Bước tới nội dung

Đắk Lắk

12°45′59″B 108°19′31″Đ / 12,766268°B 108,325195°Đ / 12.766268; 108.325195
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đắk Lắk
Tỉnh
Biểu trưng

Biệt danhThủ phủ cà phê
Xứ Nẫu
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngDuyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Trung tâm hành chínhphường Buôn Ma Thuột
Trụ sở UBNDSố 9 đường Lê Duẩn, phường Buôn Ma Thuột
Phân chia hành chính14 phường, 88 xã
Thành lập22/11/1904
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDTạ Anh Tuấn
Hội đồng nhân dân111 đại biểu
Chủ tịch HĐNDCao Thị Hòa An
Chủ tịch UBMTTQY Giang Gry Niê Knơng
Chánh án TANDNguyễn Văn Chung
Viện trưởng VKSNDPhạm Trung Thuận
Bí thư Tỉnh ủyLương Nguyễn Minh Triết
Địa lý
Tọa độ: 12°45′59″B 108°19′31″Đ / 12,766268°B 108,325195°Đ / 12.766268; 108.325195
Bản đồBản đồ tỉnh Đắk Lắk
Vị trí tỉnh Đắk Lắk trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Đắk Lắk trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Đắk Lắk trên bản đồ Việt Nam
Diện tích18.096,40 km²[1]
Dân số (31/12/2024)
Tổng cộng3.346.853 người[1]
Mật độ184 người/km²
Dân tộcKinh, Ê Đê, M'Nông, Nùng, Tày, Thái, Dao
Kinh tế (2024)
GRDP141.362 tỉ đồng (5,56 tỉ USD)
GRDP đầu người71,6 triệu đồng (2.821 USD)
Khác
Mã địa lýVN-33
Mã hành chính66[2]
Mã bưu chính63xxxx
Mã điện thoại0262
Biển số xe47, 78
Websitedaklak.gov.vn

Đắk Lắk (trước đây ghi là Darlac) là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và là tỉnh có diện tích lớn thứ ba Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Buôn Ma Thuột. Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (có hiệu lực từ ngày ban hành). Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được sắp xếp lại để thành lập một đơn vị hành chính mới, giữ nguyên tên gọi là tỉnh Đắk Lắk.

Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Đắk Lắk có diện tích: 18.096 km², xếp thứ 3; dân số: 3.346.853 người, xếp thứ 17; GRDP 2024: 198.132.950 triệu VNĐ, xếp thứ 21; thu ngân sách 2024: 14.095.836 triệu VNĐ, xếp thứ 25; thu nhập bình quân: 46,82 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 27.[3]

Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các nhà nghiên cứu, Đắk Lắk [daːk laːk] bắt nguồn từ tiếng M'Nông (phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với dak nghĩa là "nước" hoặc "hồ". Từ dak này, cũng giống như các từ có âm "đạ" (Đạ Tẻh), "đà" (Đà Lạt, Đà Nẵng). Đa/đạ/đà là âm của một từ có nghĩa là "nước, nguồn nước, sông" của vùng người dân tộc sinh sống.[4]

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở vùng Nam Trung Bộ, đầu nguồn của hệ thống sông Srêpốk và một phần của sông Ba. Tỉnh Đắk Lắk có vị trí địa lý:

Độ cao trung bình 400 – 800 m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk Lắk.

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia tách và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nằm trong diện tranh chấp để phân định địa giới hành chính giữa 2 tỉnh.[6]

Điều kiện tự nhiên

[sửa | sửa mã nguồn]
Suối trong rừng Ea So
Thác Dray K'nao ở M'Drak

Đắk Lắk mới có địa hình đa dạng được phân chia bởi dãy Trường Sơn như sau:

  • Phần phía Tây và trung tâm tỉnh (thuộc khu vực tỉnh Đắk Lắk cũ và phía Tây tỉnh Phú Yên cũ trước đây) có địa hình có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là 1 cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính. Khí hậu của khu vực được chia thành 2 tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam của khu vực có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa trong năm. Riêng vùng núi trung tâm tỉnh do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng.[7] Lượng mưa trung bình nhiều năm tại khu vực phía Tây đạt từ 1600–1800 mm.
  • Phần phía Đông dãy Trường Sơn (thuộc khu vực tỉnh Phú Yên cũ) có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn đông của dãy Trường Sơn, và phía Đông là biển Đông. Chính giữa các dãy núi kể trên là khu vực đồng bằng Tuy Hòa - nơi có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua - được xem là vựa lúa của miền Trung. Khí hậu của phần phía Đông tỉnh chủ yếunhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,5 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm.

Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất cả nước[5] với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học, phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn. Khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng, phosphor, than bùn, đá quý... có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.[8] Ngoài ra khu vực phía Đông (thuộc Phú Yên cũ) có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite (90 triệu m3), đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn)

Đối với khu vực phía Tây, hệ thống sông suối khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô. Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea So...[8]. Đối với khu vực phía Đông, có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua với tổng diện tích lưu vực là 16.400 km², tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3, đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt.

Nạn phá rừng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn có hơn 720.000 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng hơn 526.000 ha, độ che phủ rừng đạt hơn 39,3% (tính cả cây cao su). Rừng được giao cho 15 công ty lâm nghiệp, 7 ban quản lý rừng đặc dụng, 4 ban quản lý rừng phòng hộ, 69 doanh nghiệp có chức năng quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, khoanh nuôi bảo vệ rừng và 1 phần giao cho UBND cấp huyện, cấp xã quản lý, Thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, trong năm 2020, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 1.407 vụ vi phạm, tịch thu 2.441,7 m³ gỗ và 717 phương tiện các loại, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 18,8 tỷ đồng. So với năm 2019, số vụ vi phạm giảm 217 vụ. Tuy số vụ giảm, nhưng những vụ phá rừng với quy mô lớn và táo bạo vẫn diễn ra.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng là do chính quyền địa phương có rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao trong quản lý bảo vệ rừng. Một số cán bộ, công chức trong lực lượng bảo vệ rừng còn thiếu trách nhiệm, thậm chí bao che, tiếp tay cho lâm tặc nên còn sơ hở để các đối tượng làm ăn phi pháp lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm.[9]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Dak có những từ tương đồng như Dar, đạ, đà. Các từ này tương ứng với các từ chỉ nơi chốn như Đà Nẵng, Đà Lạt, Đạ Tẻn, Đak Hà... Từ Dak = Dar = Đạ = Đà có nghĩa như 1 vùng lãnh thổ xuất hiện trong vùng đất của quốc gia Chăm Pa cổ xưa. Ngoài ra từ (Dar = Dak = Đạ = Đà) cũng có nghĩa là nước (như Đạ Lạch = dòng sông/suối của người Lạch (Đà Lạt), hay Đa Gui (Ma-đa-gui) = dòng sông "vàng" của người Mạ tại khu vực giáp ranh với Đồng Nai trên quốc lộ 20, nơi có rất nhiều người Mạ sinh sống), "Đạ / Đà" ám chỉ một nguồn nước như sông/suối thuộc quyền cai quản của một dân tộc thiểu số tại một khu vực nhất định. Trong các nghiên cứu về Chăm Pa, một số nhận định của các nhà nghiên cứu cũng cho rằng Champa quản lí đất nước giống như các tiểu bang thời nay ở nước ngoài.

Từ Lak có từ tương đồng lac là tiếng của người bản địa (người M'nông R'Lăm). Dak Lak có nghĩa là nước mênh mông. Người M'nông sinh sống quanh hồ Lak. Theo các già làng ở vùng cao nguyên cũng cho rằng từ lac là phiên âm của từ lạch. Theo dân gian thì người Lạch là các nhà buôn và trao đổi hàng hóa gốm xứ ở vùng cao nguyên (thương gia người dân tộc Lạch) trong thời Chăm Pa cổ. Các sử thi như sử thi Đăm Săn cũng nói về người Lạch. Từ Daklak, Darlac hay Đạ Lạch ý chỉ vùng đất hay địa bàn mà người Lạch hay trao đổi hàng hóa.

