Đỗ Cao Trí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ĐỖ CAO TRÍ
Lieutenant General Do Cao Tri photo 1.jpg
Tướng Đỗ Cao Trí
Quân phục Trung tướng
Tiểu sử
Sinh

20 tháng 11, 1929(1929-11-20)

Biên Hòa, Việt Nam
Mất

23 tháng 2, 1971 (42 tuổi)

Tây Ninh, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1947-1971
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
QD II VNCH.jpg Đệ Tam Quân khu[1]
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1[2]
Flag of Dong De Military School.svg Trường Hạ sĩ quan
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ I [3]
Công việc khác Flag of South Vietnam.svgFlag of South Korea.svg Đại sứ tại Đại Hàn

Đỗ Cao Trí (1929-1971), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Sĩ quan Võ bị do Chính quyền Thuộc địa Pháp mở ra ở Nam phần Việt Nam. Ra trường, ông tình nguyện gia nhập Binh chủng Nhảy dù và đã lên đến chức vụ Tư lệnh đơn vị này. Sau đó, ông được đảm nhiệm các chức vụ Chỉ huy và tham mưu cấp Quân khu và Quân đoàn. Ông là một trong số ít sĩ quan được lên tướng ở thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa (Thiếu tướng 1963). Ông từng được đánh giá là vị tướng chiến trường tài giỏi trong hàng ngũ tướng lĩnh của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Năm 1971, đương nhiệm Tư lệnh Quân đoàn III, ông bị tử nạn trong khi đang thi hành nhiệm vụ, được truy thăng cấp Đại tướng.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 20 tháng 11 năm 1929 trong một gia đình điền chủ lớn tại làng Bình Trước, Biên Hòa, miền Đông Nam phần Việt Nam. Do gia đình có điều kiện khá giả nên thời niên thiếu ông được học ở các trường danh tiếng dạy theo giáo trình Pháp: trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hòa, trường Trung học Lycée Petrus Ký, Sài Gòn. Năm 1947, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 8 năm 1947, sau khi rời ghế học đường, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, được cho theo học khóa Đỗ Hữu Vị tại trường Sĩ quan Nước Ngọt ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu), khai giảng tháng 8 năm 1947.[4] Tháng 6 năm 1948, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được chọn đi du học khóa Bộ binh tại trường Thực tập Bộ binh Auvours, Pháp. Tháng 10 về nước, ông gia nhập Binh chủng Nhảy dù và đi du học tiếp khóa căn bản Nhảy dù tại Trung tâm Huấn luyện Nhảy dù Pau ở Pháp. Tháng 2 năm 1949 mãn khóa về nước, ông phục vụ trong Đơn vị Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, cùng với sự ra đời của Quân đội Quốc gia, Đại đội Nhảy dù Biệt lập[5] được thành lập ở Bắc Việt. Ông được thăng cấp Trung úy và làm Trung đội trưởng trong Đại đội này do Đại úy Nguyễn Khánh làm Đại đội trưởng. Tháng 5 năm 1951, khi Đại đội Biệt lập Nhảy dù được nâng lên cấp Tiểu đoàn, ông là Đại đội trưởng của một trong 3 Đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 Nhảy dù tân lập, vẫn do Đại úy Nguyễn Khánh làm Tiểu đoàn trưởng. Ngày 1 tháng 7 năm 1952, chính thức chuyển biên chế sang Quân đội Quốc gia, ông được thăng cấp Đại úy và chuyển đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Việt Nam.[6] Đầu năm 1953, ông được cử đi học lớp Chỉ huy Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà nội.[7] Ngày 16 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Đầu năm 1954, Tiểu đoàn 18 Việt Nam di chuyển về Chí Hòa, Sài Gòn để bổ sung và trang bị thêm, sau đó cải biên thành Tiểu đoàn 6 Nhảy dù trực thuộc Liên đoàn Không vận số 3 Nhảy dù và ông trở thành người chỉ huy đầu tiên của Tiểu đoàn. Sau ngày ký Hiệp định Genève (20/7/1954). Cuối tháng 9 cùng năm, ông bàn giao Tiểu đoàn 6 lại cho Đại úy Thạch Con. Sau đó được Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia cử giữ chức vụ Tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù.[8]

