Trần Thanh Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TRẦN THANH PHONG
Tiểu sử
Sinh

19 tháng 1, 1926(1926-01-19)

Trà Vinh, Việt Nam
Mất

1 tháng 12, 1972 (46 tuổi)

Tuy Hòa, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1949-1972
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu[1]
QD IV VNCH.jpg Quân khu 5[2]
QD I VNCH.jpg Quân đoàn 1 và QK 1
ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 23 Bộ binh
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
ARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
RVN National Police Flag.svg Cảnh sát Quốc gia
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ II[3]
Công việc khác Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg Trưởng P. Quân huấn
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Tổng Thanh tra Q.Lực
RVN National Police Flag.svg Tư lệnh CSQG
-Tổng trưởng XDNT[4]
-Phụ tá Thủ tướng VNCH

Trần Thanh Phong (1926–1972), nguyên là Thiếu tướng Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Tử nạn được truy thăng Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia được mở ra ở miền Trung Việt Nam. Trong thời gian phục vụ trong Quân đội, ông được giao cho nhiều trọng trách ở những lĩnh vực khác nhau và ông đã làm tròn trách vụ của mình. Ông đã từng Tư lệnh các đơn vị Bộ binh thiện chiến của Quân lực, đứng đầu ngành An ninh Nội chính (Cảnh sát Quốc gia). Chức vụ cuối cùng: Chánh văn phòng thường trực Trung ương Đặc trách Chương trình Thị tứ của Thủ tướng Chính phủ. Cuối năm 1972 ông bị tử nạn máy bay Quân sự khi đang trên đường làm nhiệm vụ thanh sát các tỉnh thuộc Quân khu 2.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 19 tháng 1 năm 1926 tại Trà Vinh, miền tây Nam phần Việt Nam trong một gia đình điền chủ khá giả. Thời niên thiếu, ông được gia đình cho đi học ở Cần Thơ. Năm 1946, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1949, thi hành lệnh động viên của Quốc gia Việt Nam mới thành lập, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/103.156. Theo học khóa 2 Quang Trung tại trường Võ bị Quốc gia Huế,[5] khai giảng ngày 25 tháng 9 năm 1949. Ngày 24 tháng 6 năm 1950 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[6] Ra trường, ông được thuyên chuyển đến Liên đội 3 thuộc Trung đoàn 3 Vệ binh Nam Việt giữ chức vụ Trung đội trưởng.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1951, ông được cử làm Giám đốc Trung tâm Huấn luyện Trung đoàn 3. Đầu tháng 10 năm 1952, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Tháng 7 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy chuyển đến phục vụ trong Bộ Tham mưu Đệ nhất Quân khu. Một nam sau, ông được cử đi du học khóa Tham mưu tại Pháp.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1955, mãn khóa học về nước, ông được chuyển đến Phân khu Mỹ Tho giữ chức vụ Tham mưu trưởng. Tháng 8 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tá. Đầu năm 1956, ông được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Địa phương 154 kiêm quyền Phân khu trưởng Phân khu Mỹ Tho. Tháng 6 cùng năm, ông được cử làm Phó Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu.

Tháng 2 năm 1957, ông chuyển đến Bộ Tư lệnh Quân khu 5 giữ chức vụ Tham mưu trưởng. Tháng 2 năm 1958, ông được đặt thuộc quyền sử dụng của Bộ Tư lệnh Quân đoàn I. Hai tháng sau, ông được điều đi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 Bộ binh. Tháng 8 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm, cùng ngày chuyển đến Sư đoàn Khinh chiến số 16.

Tháng 5 năm 1959, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh thay thế Trung tá Bùi Dinh. Đến tháng 8 năm 1961, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp ở Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng. Tháng 6 năm 1962, ông được chuyển đến Bộ Tư lệnh Quân đoàn I giữ chức vụ Tham mưu trưởng.

Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11 năm 1963). Ngày 3 tháng 11, ông được đặc cách thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh. Tháng 2 năm 1964, ông được chuyển về Bộ Quốc phòng giữ chức vụ Trưởng phòng Quân huấn tại Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội. Tháng 10 cùng năm chuyển đến Quân khu 3, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Sau đó, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Tháng 7 năm 1965, nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 5 Bộ binh lại cho Đại tá Phạm Quốc Thuần, sau đó ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Trưởng phòng 3 kiêm Giám đốc Trung tâm Hành quân. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1966, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Tháng 11 năm 1968, ông được cử làm Tham mưu trưởng Liên quân tại Bộ Tổng Tham mưu. Đến tháng 8 năm 1969, chuyển sang giữ chức Tổng Thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau đó tham chính trong Nội các Chính phủ với chức vụ Tổng trưởng Xây dựng Nông thôn.

Tháng 11 năm 1971, ông được biệt phái sang Bộ Nội vụ giữ chức vụ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia. Đến tháng 9 cùng năm trở lại Quân đội. Tháng 5 năm 1972, ông được đặt trực thuộc Bộ Quốc phòng đặc trách Bình định & Phát triển Nông thôn. Tháng 10 cùng năm, chuyển sang làm Chánh Văn phòng Thường trực Trung ương Đặc trách Chương trình Thị tứ của Thủ tướng chính phủ.

Tử nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 12 năm, ông bị tử nạn máy bay Caribou C.47 sau khi đi thanh sát các tỉnh thuộc Quân khu 2, địa điểm cuối cùng trong ngày là Ban Mê Thuột (Tỉnh lỵ tỉnh Darlac)[7] đoàn thanh sát khi đang trên đường bay về Tuy Hòa, máy bay bị ngộ nạn 2 km về phía bắc Thị xã Tuy Hòa do thời tiết xấu vì mưa bão.[8]

Thi hài ông được đưa về quàn tại Toà Đô Chánh Gài Gòn. Ngày 5 tháng 12 năm 1972 Tổng thống và Phái đoàn Quân chính cao cấp hiện diện tại Tòa Đô chính cử hành lễ truy điệu, ông được Tổng thống Thiệu truy thăng cấp bậc Trung tướng và truy tặng Đệ nhị đẳng Bảo quốc Huân chương.

Tang lễ của ông được tổ chức theo lễ nghi quân cách. Quan tài được đặt trên Thiết quân vận M.113 danh dự, di chuyển đến an táng tại Nghĩa trang Đô thành Mạc Đỉnh Chi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Trần Văn Hanh.
  • Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Ngà
  • Phu nhân: Bà Ngô Thị Cúc (Vào tháng 7 năm 1978, bà lo xong cho 2 cô con gái vượt biên sang Hoa Kỳ. Qua năm 1979, bà tiếp tục tiến hành vượt biên bằng tàu, nhưng sau đó gia đình không còn nghe tin tức gì về bà nữa).
  • Bào đệ:
-Trần Thanh Phú (Sinh năm 1928, Đại tá Thiết giáp VNCH, Võ bị Huế K1)
-Trần Thanh Quang (Sinh năm 1936, Trung tá Quân huấn VNCH, Võ khoa Thủ Đức)
-Trần Thanh Xuân (Thông dịch viên thuộc Cơ quan CORDS tại Phú Yên)
-Trần Thanh Phúc (Đại úy VNCH, Võ bị Đà Lạt K 21)