Bản đồ tỉnh Darlac năm 1909 (bấy giờ địa bàn bao gồm cả một phần các tỉnh Gia Lai và Đắk Nông ngày nay)

Đắk Lắk (còn ghi theo tiếng PhápDarlac) được thành lập theo nghị định ngày 22 tháng 11 năm 1904 của Toàn quyền Đông Dương.

Các công sứ Pháp từ 1900 - 1930 là:

  1. Leon Bourgeois (1899 - 1904)[10]
  2. Charles J. Bardin (1904 - 1905)
  3. Henri Besnard (1905[11] - 1909)
  4. Antoine G. Groslier (1909 - 1912)
  5. Louis Cottez (1912 - 1913)
  6. Leopold Sabatier (1913 - 1925[12][13])
  7. Paul E. Giran (1925 - 1931[14])
  8. Desteney (1931 - 1934; về sau làm Công sứ tỉnh Thừa Thiên[15])
  9. Henri Gerbinis (1935 - 1938)[16]....

Đến ngày 9 tháng 2 năm 1913 thì tỉnh này trở thành 1 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập cùng ngày.[17] Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1923 tỉnh Đắk Lắk mới được tái lập. Lúc mới tái lập, Đắk Lắk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng (còn gọi là buôn hay bon), người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người M'Nông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng. Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia làm 5 quận, gồm có Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đăk Song, LắkM'Drắk, dưới có 440 làng.

Ngày 15 tháng 4 năm 1950, Bảo Đại ban hành Dụ số 6 đặt Cao nguyên Trung phần, trong đó có Đắk Lắk, làm Hoàng triều Cương thổ, có quy chế cai trị riêng.

Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày 2 tháng 7 năm 1958 ấn định tỉnh Đắk Lắk (được ghi là Darlac) có 5 quận, 21 tổng và 77 xã. Trong đó, Quận Ban Mê Thuột có 4 tổng, Quận Lạc Thiện (đổi tên từ quận Lăk) có 7 tổng, Quận M'Đrak có 4 tổng, Quận Đak Song có 2 tổng và Quận Buôn Hồ có 4 tổng.

Bản đồ hành chính năm 1967 cho biết địa giới tỉnh Darlac của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 23 tháng 1 năm 1959, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 24/NV, tách gần như toàn bộ quận Đak Song của tỉnh Darlac, lập ra tỉnh Quảng Đức. Như vậy tỉnh Darlac còn lại 4 quận. Sau đó quận M'Đrak lại bị xé lẻ, một phần nhập vào tỉnh Khánh Hòa và một phần nhập vào tỉnh Phú Yên. Tháng 12 năm 1960, Chính phủ cách mạng chính thức thành lập tỉnh Quảng Đức dựa trên sự phân chia ranh giới của địch, lấy mật danh là B4.

Ngày 20 tháng 12 năm 1963, lập thêm một quận mới tên là Phước An, quận lỵ đặt tại Phước Trạch, đến ngày 1 tháng 9 năm 1965 chuyển về Thuận Hiếu. Sau này lại bỏ cấp tổng, nên chỉ còn cấp quận (4 quận) và xã.

Dân số tỉnh Darlac 1967[18]
Quận Dân số
Ban Mê Thuột 95.664
Buôn Hồ 31.527
Lạc Thiện 19.456
Phước An 10.887
Tổng số 157.534

Tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức lại nhập vào tỉnh Đắk Lắk. Sau năm 1975, tỉnh Đắk Lắk gồm thị xã Buôn Ma Thuột và 6 huyện: Đắk Mil, Đắk Nông, Krông Búk, Krông Pắc, LắkBuôn Hồ

Ngày 30 tháng 8 năm 1977, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông BúkEa Súp; chia huyện Krông Pắk thành 2 huyện: Krông PắcM'Drắk.[19]

Ngày 3 tháng 4 năm 1980, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông Búk và Ea H'leo.[20]

Ngày 19 tháng 9 năm 1981, thành lập huyện Krông Ana trên cơ sở tách ra từ huyện Krông Pắk và thị xã Buôn Ma Thuột; chia huyện Krông Pắk thành 2 huyện: Krông Pắk và Krông Bông.[21]

Ngày 23 tháng 1 năm 1984, chia huyện Ea Súp thành 2 huyện: Ea SúpCư M'gar.[22]

Ngày 22 tháng 2 năm 1986, chia huyện Đắk Nông thành 2 huyện: Đắk NôngĐắk R'lấp.[23]

Ngày 13 tháng 9 năm 1986, thành lập huyện Ea Kar trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Krông PắcM'Drắk.[24]

Ngày 9 tháng 11 năm 1987, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông BúkKrông Năng; thành lập huyện Krông Nô trên cơ sở tách một số xã thuộc các huyện Đắk Mil, Đắk NôngLắk.