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 1 năm 1955, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Cuối tháng 10, chuyển biên chế sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa (cải danh từ Quân đội Quốc gia). Ngày 10 tháng 2 năm 1956, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 9 cùng năm, nhận lệnh bàn giao Liên đoàn Dù lại cho Trung tá Nguyễn Chánh Thi (nguyên Phó Tư lệnh Liên đoàn). Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Quân khu (gồm 4 tỉnh: Kontum, Pleiku, Phú Yên và Bình Định). Đầu năm 1958, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Quân khu lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn (nguyên Phó Tư lệnh Quân khu). Sau đó ông được cử đi du học tại Hoa Kỳ qua các khóa:
-Khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth ở Tiểu bang Kansas.
-Khóa Dân sự vụ tại Học viện Fort Gordon ở Tiểu bang Georgia.
-Khóa Điều không tại Học viện Không quân Fort Kisler ở Tiểu bang Mississippi. Tháng 4 năm 1959 mãn khóa về nước, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn I. Sau đó giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn I do Trung tướng Trần Văn Đôn làm Tư lệnh.

Đầu tháng 8 năm 1961, chuyển về Duyên hải Nam Trung phân ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (Đồng Đế, Nha Trang) thay thế Trung tá Đặng Văn Sơn[9] được cử đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Cuối tháng giêng năm 1962, ông tổ chức lễ mãn khóa cho khóa 2 Nhân vị Sĩ quan Đặc biệt Hiện dịch dưới sự Chủ toạ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trung tuần tháng 12 cuối năm, bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan lại cho Đại tá Nguyễn Văn Kiểm. Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Văn Thiệu được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.

Ngày 7 tháng 7 năm 1963, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đến ngày 21 tháng 8 cùng năm, ông được cử kiêm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm xin từ nhiệm vì lý do sức khoẻ. Ông là một trong các tướng Tư lệnh Quân đoàn ủng hộ cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm nổ ra vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ngày 2 tháng 11, ông được đặc cách thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Cuối tháng 11, bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh lại cho Trung tá Nguyễn Văn Hiếu (nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn), chỉ còn giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I. Ngày 12 tháng 12, ông chuyển về Cao nguyên Trung phần làm Tư lệnh Quân đoàn II và vùng 2 Chiến thuật thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh. Ngược lại tướng Khánh chuyển ra miền Trung thay ông làm Tư lệnh Quân đoàn I. Trung tuần tháng 3 năm 1964, chủ tọa buổi lễ mãn khóa 12 Đệ nhị Song ngư Sĩ quan Hải quân ngành chỉ huy (khai giảng ngày 13/8/1962) tại Trung tâm Huấn luyện Hải quan Nha Trang cùng tra kiếm danh dự và gắn cấp hiệu Hải quân Thiếu uy cho Thủ khoa Trần Trọng Ngà (Sinh năm 1944 tại Thủ Đức, Gia Định. Sau cùng mang cấp bậc Hải quân Thiếu tá Hạm phó)

Ngày 14 tháng 9 năm 1964, ông bị Trung tướng Nguyễn Khánh Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ giải nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II vì có liên can đến cuộc Biểu dương Lực lượng vào ngày 13/9/1964 do Trung tướng Dương Văn Đức Tư lệnh Quân đoàn IV cầm đầu. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có được cử thay thế vào chức Tư lệnh Quân đoàn II. Cùng lúc, người anh là Nha sĩ Đỗ Cao Minh và em rể là Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm cũng bị bắt vì cùng tham gia vào cuộc Biểu dương Lực lượng. Qua thượng tuần tháng 8 năm năm 1965, ông bị buộc phải Giải ngũ (Do Quyết định của Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia). Ngày 15 tháng 5 năm 1967, ông được cử đại diện Việt Nam Cộng hòa đi làm Đại sứ tại Đại hàn Dân quốc.