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

- Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bốn lần phục vụ tại Bộ Tổng Tham mưu. Lần thứ nhất giữ chức vụ Thiếu tá Phó Phòng 2 (1956), lần thứ hai chức vụ Chuẩn tướng Trưởng phòng 3 (1965), lần thứ ba chức vụ Thiếu tướng Tham mưu trưởng Liên quân (1967), lần thứ tư chức vụ Thiếu tướng Tổng Thanh tra Quân lực VNCH (1969)
  2. ^ Tiền thân của Quân đoàn IV và Quân khu 4 sau này, cũng đặt binh sở tại Cần Thơ
  3. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng.
  4. ^ Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nông thôn
  5. ^ Trường Võ bị Quốc gia được thành lập nhằm mục đích đào tạo sĩ quan người Việt, trước tiên phục vụ cho Quân đội Liên hiệp Pháp, sau nữa phục vụ cho Quân đội Quốc gia. Ban đầu trường Võ bị đặt cơ sở tại khu Đập Đá, hữu ngạn sông Hương, Thành phố Huế. Từ năm 1948-1950 đào tạo được 2 khóa sĩ quan hiện dịch (tốt nghiệp được mang cấp bậc Thiếu úy), gồm khóa 1 Phan Bội Châu và khóa 2 Quang Trung. Tháng 7 năm 1950, sau khi tổ chức lễ tốt nghiệp cho khóa 2 Quang Trung, trường di chuyển về Đà Lạt đặt tại địa điểm trước đó là cơ sở của trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội Thuộc địa Pháp và đổi tên thành trường Võ bị Liên quân Đà lạt, đào tạo tiếp khóa sĩ quan đầu tiên tại đây lấy tên là khóa 3 Trần Hưng Đạo.
    Vị trí của trường ở Huế tiếp tục là cơ sở đào tạo sĩ quan người Việt nhưng đổi tên thành trường Võ bị Địa phương Trung Việt (thường gọi là trường Sĩ quan Đập Đá-Huế). Từ năm 1950-1952, đào tạo thêm được 3 khóa nữa. Tuy nhiên, sĩ quan tốt nghiệp chỉ được mang cấp bậc Chuẩn úy. Trong 3 khóa này về sau cũng có được 3 vị tướng:
    -Thiếu tướng Võ Văn Cảnh - Khóa 3 (1951-1952)
    -Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp - Khóa 1 (1950-1951)
    -Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ - Khóa 2 (1951)
  6. ^ Tốt nghiệp khóa 2 Quang Trung, sau này lên tướng còn có:
    -Cấp Trung tướng:
    -Ngô Dzu (SN 1926, sau cùng: Trưởng đoàn Quân sự của VNCH trong ban Liên hợp 4 bên)
    -Nguyễn Văn Mạnh (SN 1921, sau cùng Tổng Tham mưu phó Bộ Tổng Tham mưu)
    -Cấp Thiếu tướng:
    -Huỳnh Văn Cao (SN 1927, sau cùng: Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật)
    -Hoàng Văn Lạc (SN 1927, sau cùng: Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân đoàn I và Quân khu 1)
    -Nguyễn Thanh Sằng (SN 1926, sau cùng: Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn IV và Quân khu 4)
    -Hồ Văn Tố (SN 1915, Sau cùng: Chỉ huy trưởng Liên trường Võ khoa Thủ Đức)
    -Lê Ngọc Triển (SN 1927, sau cùng: Tham mưu phó Bộ Tổng Tham mưu)
    -Cấp Chuẩn tướng:
    -Nguyễn Thanh Hoàng (SN 1924, sau cùng: Chánh Thanh tra Quân đoàn II và Quân khu 2)
    -Lê Trung Tường (SN 1927, sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, Tham mưu trưởng Quân đoàn III và Quân khu 3)
  7. ^ Trước khi rời Ban Mê Thuột để bay về Phú Yên, đoàn thanh sát do tướng Trần Thanh Phong làm Trưởng đoàn, đã được Trung tá Nguyễn Văn Tố gọi điện thoại báo tình hình thời tiết ở vùng trời Tuy Hòa (Tỉnh lỵ tỉnh Phú Yên) rất xấu, đồng thời đề nghị phi cơ chở phái đoàn nên đáp xuống Phi trường Đông Tác trong căn cứ Không quân Hoa Kỳ, nằm trên bờ biển cách Thị xã Tuy Hòa 5km về hướng nam. Tuy nhiên, khi về đến không phận Tuy Hòa, phi công chiếc Caribou C-7A lại muốn đáp xuống phi trường Chóp Chài nằm song song với Quốc lộ 1 với đường băng lót bằng vỉ sắt, cách Tuy Hòa 2 km về hướng Bắc. Nhưng máy bay đã gặp nạn trước khi kịp đáp xuống đường băng.
  8. ^ Cùng tử nạn trên chiếc phi cơ Caribou còn có:
    -Thiếu tá Lê Văn Ba (SN 1929, tốt nghiệp Võ bị Đà lạt, được truy thăng Trung tá)
    -Đại úy Nguyễn Thu Giang (SN 1934, Võ khoa Thủ Đức K4p, được truy thăng Thiếu tá)
    Ngoài ra còn 3 viên cố vấn Mỹ và 2 Trung úy phi công.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. (Trang 189-192)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Những người trai khói lửa, Nhà xuất bản Thanh Hóa, ấn phẩm năm 2000