Lê Trung Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LÊ TRUNG TƯỜNG
Tiểu sử
Sinh 1 tháng 1 năm 1927
Thừa Thiên, Việt Nam
Mất 22 tháng 5, 2009 (82 tuổi)
Thành phố HCM, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1947-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 23 Bộ binh
Cờ Thẳng tiến.png Sư đoàn 25 Bộ binh
Vietnamese Rangers SSI.svg Biệt động quân
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Thuộc địa Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Tỉnh trưởng

Lê Trung Tường, nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia do Quân đội Pháp và Chính phủ Quốc gia mở ra ở miền Trung với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt để phục vụ trong hàng ngũ Quân đội Liên hiệp Pháp. Ông đã tuần tự giữ từ chức vụ chỉ huy cấp Trung đội cho đến chỉ huy cấp Sư đoàn Bộ binh.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 1 tháng 1 năm 1927 trong một gia đình Nho học tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu ông học Tiểu và Trung học tại Huế. Năm 1945, ông tốt nghiệp chương trình Trung học Pháp tại Huế với văn bằng Thành chung. Sau đó ông được bổ dụng làm giáo chức ở Huế.

Quân đội Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1947, ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp, mang số quân: 47/201.886. Theo học khóa Hạ sĩ quan tại trường Hạ sĩ quan An Cựu, Huế. Giữa năm 1948, ra trường phục vụ tại Việt binh đoàn ở Huế. Trung tuần tháng 9 năm 1949, ông trúng tuyển nhập học khóa 2 Quang Trung tại trường Võ bị Quốc gia ở Huế, khai giảng ngày 25 tháng 9 năm 1949. Ngày 24 tháng 6 năm 1950 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn về đơn vị Bộ binh giữ chức vụ Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn Việt Nam thuộc Quân đội Quốc gia thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng tuần tháng 4 năm 1952, Quân đội Quốc gia Việt Nam chính thức thành lập Bộ Tổng tham mưu, ông được thăng cấp Trung úy và được giữ chức vụ Đại đội trưởng. Cuối năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm, sau đó ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn phó.

Cuối tháng 7 năm 1954, sau hiệp định Genève (20 tháng 7), ông cùng đơn vị di chuyển vào Nam, sau đó ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1955, sau khi Quân đội Quốc gia được đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử giữ chức vụ Trung đoàn trưởng trong Sư đoàn 1 Dã chiến. Đến đầu năm 1957, ông chuyển lên Bộ tư lệnh Sư đoàn giữ chức vụ Trưởng phòng 3 kiêm Chỉ huy trưởng Trung tâm Hành quân.

Cuối năm 1958, Sư đoàn 1 Dã chiến đổi tên thành Sư đoàn 1 Bộ binh, một lần nữa ông được cử giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1.

Đầu năm 1961, ông được chuyển nhiệm vụ về Vùng 2 chiến thuật giữ chức vụ Trưởng phòng 3 kiêm Tham mưu phó Quân đoàn II. Qua giữa năm 1962, ông chuyển về Trung ương và được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Binh chủng Biệt động quân.

Đầu tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11), ông chuyển trở lại đơn vị Bộ binh giữ chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 25 Bộ binh.

Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 với các tướng lãnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng để giành quyền lãnh đạo của tướng Nguyễn Khánh, ông được thăng cấp Trung tá, chuyển sang lĩnh vực Hành chính Quân sự, ông được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Ngãi thuộc Quân khu 1.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1965, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm, chuyển về Quân khu 2 giữ chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Định.

Giữa năm 1966, rời lĩnh vực Hành chính trở lại Quân đội, ông được cử làm Tham mưu trưởng Quân đoàn II và Vùng 2 Chiến thuật. Cuối năm 1969, ông được cử đi học tại trường Cao đẳng Quốc phòng đến giữa năm 1970 mãn khóa. Đầu năm 1971, ông được chỉ định chức vụ Phụ tá Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân khu 2.

Hạ tuần tháng 11 năm 1973, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh kiêm Tư lệnh Mặt trận Kontum, hoán chuyển nhiệm vụ với Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm.[1] Ngày 1 tháng 4 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều ngày 14 tháng 3, ông bị thương tại cầu 31, thuộc quận Phước An, tỉnh Darlac trong khi đang chỉ huy và điều động các Trung đoàn trực thuộc hành quân tái chiếm Thị xã Ban Mê Thuột. Ông được di tản ra khỏi mặt trận. Ngay sau đó, Đại tá Lê Hữu Đức[2] Trung tâm trưởng An ninh Quân khu 2 được cử Xử lý Thường vụ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Đầu tháng 4 năm 1975, sau khi xuất viện ông được cử vào chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn III và Quân khu 3.

Sau ngày 30 tháng 4, ông ra trình diện Chính quyền Quân quản của Chế độ mới, ông bị đi tù lưu đày từ Nam ra Bắc cho đến ngày 11 tháng 2 năm 1988 mới được trả tự do.

Ông không xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh mà ở lại với Quê hương.

Ngày 22 tháng 5 năm 2009 ông từ trần tại Thành phố HCM. Hưởng thọ 82 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Hoàng Thị Quảng - Ông bà có 9 người con gồm 6 trai, 3 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tướng Trần Văn Cẩm về Quân đoàn II thay thế Đại tá Lê Trung Tường làm Tư lệnh phó lãnh thổ Quân khu 2.
  2. ^ Đại tá Lê Hữu Đức (sinh năm 1925 tại Bạc Liêu, nguyên là sĩ quan Giáo phái Hòa Hảo được Đồng hóa sang Phục vụ Quân đội Quốc gia Việt Nam và sau nữa là Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.