Tái ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kế hoạch loại trừ thế lực của các tướng lĩnh ủng hộ Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. Cuối tháng 7 năm 1967 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triệu hồi về nước vf ông trở lại Quân đội, phục hồi nguyên cấp và bổ nhiệm ông thay thế Trung tướng Lê Nguyên Khang (nguyên Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến kiêm nhiệm Tư lệnh Quân đoàn III) giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Tử nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 2 năm 1971, ông bị tử nạn phi cơ trực thăng tại Trảng Lớn, Bắc Tây Ninh, trong khi đang bay thị sát chiến trường trong cuộc hành quân Toàn thắng 1/71. Chiếc trực thăng UH.1 phát nổ và bốc cháy sau khi cất cánh từ Trung tâm Hành quan của Quân đoàn III tại Tây Ninh được 10 phút. Ông tử nạn tai chỗ, hưởng dương 42 tuổi. Tử nạn cùng với ông còn có phóng viên chiến trường người Pháp Francois Sully, viết cho báo New York Time khi đang thị sát chiến trường Campuchia.[10]

Ngay sau khi tai nạn xảy ra, Tổng thống Thiệu cùng Đệ nhất phu nhân đến dự lễ tẩm liệm. Trong buổi lễ, Tổng thống thay mặt Chính phủ và Quân đội truy thăng cho ông cấp bậc Đại tướng.

Ngày 26 tháng 2, lễ an táng được cử hành trọng thể với lễ nghi Quân cách. Tổng thống Thiệu đến dự lễ an táng cùng truy tặng Đệ nhất đẳng Bảo quốc Huân chương và Quân công bội tinh kèm Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Linh cữu được đặt trên một chiếc Thiết vận xa M.113 đưa đến nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa. Ông là vị tướng đầu tiên cùng an nghỉ với hàng chục ngàn tử sĩ chung một nghĩa trang theo nguyện vọng lúc sinh tiền: Huynh đệ chí binh, sống chết bên nhau. Trên mộ ông có khắc 2 câu thơ: Sống giữa ba quân, Thác giữa ba quân

Khóa 24 sĩ quan Võ bị Quốc gia Đà Lạt (khai giảng 7/12/1967, mãn khóa 17/12/1971) được mang tên Khóa Đỗ cao Trí.

Ngoài các sĩ quan (trong phần chú thích) còn 2 Trung sĩ người Việt cùng 2 Sĩ quan Phi công và 2 Trung sĩ xạ thủ Mỹ. Tất cả các vị này đều được truy thăng lên một cấp và được tổ chức lễ nghi an táng theo quy chế của Quân đội.

Năm 1983, Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa bị phá hủy, hài cốt của ông được thân nhân bốc đem hỏa thiêu, di cốt được đưa vào thờ trong một ngôi chùa tại quê nhà, Biên Hòa.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Cái chết của tướng Đỗ Cao Trí để lại một khoảng trống lớn trong các cấp chỉ huy chiến trường trong một thời gian dài. Tướng Đỗ Cao Trí được đánh giá là tướng lĩnh có tầm nhìn chiến lược sắc bén, có tài cầm quân, có mưu lược, có dũng khí, có khả năng kích thích tinh thần chiến đấu binh sĩ và không có tham vọng chính trị. Tướng William Westmoreland đã nhận định: "Tướng Trí là một con cọp của chiến trường, một tướng George Patton (tướng Thiết giáp lừng danh Mỹ) của Việt Nam".

