Đỗ Cao Trí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đỗ Cao Trí
Tuong do cao tri.png
Đỗ Cao Trí
Tiểu sử
Sinh20 tháng 11 năm 1929
Biên Hòa, Liên bang Đông Dương
Mất(1971-02-23)23 tháng 2, 1971 (42 tuổi)
Tây Ninh, Việt Nam Cộng hòa
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1947-1971
Cấp bậcUS-O10 insignia.svg Đại tướng
Đơn vịVietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
QD II VNCH.jpg Đệ Tam Quân khu[1]
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1[2]
Flag of Dong De Military School.svg Trường Hạ sĩ quan
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huyFlag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Grand Cross BAR.png B.quốc H.chương I
Công việc khácFlag of South Korea.svg Đại sứ tại Đại Hàn[3]

Đỗ Cao Trí (1929-1971), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Sĩ quan Võ bị do Chính quyền Thuộc địa Pháp mở ra ở Nam phần Việt Nam. Ra trường, ông tình nguyện gia nhập Binh chủng Nhảy dù và đã lên đến chức vụ Tư lệnh đơn vị này. Sau đó, ông được đảm nhiệm các chức vụ Chỉ huy và tham mưu cấp Quân khu và Quân đoàn. Ông là một trong số ít sĩ quan được lên tướng ở thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa (Thiếu tướng 1963). Tuy bị chỉ trích về đời tư phóng túng và việc tham nhũng, ông được đánh giá là vị tướng có năng lực trong hàng ngũ tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Năm 1971, khi đang là Tư lệnh Quân đoàn III, ông bị tử nạn trong một vụ nổ trực thăng không rõ nguyên nhân (có lời đồn rằng ông bị các tướng Việt Nam Cộng hòa khác gài bom ám sát), được truy thăng cấp Đại tướng.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 20 tháng 11 năm 1929 trong một gia đình điền chủ lớn tại làng Bình Trước, Biên Hòa, miền Đông Nam phần Việt Nam. Do gia đình có điều kiện khá giả nên thời niên thiếu ông được học ở các trường danh tiếng dạy theo giáo trình Pháp: trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hòa, trường Trung học Lycée Petrus Ký, Sài Gòn. Năm 1947, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 8 năm 1947, sau khi rời ghế học đường, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, được cho theo học khóa Đỗ Hữu Vị tại trường Sĩ quan Nước Ngọt ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu), khai giảng tháng 8 năm 1947.[4] Tháng 6 năm 1948, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được chọn đi du học khóa Bộ binh tại trường Thực tập Bộ binh Auvours, Pháp. Tháng 10 về nước, ông gia nhập Binh chủng Nhảy dù và đi du học tiếp khóa căn bản Nhảy dù tại Trung tâm Huấn luyện Nhảy dù Pau ở Pháp. Tháng 2 năm 1949 mãn khóa về nước, ông phục vụ trong Đơn vị Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, cùng với sự ra đời của Quân đội Quốc gia, Đại đội Nhảy dù Biệt lập[5] được thành lập ở Bắc Việt. Ông được thăng cấp Trung úy và làm Trung đội trưởng trong Đại đội này do Đại úy Nguyễn Khánh làm Đại đội trưởng. Tháng 5 năm 1951, khi Đại đội Biệt lập Nhảy dù được nâng lên cấp Tiểu đoàn, ông là Đại đội trưởng của một trong 3 Đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 Nhảy dù tân lập, vẫn do Đại úy Nguyễn Khánh làm Tiểu đoàn trưởng. Ngày 1 tháng 7 năm 1952, chính thức chuyển biên chế sang Quân đội Quốc gia, ông được thăng cấp Đại úy và chuyển đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Việt Nam.[6] Đầu năm 1953, ông được cử đi học lớp Chỉ huy Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà nội.[7] Ngày 16 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Đầu năm 1954, Tiểu đoàn 18 Việt Nam di chuyển về Chí Hòa, Sài Gòn để bổ sung và trang bị thêm, sau đó cải biên thành Tiểu đoàn 6 Nhảy dù trực thuộc Liên đoàn Không vận số 3 Nhảy dù và ông trở thành người chỉ huy đầu tiên của Tiểu đoàn. Sau ngày ký Hiệp định Genève (20/7/1954). Cuối tháng 9 cùng năm, ông bàn giao Tiểu đoàn 6 lại cho Đại úy Thạch Con. Sau đó được Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia cử giữ chức vụ Tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù.[8]

