấn luyện Chiến thuật tại trường Chỉ huy & Tham mưu ở Long Bình. Ngày 7 tháng 11 cùng năm, tái nhiệm chức vụ Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh tại Biên Hòa. Ngày 1 tháng 4 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngày cuối tháng 4, ông chỉ huy đơn vị trực thuộc bảo vệ Biên Hòa (nơi đặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn III & Quân khu 3) do Trung tướng Nguyễn Văn Toàn làm Tư lệnh. Cùng phối hợp với Sư đoàn 18 Bộ binh do Thiếu tướng Lê Minh Đảo làm Tư lệnh, phòng thủ phòng tuyến Xuân Lộc, bảo vệ cửa ngõ phía đông bắc của Thủ Đô Sài Gòn.

Sau ngày 30 tháng 4, ông di tản về miền Tây và tạm trú ở Rạch Giá. Ngày 9 tháng 5 ông bị quân Giải phóng bắt ở tư gia của song thân tại Rạch Giá và bị giam tại nhà lao Rạch Giá. Sau đó, chuyển về Cần Thơ, Hốc Môn và chuyển ra miền Bắc giam giữ ở Yên Bái (1976), Hà Tây (1978) và Nam Hà (1983). Năm 1988, chuyển vào Nam giam tại trại Z.30D Hàm Tân ở Rừng Lá, Bình Tuy (Thuận Hải). Ngày 31 tháng 5 năm 1992, ông được trả tự do sau 17 năm 1 tháng bị giam cầm. Ông là một trong 8 tướng lãnh được trả tự do sau cùng với 17 năm lưu đày (4).

Ngày 11 tháng 4 năm 1993, ông và gia đình xuất cảnh theo chương trình "Ra đi có trật tự" diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh, định cư tại Tp Chantilly, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Song thân: Cụ Trần Quang Chiêu và cụ Lê Thị Hòa (Hai cụ sinh hạ được 12 người con gồm 7 trai, 5 gái).
  • Phu nhân: Bà Lâm Tú Anh - (Ái nữ của 2 cụ Lâm Đức Hương và Trương Thị Sâm).
-Ông bà có 4 người con gồm 2 trai, 2 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • (1) -Quê nội của tướng Trần Quang Khôi ở Rạch Giá, Kiên Giang.
  • (2) -Sau này trong quân ngũ, tướng Khôi ghi danh học Đại học và có thêm văn bằng Cử nhân Văn chương Pháp. Khi định cư ở Mỹ, ông tốt nghiệp thêm văn bằng Đệ tam cấp Tiến sĩ Văn học Pháp (Master of Arts Degree in French) ngày 10 tháng 6 năm 1998 tại Đại học George Mason University, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.
  • (3) -Tốt nghiệp khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh Võ bị Đà Lạt, sau này lên tướng còn có các Chuẩn tướng và Phó Đề đốc Hải quân:
-Lý Tòng Bá (SN 1931, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh)
-Trần Đình Thọ (SN 1933, nguyên Trưởng phòng 3 Bộ Tổng Tham mưu)
-Diệp Quang Thủy (SN 1932, nguyên Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Hải quân)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.