Đỗ Cao Trí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Đỗ Cao Trí
Lieutenant General Do Cao Tri photo 1.jpg
Tướng Đỗ Cao Trí
Tiểu sử
Sinh

20-11-1929

Biên Hòa, Việt Nam
Mất

23-2-1971 (42 tuổi)

Tây Ninh, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1947-1971
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng (Truy phong)
Đơn vị Liên đoàn Dù Việt Nam Cộng hòa(1954-1955)
Quân đoàn I Việt Nam Cộng Hòa(1963)
Quân đoàn II Việt Nam Cộng Hòa(1963-1964)
Quân đoàn III Việt Nam Cộng Hòa(1968-1971).
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Khen thưởng Bảo Quốc Huân Chương

Đỗ Cao Trí (1929–1971), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Xuất thân từ một Trường Võ bị do Quân đội Pháp mở ra ở Nam Việt. Ra trường, ông được điều về đơn vị bộ binh, nhưng sau đó ông tình nguyện xin chuyển qua Binh chủng Dù (Ông là một trong số ít sĩ quan được lên Tướng ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hoà, ông lên Thiếu Tướng ngày 7-7-1963, trước ngày đảo chánh Tổng thống Diệm gần 4 tháng). Ông từng được đánh giá là vị Tướng chiến trường tài giỏi trong hàng ngũ Tướng lĩnh của Quân đội. Năm 1971, đương nhiệm Tư lệnh Quân đoàn III, ông bị tử nạn trong khi đang thi hành nhiệm vụ, được truy thăng Đại tướng.

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Họ Đỗ Cao, nguyên ở Triều Châu, Trung Hoa. Về sau, ông Tổ 4 đời di chuyển xuống định cư tại cù lao Mỹ Quới bên dòng sông Đồng Nai thuộc Tân Uyên, Biên Hoà.

Ông sinh ngày 20/11/1929 tại làng Bình Trước, Biên Hòa. Là con thứ tư trong một gia đình có 12 anh chị em, gồm 10 trai và 2 gái. Ông là cháu của một vị quan lại triều Nguyễn và là con của một điền chủ giàu có.

  • Thân phụ: Cụ Đỗ Cao Lụa (Sinh năm 1902 tại Gia Định, từ trần 1974 tại Biên Hoà)
  • Thân mẫu: Cụ Tô Thị Định (Sinh năm 1903 tại Long Khánh, từ trần năm 1979 tại Biên Hoà)
  • Phu nhân: Bà Võ Thị Lan Phương (Nguyên quán: Bình Dương). Ông bà có 2 người con: 1 trai, 1 gái (Bà và con cháu định cư tại Pháp)
  • Thời niên thiếu ông học các Trường: Trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hoà. Trường Trung học Lycée Petrus Ký, Sài Gòn. Tốt nghiệp Tú tài toàn phần (Part II).

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1947: Nhập ngũ vào Quân đội Pháp theo học khoá Đỗ Hữu Vị Trường Sĩ quan Nước Ngọt (Khai giảng: tháng 8/1947, mãn khoá: tháng 6/1948. Còn gọi là khoá 2 Võ bị Viễn Đông, vì khoá 1 Nguyễn Văn Thinh huấn luyện khoá sinh ở Đà Lạt, đến khoá Đỗ Hữu Vị thì chuyển Trường về Nước Ngọt, Vũng Tàu).

Năm 1948: Ông tốt nghiệp và ra trường với cấp bậc Thiếu uý. Ngay sau đó, ông được chọn du học khoá Bộ binh tại trường thực tập Bộ binh Auvours, Pháp.

Năm 1949: Ông được du học tiếp khoá Huấn luyện Nhảy dù Pau, Pháp và tốt nghiệp cùng năm.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950: Cùng với sự ra đời của Quân đội Quốc gia, Đại đội Nhảy dù Biệt lập được thành lập ở Bắc Việt (Qua năm 1951, được nâng lên thành Tiểu đoàn 1 Dù). Ông được thăng cấp Trung uý và làm Trung đội trưởng trong đại đội này do Đại uý Nguyễn Khánh làm Đại đội trưởng.

Năm 1951: Ông được làm Đại đội trưởng 1 trong 3 Đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 Dù tân lập, vẫn do Đại uý Khánh làm Tiểu đoàn trưởng.

Năm 1952: Đầu tháng 7, ông được thăng cấp Đại uý và chuyển đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Việt Nam (Thành lập ngày 1/1/1951 tại Bạc Liêu, Năm 1954 giải tán để làm nòng cốt cho Tiểu đoàn 6 Dù đồn trú tại Bạc Liêu, Sóc Trăng).

Năm 1953: Theo học khoá Chỉ huy Chiến thuật tại Trung tâm Chiến thuật Hà nội (Tiền thân của Trường Chỉ huy & Tham mưu). Tháng 6, ông được thăng cấp Thiếu tá.