Quân lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Cao Trí cùng MacNamara

Ngày 22 tháng 1 năm 1955, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Cuối tháng 10,chuyển biên chế sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa (cải danh từ Quân đội Quốc gia). Ngày 10 tháng 2 năm 1956, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 9 cùng năm, nhận lệnh bàn giao Liên đoàn Dù lại cho Trung tá Nguyễn Chánh Thi (nguyên Phó Tư lệnh Liên đoàn). Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Quân khu (gồm 4 tỉnh: Kontum, Pleiku, Phú Yên và Bình Định). Đầu năm 1958, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Quân khu lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn (nguyên Phó Tư lệnh Quân khu). Sau đó ông được cử đi du học tại Hoa Kỳ qua các khóa:
-Khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth ở Tiểu bang Kansas.
-Khóa Dân sự vụ tại Học viện Fort Gordon ở Tiểu bang Georgia.
-Khóa Điều không tại Học viện Không quân Fort Kisler ở Tiểu bang Mississippi. Tháng 4 năm 1959 mãn khóa về nước, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn I. Sau đó giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn I do Trung tướng Trần Văn Đôn làm Tư lệnh.

Đầu tháng 8 năm 1961, chuyển về Duyên hải Nam Trung phân ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (Đồng Đế, Nha Trang) thay thế Trung tá Đặng Văn Sơn[9] được cử đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Cuối tháng 1 năm 1962, ông tổ chức lễ mãn khóa cho khóa 2 Nhân vị Sĩ quan Đặc biệt Hiện dịch dưới sự Chủ toạ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trung tuần tháng 12 cuối năm, bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan lại cho Đại tá Nguyễn Văn Kiểm. Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Văn Thiệu được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.

Ngày 7 tháng 7 năm 1963, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đến ngày 21 tháng 8 cùng năm, ông được cử kiêm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm xin từ nhiệm vì lý do sức khoẻ. Ông là một trong các tướng Tư lệnh Quân đoàn ủng hộ cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm nổ ra vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ngày 2 tháng 11, ông được đặc cách thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Cuối tháng 11, bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh lại cho Trung tá Nguyễn Văn Hiếu (nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn), chỉ còn giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I. Ngày 12 tháng 12, ông chuyển về Cao nguyên Trung phần làm Tư lệnh Quân đoàn II và vùng 2 Chiến thuật thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh. Ngược lại tướng Khánh chuyển ra miền Trung thay ông làm Tư lệnh Quân đoàn I. Trung tuần tháng 3 năm 1964, chủ tọa buổi lễ mãn khóa 12 Đệ nhị Song ngư Sĩ quan Hải quân ngành chỉ huy (khai giảng ngày 13/8/1962) tại Trung tâm Huấn luyện Hải quan Nha Trang cùng tra kiếm danh dự và gắn cấp hiệu Hải quân Thiếu úy cho Thủ khoa Trần Trọng Ngà.[10]

Ngày 14 tháng 9 năm 1964, ông bị Trung tướng Nguyễn Khánh Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ giải nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II vì có liên can đến cuộc Biểu dương Lực lượng vào ngày 13/9/1964 do Trung tướng Dương Văn Đức Tư lệnh Quân đoàn IV cầm đầu. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có được cử thay thế vào chức Tư lệnh Quân đoàn II. Cùng lúc, người anh là Nha sĩ Đỗ Cao Minh và em rể là Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm cũng bị bắt vì cùng tham gia vào cuộc Biểu dương Lực lượng. Qua thượng tuần tháng 8 năm năm 1965, ông bị buộc phải Giải ngũ (Do Quyết định của Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia). Ngày 15 tháng 5 năm 1967, ông được cử đại diện Việt Nam Cộng hòa đi làm Đại sứ tại Đại Hàn Dân quốc.