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • - Huy chương Việt Nam:
    - Bảo quốc Huân chương đệ nhất đẳng (truy tặng)
    - Quân công Bội tinh (truy tặng).
    - Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu (truy tặng).
    - 45 huy chương Quân sư, Dân sự khác (tặng thưởng).
  • - Huy chương Ngoại quốc:
    - Văn huy Bội tinh đệ nhị đẳng (Trung Hoa Quốc gia).
    - Légion d'honneur (Pháp)
    - Croix de Guerre T.O.E.3 Palmers et 5 Etoiles Vermeil (Pháp).
    - Bảo quốc Huân chương "ULI" (Đại Hàn Dân quốc).
    - Huân chương Bạch tượng đệ nhị đẳng (Thái Lan).
    - Huân chương ngôi sao bạc (Hoa Kỳ).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gia tộc Đỗ Cao của tướng Đỗ Cao Trí, nguyên gốc ở Triều Châu, Trung Hoa. Về sau, cụ Tổ 4 đời di cư sang Việt Nam định cư ở Cù lao Mỹ Quới, bên dòng sông Đồng Nai thuộc Tân Uyên, Biên Hòa.
  • Thân phụ: Cụ ông Đỗ Cao Lụa
  • Thân mẫu: Cụ bà Tô Thị Định
(Hai cụ sinh được 12 người con gồm 10 trai, 2 gái).
  • Phu nhân: Bà Võ Thị Lan Phương (Hiện đang sống cùng con cháu tại Canada. Bà Là con gái của Cụ Võ Văn Vân, nguyên quán Thủ Dầu Một).
Ông bà có hai người con: 1 trai, 1 gái:
-Quý nữ: Đỗ Thị Phương Loan (Định cư ở Pháp).
-Quý nam: Đỗ Cao Dũng (Định cư ở Canada).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đệ Tam Quân khu, nguyên là phần lãnh thổ phía Bắc được tách ra của Đệ Tứ Quân khu, gồm các tỉnh Bắc Cao nguyên và Bắc Duyên hải Trung phần thành lập ngày 26/10/1956 (phần lãnh thổ phía Nam còn lại gồm các tỉnh Nam Cao nguyên và Nam Duyên hải Trung phần là Đệ Tứ Quân khu mới). Ngày 1 tháng 10 năm 1957, hai Quân khu Đệ tam và Đệ Tứ hợp lại trở thành Quân đoàn II và Vùng 2 Chiến thuật. Tướng Đỗ Cao Trí đã hai lần phục vụ ở Quân đoàn II:
    -Lần thứ nhất: Đại tá Tư lệnh, khi còn là Đệ Tam Quân khu (1956-1958).
    -Lần thứ hai: Trung tướng Tư lệnh (1963-1964).
  2. ^ Tướng Đỗ Cao trí đã hai lần phục vụ ở Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật:
    .-Lần thứ nhất: Đại tá Tham mưu trưởng, rồi Tư lệnh phó (1959-1961).
    -Lần thứ hai: Trung tướng Tư lệnh (1963).
  3. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhất đẳng (truy tặng).
  4. ^ Khóa Đỗ Hữu Vị trường Sĩ quan Nước Ngọt, còn gọi là khóa 2 Võ bị Liên quân Viễn Đông, vì trường Võ bị Liên quân Viễn Đông đào tạo sĩ quan khóa 1 Nguyễn Văn Thinh ở Đà Lạt. Sau đó để cơ sở lại cho trường Võ bị Quốc gia Việt Nam (từ Huế chuyển về Đà Lạt) và di chuyển xuống Vũng Tàu đặt cơ sở của trường tại khu Nước Ngọt, lấy tên là trường Sĩ quan Nước Ngọt, tiếp tục đào tạo sĩ quan khóa 2 Đỗ Hữu Vị.
  5. ^ Ngày 8 tháng 5 năm 1951 Đại đội Nhảy dù Biệt lập được trang bị và bổ sung hoàn chỉnh cho một đơn vị cấp Tiểu đoàn và trở thành Tiểu đoàn 1 Nhảy dù.
  6. ^ Tiểu đoàn 18 Việt Nam thành lập ngày 1 tháng 1 tháng 1951 tại Bạc Liêu, đến đầu năm 1954 làm nòng cốt để thành lập Tiểu đoàn 6 Nhảy dù.