Năm 1954: Đầu tháng 3, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Dù tân lập tại Chí Hoà, sài gòn. Cuối tháng 9, bàn giao Tiểu đoàn 6 lại cho Đại uý Thạch Côn (Tốt nghiệp khoá 3 Võ bị Đà Lạt. Năm 1963 giải ngũ ở cấp Trung tá). Sau đó được Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia cử giữ chức Tư lệnh Liên đoàn Dù (Danh xưng mới của Liên đoàn Không vận số 3 Nhảy dù. Và ông cũng là sĩ quan người Việt đầu tiên "Tư lệnh" Binh chủng Nhảy dù cấp Liên đoàn).

  • Các sĩ quan thuộc Liên đoàn Dù vào thời kỳ này:
  1. Tiểu đoàn 1: Đại Uý Vũ Quang Tài (Sinh năm 1920 tại Móng Cái. Tốt nghiệp Trường Võ bị Cap Saint-Jacques. Sau cùng là Đại tá Lực lượng Đặc biệt)
  2. Tiểu đoàn 3: Đại uý Phan Trọng Chinh (Sau cùng là Trung tướng)
  3. Tiểu đoàn 5: Đại uý Trịnh Xuân Nghiêm (Sinh năm 1929 tại Tuyên Quang. Khoá 3 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Trường Chỉ huy & Tham mưu)
  4. Tiểu đoàn 6: Đại uý Thạch Côn
  5. TĐ Trợ chiến: Đại uý Nguyễn Thọ Lập (Sinh năm 1918 tại Biên Hoà. Khoá 5 Võ bị Đà Lạt. Sau là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15 Bộ binh. Giải ngũ ở cấp Đại tá)

Quân đội Việt Nam Cộng hoà[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Hạ tuần tháng 1, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Năm 1956: Đầu tháng 2, ông được thăng cấp Đại tá. Tháng 9, bàn giao Liên đoàn Dù lại cho Trung tá Nguyễn Chánh Thi (Nguyên Tư lệnh phó Liên đoàn). Giữa tháng 9, nhận chức Tư lệnh Đệ Tam Quân khu (Gồm 4 tỉnh: Kontum, Pleiku, Phú Yên và Bình Định).

Năm 1958: Bàn giao chức Tư lệnh Đệ Tam Quân khu lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn (Nguyên Tư lệnh phó Quân khu). Ngay sau đó ông được cử du học tại Hoa Kỳ qua các khoá:

  1. Khoá Chỉ huy & Tham mưu tại Fort Leavenwort, Tiểu bang Kansas.
  2. Khoá Dân sự vụ tại Fort Gordon, Tiểu bang Georgia.
  3. Khoá Điều Không tại Fort Kisler, Tiểu bang Mississippi.

Năm 1959: Mãn khoá về nước được cử giữ chức Tham mưu trưởng Quân đoàn I. Sau đó nhận chức Tư lệnh phó Quân đoàn I do Trung tướng Trần Văn Đôn làm Tư lệnh.

Năm 1961: Đầu tháng 8, ông được cử đi nhận chức Chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang thay thế Trung tá Đặng Văn Sơn (1916-2009, xuất thân từ Trường Hạ sí quan Pháp, giải ngũ ở cấp Đại tá) đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ.

Năm 1962: Tổ chức lễ mãn khoá cho khoá 2 Nhân vị Sĩ quan Đặc biệt Hiện dịch dưới sự Chủ toạ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trung tuần tháng 12 cùng năm, bàn giao chức Chỉ huy trưởng Trường hạ sĩ quan lại cho Đại tá Nguyễn Văn Kiểm (Sau là Thiếu tướng). Cuối tháng 12, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Văn Thiệu đi làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.

Năm 1963: Thượng tuần tháng 7, ông được vinh thăng Thiếu tướng. Ngày 21/8 kiêm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm xin từ nhiệm vì lý do sức khoẻ. Ông tham gia trong cuộc đảo chính ngày 1/11/1963. Ngày 2/11 ông được vinh thăng Trung tướng. Cuối tháng 11, bàn giao chức Tư lệnh Sư đoàn 1 lại cho Trung tá Nguyễn Văn Hiếu (Nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn), chỉ còn giữ chức Tư lệnh Quân đoàn I. Qua tháng 12, nhận chức Tư lệnh Quân đoàn II, hoán chuyển nhiệm vụ với Trung tướng Nguyễn Khánh về làm Tư lệnh Quân đoàn I.

Năm 1964: Ngày 14/9, bị Trung tướng Nguyễn Khánh Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ giải nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn II vì có liên can đến cuộc Biểu dương Lực lượng vào ngày 13/9 do Trung tướng Dương Văn Đức Tư lệnh Quân đoàn IV cầm đầu. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có được cử thay thế vào chức Tư lệnh Quân đoàn II.