Tái ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kế hoạch loại trừ thế lực của các tướng lĩnh ủng hộ Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. Cuối tháng 7 năm 1967 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triệu hồi về nước vf ông trở lại Quân đội, phục hồi nguyên cấp và bổ nhiệm ông thay thế Trung tướng Lê Nguyên Khang (nguyên Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến kiêm nhiệm Tư lệnh Quân đoàn III) giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Tướng Trí cùng các sư đoàn thuộc quyền đã tham gia Chiến dịch Campuchia tháng 5/1970. Tướng Trí làm tư lệnh cuộc hành quân càn quét cục R, căn cứ của quân Giải phóng ở vùng Mỏ Vẹt. Tuy nhiên, chiến dịch đã kết thúc thất bại. Đến tháng 6-1970, sau hai tháng ròng rã, theo báo cáo của phía Sài Gòn, đã có 7.450 lính Sài Gòn và 2.765 lính Mỹ bị thương vong, trong khi vẫn không diệt được đơn vị lớn nào của quân Giải phóng. Đến cuối năm 1970, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã bị đánh bật khỏi các đồn bốt ở Campuchia, phải rút trở lại bên kia biên giới.

Gần một năm sau, Đỗ Cao Trí được giao tổng chỉ huy cuộc hành quân "Toàn Thắng 45" đầu tháng 1/1971. Vừa tiến quân đến phía nam đồn điền Đam-Be thì Tiểu đoàn 38 BĐQ, đơn vị xung kích của tướng Trí bị quân Giải phóng vận động từ xa tới bao vây và tấn công mọi mặt. Đỗ Cao Trí ra lệnh cho Tiểu đoàn 30 BĐQ của Thiếu tá Phan Văn Sảnh và Chiến đoàn thiết xa vận M113 của thiếu tá Nguyễn Văn Ron đến tiếp cứu, nhưng cả hai viên thiếu tá này đã tử trận một ngày sau đó, cả 2 đơn vị tiếp cứu cũng bị thiệt hại nặng nề. Cả một đạo quân lớn bị sa lầy tại Đam-Be. Chưa đưa ra được kế sách để giải cứu thì ngày 23/2/1971, trực thăng chở Đỗ Cao Trí phát nổ, lao xuống đất khiến ông thiệt mạng. Trung tướng Nguyễn Văn Minh lên thay, mất hết một tuần vẫn không tiến quân được, cuối cùng phải ra lệnh rút lui. Trung tướng Nguyễn Văn Minh bị quy trách nhiệm cho thất bại, nhưng thực ra điều này có phần oan uổng cho tướng Minh, bởi chiến dịch được tiến hành theo kế hoạch bởi tướng Trí, và nó đã bắt đầu thất bại từ trận Đam-Be, trước khi tướng Trí tử trận.

Tử nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 2 năm 1971, ông bị tử nạn phi cơ trực thăng tại Trảng Lớn, Bắc Tây Ninh, trong khi đang bay thị sát chiến trường trong cuộc hành quân Toàn thắng 1/71. Chiếc trực thăng UH.1 phát nổ và bốc cháy sau khi cất cánh từ Trung tâm Hành quan của Quân đoàn III tại Tây Ninh được 10 phút, không rõ nguyên nhân chiếc trực thăng phát nổ. Ông tử nạn tại chỗ, hưởng dương 42 tuổi. Tử nạn cùng với ông còn có phóng viên chiến trường người Pháp Francois Sully, viết cho báo New York Time khi đang thị sát chiến trường Campuchia.[11]

Về sau có tin đồn cho rằng tướng Trí bị mưu sát do sự tranh giành quyền lực từ các tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn, bởi chiếc trực thăng phát nổ quá đột ngột không rõ nguyên nhân (nếu bị súng phòng không bắn trúng thì trực thăng sẽ không phát nổ ngay, và phải có tín hiệu thông báo khẩn cấp của phi công). Anh ruột của Ðỗ Cao Trí là nha sĩ Ðỗ Cao Minh, cho biết rằng Ðại tá Chiêm, Phụ trách ban anh ninh phủ Tổng Thống tường thuật với Ðỗ Cao Minh như sau: Sáng hôm đó ký giả tuần báo Newsweek, ông Francois Sully, gặp Tổng thống Thiệu đúng 8 giờ, sau đó gặp Trung tướng Ðỗ Cao Trí lúc 9 giờ để cùng đi thị sát mặt trận Campuchia. Theo thông lệ, Sully phải để hành lý xách tay lại văn phòng bí thư hay tùy viên, lúc về thì lại cầm theo. Không hiểu giữa thời gian đó, có ai gài bom nổ chậm trong cặp không?