  7. ^ Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật được thành lập tháng 6 năm 1952 tại Hà Nội. Sau Hiệp định Genève 1954 di chuyển vào Nam đặt cơ sở ở Tân Bình, Gia Định đổi tên thành trường Đại học Quân sự. Năm 1960, di chuyển lên Đà Lạt đổi là trường Chỉ huy và Tham mưu. Cuối năm 1971, di chuyển lần cuối về đặt cơ sở tại Long Bình, Biên Hòa.
  8. ^ Ngày 29 tháng 9 năm 1954, Quân đội Pháp bàn giao Liên đoàn Không vận số 3 Nhảy dù lại cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngay sau đó đơn vị này được cải danh thành Liên đoàn Nhảy dù và Thiếu tá Đỗ Cao Trí là sĩ quan người Việt đầu tiên chỉ huy Binh chủng Nhảy dù cấp Liên đoàn.
    -Thời điểm này, các sĩ quan chỉ huy Tiểu đoàn trực thuộc Liên đoàn:
    -Tiểu đoàn 1: Đại úy Vũ Quang Tài (Sinh năm 1920 tại Móng Cái. Tốt nghiệp Võ bị Địa phương Nam Việt (Vũng Tàu). Sau cùng là Đại tá Cục trưởng Cục Xã hội trực thuộc Tổng cục Tiếp vận).
    -Tiểu đoàn 3: Đại úy Phan Trọng Chinh (Sinh năm 1931 tại Bắc Ninh. Tốt nghiệp khóa 5 Hoàng Diệu Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau cùng là Trung tướng Chỉ huy trưởng trường Chỉ huy và Tham mưu).
    -Tiểu đoàn 5: Đại úy Trịnh Xuân Nghiêm (Sinh năm 1929 tại Tuyên Quang, Tốt nghiệp khóa 3 Trần Hưng Đạo Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng trường Chỉ huy và Tham mưu).
    -Tiểu đoàn 6: Đại úy Thạch Con (Sinh năm 1925 tại Sóc Trăng. Tốt nghiệp khóa 3 Trần Hưng Đạo Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau cùng là Trung tá. Giải ngũ năm 1965).
    -Tiểu đoàn Trợ chiến: Đại úy Nguyễn Thọ Lập (Sinh năm 1918 tại Biên Hòa. Tốt nghiệp khóa 5 Hoàng Diệu Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15 thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh. Giải ngũ năm 1973).
  9. ^ Trung tá Đặng Văn Sơn (Sinh năm 1916 tại Huế. Tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan Pháp. Sau cùng là Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Giải ngũ năm 1964).
  10. ^ Cùng tử nạn với tướng Đỗ Cao Trí còn có các sĩ quan tham mưu trong Bộ chỉ huy Tiền phương của Quân đoàn III:
    -Trung tá Đặng Quốc Sĩ (Sinh năm 1932 tại Ninh Bình. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K9. Nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Hành quân Quân đoàn III. Được truy thăng Đại tá)
    -Thiếu tá Trần Minh Châu (Sinh năm 1933 tại Mỹ Tho. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K10. Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Truyền tin Quân đoàn III. Được truy thăng Trung tá)
    -Đại úy Nguyễn Anh Tuấn (Sinh năm 1935 tại Vĩnh Long. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K19. Nguyên là Sĩ quan Tuỳ viên của tướng Trí. Được truy thăng Thiếu tá)
    -Đại úy Phan Tất Đắc (Truy thăng Thiếu tá)
    -Thiếu úy Nguyễn Cân (Truy thăng Trung úy)
    -Ngoài ra còn có: Hai Hạ sĩ quan và 1 phóng viên chiến trường người Việt, hai Sĩ quan Phi công, hai Hạ sĩ quan xạ thủ Mỹ. Tổng cộng là 13 người.
    Về sau có tin đồn cho rằng tướng Trí bị mưu sát do sự tranh giành quyền lực từ các tướng lĩnh trong Chính quyền Sài Gòn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân và Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]