  • Cùng lúc, người anh là Nha sĩ Đỗ Cao Minh và em rể là Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm cũng bị bắt vì cùng tham gia vào cuộc Biểu dương Lực lượng.

Năm 1965: Ngày 5/8 ông bị buộc phải Giải ngũ (Do Quyết định của Uỷ Ban Lãnh đạo Quốc gia)

Tái ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1968: Trong kế hoạch loại trừ thế lực của các Tướng lĩnh ủng hộ Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. Tháng 8, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triệu hồi ông trở lại Quân đội, phục hồi nguyên cấp và bổ nhiệm ông thay Trung tướng Lê Nguyên Khang (Nguyên Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến) giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Năm 1971: Ngày 23/2 ông bị tử nạn phi cơ trực thăng tại Trảng Lớn, Bắc Tây Ninh, trong khi đang bay thị sát chiến trường. Tử nạn cùng với ông là phóng viên chiến trường người Pháp Francois Sully, viết cho báo New York Time khi đang thị sát chiến trường Campuchia và một số Sĩ quan và Hạ sĩ quan trong ban tham mưu của Bộ Tư lệnh Quân đoàn.

  • (Có tin đồn cho rằng ông bị mưu sát do sự tranh dành quyền lực từ các Tướng lĩnh trong Chính quyền Sài Gòn)

Ngay sau khi xảy ra, Tổng thống Thiệu cùng Đệ nhất phu nhân đến dự lễ tẩm liệm. Trong buổi lễ, Tổng thống thay mặt Chính phủ và Quân đội truy thăng cho ông cấp bậc Đại tướng.

Ngày 26/2, Lễ an táng được cử hành trọng thể với lễ nghi quân cách. Tổng thống Thiệu đến dự lễ an táng cùng truy tặng Đệ nhất đẳng Bảo quốc Huân chương và Quân công bội tinh kèm Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Linh cữu được đặt trên một chiếc thiết vận xa M.113 đưa đến nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa.

Ông là vị Tướng đầu tiên cùng an nghỉ với hàng chục ngàn tử sĩ chung một nghĩa trang theo nguyện vọng lúc sinh tiền: Sống sát cánh quân sĩ, Thác nằm cạnh ba quân

Trên mộ ông có khắc 2 câu thơ: Sống giữa ba quân, Thác giữa ba quân

Năm 1983: Nghĩa trang bị phá huỷ, được thân nhân bốc mộ và hoả thiêu, di cốt được đưa vào thờ trong một ngôi chùa tại quê nhà, Biên Hoà.

  • Cùng tử nạn với ông còn có các Sĩ quan trong bộ Tham mưu Quân đoàn:
    1. Trung tá Đặng Quốc Sĩ (Sinh năm 1932 tại Ninh Bình, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt. Chỉ huy trưởng Trung tâm hành quân Quân đoàn III, được truy thăng Đại tá)
    2. Thiếu tá Trần Minh Châu (Sinh năm 1933 tại Mỹ Tho, khoá 10 Võ bị Đà Lạt. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Truyền tin QĐ III, được truy thăng Trung tá)
    3. Đại uý Nguyễn Anh Tuấn (Sinh năm 1935 tại Vĩnh Long, khoá 19 Võ bị Quốc gia. Sĩ quan Tuỳ viên Tư lệnh QĐ III, được truy thăng Thiếu tá)
    4. Đại uý Phan Tất Đắc (Truy thăng Thiếu tá)
    5. Thiếu uý Nguyễn Cân (Sinh năm 1937, sĩ quan Đồng hoá, được truy thăng Trung uý)

Ngoài các sĩ quan kể trên còn 4 Hạ sĩ quan Việt Nam cùng 2 sĩ quan Phi công Mỹ. Tất cả các vị này đều được truy thăng lên một cấp và được tổ chức lễ nghi an táng theo quy chế của Quân đội.

Cái chết của tướng Đỗ Cao Trí để lại một khoảng trống lớn trong các cấp chỉ huy chiến trường trong một thời gian dài.

Tướng Đỗ Cao Trí được đánh giá là tướng lĩnh có tầm nhìn chiến lược sắc bén, có tài cầm quân, có mưu lược, có dũng khí, có khả năng kích thích tinh thần chiến đấu binh sĩ và không có tham vọng chính trị. Tướng William Westmoreland đã nhận định: "Tướng Trí là một con cọp của chiến trường, một tướng George Patton (tướng thiết giáp lừng danh Mỹ) của Việt Nam."[cần dẫn nguồn]

Ghi nhận thành tích và vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Trước những thành tích trên thực địa của bản thân, ông được chính phủ Hoa Kỳ trao tặng Huân chương sao bạc[1].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]