Sau khi tai nạn xảy ra, Tổng thống Thiệu cùng phu nhân đến dự lễ tẩm liệm. Trong buổi lễ, Tổng thống thay mặt Chính phủ và Quân đội truy thăng cho ông cấp bậc Đại tướng. Ngày 26 tháng 2, lễ an táng được cử hành với lễ nghi quân nhân. Tổng thống Thiệu đến dự lễ an táng cùng truy tặng đệ nhất đẳng Bảo quốc Huân chương và Quân công bội tinh kèm Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Thi hài được đặt trên một chiếc Thiết vận xa M.113 đưa đến Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa. Ông là vị tướng đầu tiên cùng an táng với hàng chục ngàn tử sĩ chung một nghĩa trang theo nguyện vọng của ông. Trên mộ ông có khắc 2 câu thơ: "Sống giữa ba quân, Thác giữa ba quân"

Khóa 24 sĩ quan Võ bị Quốc gia Đà Lạt (khai giảng 7/12/1967, mãn khóa 17/12/1971) được mang tên Khóa Đỗ cao Trí.

Ngoài các sĩ quan (trong phần chú thích) còn 2 Trung sĩ người Việt cùng 2 Sĩ quan Phi công và 2 Trung sĩ xạ thủ Mỹ cùng chết trong vụ rơi trực thăng. Tất cả những người này đều được truy thăng lên một cấp và được tổ chức lễ nghi an táng theo quy chế của Quân đội.

Năm 1983, Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa bị di dời, hài cốt của ông được thân nhân bốc đem hỏa thiêu, di cốt được đưa vào thờ trong một ngôi chùa tại quê nhà ở Biên Hòa.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ đầu của ông là bà Võ Thị Phương Lan, có với nhau hai người con, một trai và một gái. Nhưng không bao lâu, ông Trí đã ly dị vợ để chung sống với bà Gilberte Nguyễn, chủ hãng Cosunam Film, sinh thêm được 3 con gái. Nhưng rồi bà đòi chia tay bởi không chịu nổi tính trăng hoa của ông. Cuối cùng, Đỗ Cao Trí ngoại tình với bà Nguyễn Kim Chi, nguyên là vợ của dược sĩ Vũ Huy Tân ở Nha Trang, bà này bỏ chồng để lấy ông Trí và có thêm một con gái. Ngoài 3 người vợ chính thức đó, ông Trí có rất nhiều tình nhân khác.

Năm 1964, các tướng trao cho Trần Văn Đôn một danh sách dài gồm tên họ các bà các cô và bảo: "Có phải đây là tên họ các nhân tình của anh? Chúng tôi nhận thấy anh thiếu tác phong. Chúng tôi nghỉ 15 phút để anh coi cho kỹ rồi trả lời". Ông Đôn đọc qua, trả lời rằng “một số tên” đúng là nhân tình của ông ta, “một số tên chưa hề quen biết”, có thể là nhân tình của ai đó đang ngồi đây? Cả phòng họp cười ồ. Tướng Đỗ Cao Trí nói: "Nếu ngày nào tôi ngồi vào ghế của trung tướng Đôn thì không phải là một tờ giấy như vậy mà là chở một xe GMC!" Ý ông Trí bảo nếu có điều kiện như ông Đôn, danh sách tình nhân của ông ta sẽ nhiều tới nỗi phải dùng xe quân sự mới tải hết.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Trí có đời sống cá nhân bị nhiều tai tiếng. Ông có lối sống xa hoa, ngang tàng và rất giàu có. Năm 1970, hai Thượng Nghị Sĩ Việt Nam Cộng hòa đã gọi ông là "tham nhũng trắng trợn" khi tố cáo ông có chân trong một đường giây buôn lậu tiền tệ ở Hồng Kông. Người ta còn nói về việc ông Trí dùng trực thăng quân đội để chở những tượng Phật, tượng thần bằng vàng và những đồ quý hiếm lấy tại các chùa chiền, đền đài của Campuchia, đem về Việt Nam làm của riêng.

Báo chí Việt Nam Cộng hòa thường ca ngợi ông như một "thiên tài quân sự", ví ông ngang tầm với danh tướng Patton của quân đội Mỹ trong Thế chiến II. Những lời ca tụng này được xem là quá khoa trương, bởi hầu hết cuộc đời cầm quân, Đỗ Cao Trí chỉ tham gia các trận đánh nhỏ. Chỉ có 2 lần ông tham gia chỉ huy chiến dịch lớn, và cả 2 chiến dịch đều thất bại. Lần đầu tiên là Chiến dịch Campuchia năm 1970, đơn vị do ông chỉ huy đã thất bại trong việc bao vây truy tìm Sở chỉ huy của quân Giải phóng miền Nam. Gần một năm sau, tướng Trí được giao chỉ huy cuộc hành quân "Toàn Thắng 45" vào đầu tháng 1/1971, thì ông lại tử nạn vào ngày 23/2/1971, chiến dịch Toàn Thắng 45 được tiến hành theo kế hoạch của tướng Trí cũng thất bại sau đó chỉ 1 tuần.

Mặc dù vậy, tướng Trí vẫn được đánh giá là có năng lực so với các tướng Việt Nam Cộng hòa khác (vốn có rất nhiều người bị xem là vô dụng). Cái chết của tướng Đỗ Cao Trí để lại một khoảng trống lớn trong các cấp chỉ huy chiến trường.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huy chương Việt Nam:
    - Bảo quốc Huân chương đệ nhất đẳng (truy tặng)
    - Quân công Bội tinh (truy tặng).
    - Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu (truy tặng).
    -Bốn mươi lăm huy chương quân sự, dân sự khác (tặng thưởng).
  • Huy chương Ngoại quốc:
    -Văn huy Bội tinh đệ nhị đẳng (Trung Hoa Quốc gia)
    -Huy chương Légion d'honneur (Pháp)
    -Huy chương Croix de Guerre T.O.E.3 Palmers et 5 Etoiles Vermeil (Pháp)
    -Bảo quốc Huân chương "ULI" (Đại Hàn Dân quốc)
    -Huân chương Bạch tượng đệ nhị đẳng (Thái Lan).
    -Huân chương ngôi sao bạc (Hoa Kỳ).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gia tộc Đỗ Cao của tướng Đỗ Cao Trí, nguyên gốc ở Triều Châu, Trung Hoa. Về sau, cụ Tổ 4 đời di cư sang Việt Nam định cư ở Cù lao Mỹ Quới, bên dòng sông Đồng Nai thuộc Tân Uyên, Biên Hòa.
  • Thân phụ: Cụ Đỗ Cao Lụa
  • Thân mẫu: Cụ Tô Thị Định (Hai cụ sinh được 12 người con gồm 10 trai, 2 gái).
  • Phu nhân: Bà Võ Thị Lan Phương (Hiện đang sống cùng con cháu tại Canada. Bà Là con gái của Cụ Võ Văn Vân, nguyên quán Thủ Dầu Một).
Ông bà có hai người con: 1 trai, 1 gái:
-Quý nữ: Đỗ Thị Phương Loan (Định cư ở Pháp).
-Quý nam: Đỗ Cao Dũng (Định cư ở Canada).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đệ Tam Quân khu, nguyên là phần lãnh thổ phía Bắc được tách ra của Đệ Tứ Quân khu, gồm các tỉnh Bắc Cao nguyên và Bắc Duyên hải Trung phần thành lập ngày 26/10/1956 (phần lãnh thổ phía Nam còn lại gồm các tỉnh Nam Cao nguyên và Nam Duyên hải Trung phần là Đệ Tứ Quân khu mới). Ngày 1 tháng 10 năm 1957, hai Quân khu Đệ tam và Đệ Tứ hợp lại trở thành Quân đoàn II và Vùng 2 Chiến thuật. Tướng Đỗ Cao Trí đã hai lần phục vụ ở Quân đoàn II:
    -Lần thứ nhất: Đại tá Tư lệnh, khi còn là Đệ Tam Quân khu (1956-1958).
    -Lần thứ hai: Trung tướng Tư lệnh (1963-1964).
  2. ^ Tướng Đỗ Cao trí đã hai lần phục vụ ở Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật:
    .-Lần thứ nhất: Đại tá Tham mưu trưởng, rồi Tư lệnh phó (1959-1961).
    -Lần thứ hai: Trung tướng Tư lệnh (1963).
  3. ^ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thủ đô Seoul, Đại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn hoặc Nam Triều Tiên)
  4. ^ Khóa Đỗ Hữu Vị trường Sĩ quan Nước Ngọt, còn gọi là khóa 2 Võ bị Liên quân Viễn Đông, vì trường Võ bị Liên quân Viễn Đông đào tạo sĩ quan khóa 1 Nguyễn Văn Thinh ở Đà Lạt. Sau đó để cơ sở lại cho trường Võ bị Quốc gia Việt Nam (từ Huế chuyển về Đà Lạt) và di chuyển xuống Vũng Tàu đặt cơ sở của trường tại khu Nước Ngọt, lấy tên là trường Sĩ quan Nước Ngọt, tiếp tục đào tạo sĩ quan khóa 2 Đỗ Hữu Vị.
  5. ^ Ngày 8 tháng 5 năm 1951 Đại đội Nhảy dù Biệt lập được trang bị và bổ sung hoàn chỉnh cho một đơn vị cấp Tiểu đoàn và trở thành Tiểu đoàn 1 Nhảy dù.
  6. ^ Tiểu đoàn 18 Việt Nam thành lập ngày 1 tháng 1 tháng 1951 tại Bạc Liêu, đến đầu năm 1954 làm nòng cốt để thành lập Tiểu đoàn 6 Nhảy dù.
  7. ^ Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật được thành lập tháng 6 năm 1952 tại Hà Nội. Sau Hiệp định Genève 1954 di chuyển vào Nam đặt cơ sở ở Tân Bình, Gia Định đổi tên thành trường Đại học Quân sự. Năm 1960, di chuyển lên Đà Lạt đổi là trường Chỉ huy và Tham mưu. Cuối năm 1971, di chuyển lần cuối về đặt cơ sở tại Long Bình, Biên Hòa.
  8. ^ Ngày 29 tháng 9 năm 1954, Quân đội Pháp bàn giao Liên đoàn Không vận số 3 Nhảy dù lại cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngay sau đó đơn vị này được cải danh thành Liên đoàn Nhảy dù và Thiếu tá Đỗ Cao Trí là sĩ quan người Việt đầu tiên chỉ huy Binh chủng Nhảy dù cấp Liên đoàn.
    -Thời điểm này, các sĩ quan chỉ huy Tiểu đoàn trực thuộc Liên đoàn:
    -Tiểu đoàn 1: Đại úy Vũ Quang Tài (Sinh năm 1920 tại Móng Cái, tốt nghiệp Trường Võ bị Địa phương Nam Việt (Vũng Tàu). Sau cùng là Đại tá Cục trưởng Cục Xã hội thuộc Tổng cục Tiếp vận).
    -Tiểu đoàn 3: Đại úy Phan Trọng Chinh.
    -Tiểu đoàn 5: Đại úy Trịnh Xuân Nghiêm (Sinh năm 1929 tại Tuyên Quang, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng trường Chỉ huy và Tham mưu).
    -Tiểu đoàn 6: Đại úy Thạch Con (Sinh năm 1925 tại Sóc Trăng, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Trung tá. Giải ngũ năm 1965).
    -Tiểu đoàn Trợ chiến: Đại úy Nguyễn Thọ Lập (Sinh năm 1918 tại Biên Hòa, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15 thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh. Giải ngũ năm 1973).
  9. ^ Trung tá Đặng Văn Sơn (Sinh năm 1916 tại Huế. Tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan Pháp. Sau cùng là Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Giải ngũ năm 1964).
  10. ^ Thiếu úy Trần Trọng Ngà sinh năm 1944 tại Thủ Đức, Gia Định. Sau cùng mang cấp bậc Hải quân Thiếu tá, chức vụ Hạm phó.
  11. ^ Cùng tử nạn với tướng Đỗ Cao Trí còn có các sĩ quan tham mưu trong Bộ chỉ huy Tiền phương của Quân đoàn III:
    -Trung tá Đặng Quốc Sĩ (Sinh năm 1932 tại Ninh Bình, tốt nghiệp khóa 9 Võ bị Đà Lạt. Nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Hành quân Quân đoàn III, được truy thăng Đại tá)
    -Thiếu tá Trần Minh Châu (Sinh năm 1933 tại Mỹ Tho, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt. Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Truyền tin Quân đoàn III, được truy thăng Trung tá)
    -Đại úy Nguyễn Anh Tuấn (Sinh năm 1935 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp khoa 19 Võ bị Đà Lạt. Nguyên là Sĩ quan Tuỳ viên của tướng Trí, được truy thăng Thiếu tá)
    -Đại úy Phan Tất Đắc (Truy thăng Thiếu tá)
    -Thiếu úy Nguyễn Cân (Truy thăng Trung úy)
    -Ngoài ra còn có: Hai Hạ sĩ quan và 1 phóng viên chiến trường người Việt, hai Sĩ quan Phi công, hai Hạ sĩ quan xạ thủ Mỹ. Tổng cộng là 13 người.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân và Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]