Ngày 19 tháng 6 năm 1990, thành lập huyện Cư Jút trên cơ sở tách ra từ huyện Đắk Mil và thị xã Buôn Ma Thuột.[25]

Ngày 21 tháng 1 năm 1995, chuyển thị xã Buôn Ma Thuột thành thành phố Buôn Ma Thuột.[26]

Ngày 7 tháng 10 năm 1995, chia huyện Ea Súp thành 2 huyện: Ea SúpBuôn Đôn.[27]

Ngày 21 tháng 6 năm 2001, thành lập huyện Đắk Song trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Đắk NôngĐắk Mil.[28]

Đến cuối năm 2002, tỉnh Đắk Lắk có diện tích 19.576,4 km², dân số 2.029.972 người, có tỉnh lị là thành phố Buôn Ma Thuột và 18 huyện: Buôn Đôn, Cư Jút, Cư M'gar, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'lấp, Đắk Song, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Nô, Krông Pắc, Lắk, M'Drắk.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH11,[29] tỉnh Đắk Lắk tách thành 2 tỉnh mới là Đắk Lắk và Đắk Nông, nên số huyện giảm xuống còn 12 huyện:[30]

Ngày 28 tháng 2 năm 2005, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại II.[31]

Ngày 27 tháng 8 năm 2007, chia huyện Krông Ana thành 2 huyện: Krông AnaCư Kuin.[32]

Ngày 23 tháng 12 năm 2008, thành lập thị xã Buôn Hồ trên cơ sở tách ra từ huyện Krông Búk.[33] Tính từ thời điểm này cho đến hết ngày 11 tháng 6 năm 2025, Tỉnh Đắk Lắk có 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện.

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.[34]

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (có hiệu lực từ ngày ban hành). Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được sắp xếp lại để thành lập một đơn vị hành chính mới, giữ nguyên tên gọi là tỉnh Đắk Lắk. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 18.096,40 km² và quy mô dân số là 3.346.853 người.[35]

Hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk được chia thành 102 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó bao gồm 88 và 14 phường.[36]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đắk Lắk[37]
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phường (14)
Bình Kiến 73,71 44.406
Buôn Hồ 66,54 62.780
Buôn Ma Thuột 71,99 169.596
Cư Bao 104,94 36.911
Đông Hòa 77,54 47.632
Ea Kao 60,70 57.070
Hòa Hiệp 40,81 53.597
Phú Yên 44,04 61.799
Sông Cầu 90,49 38.891
Tân An 56,41 64.122
Tân Lập 46,70 73.316
Thành Nhất 32,22 52.466
Tuy Hòa 33,77 126.118
Xuân Đài 13,40 21.574
Xã (88)
Buôn Đôn 1.113,79 6.582
Cuôr Đăng 102,84 28.804
Cư M'gar 114,98 32.368
Cư M'ta 261,06 13.592
Cư Pơng 137,81 17.687
Cư Prao 204,89 13.765
Cư Pui 314,08 27.561
Cư Yang 149,43 16.682
Dang Kang 105,91 21.301
Dliê Ya 179,73 46.569
Dray Bhăng 101,37 39.801
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Dur Kmăl 114,49 12.594
Đắk Liêng 135,55 22.881
Đắk Phơi 266,83 14.726
Đồng Xuân 206,26 26.907
Đức Bình 160,36 15.896
Ea Bá 131,79 8.316
Ea Bung 390,08 9.677
Ea Drăng 171,34 54.475
Ea Drông 111,13 23.951
Ea H'leo 340,06 15.625
Ea Hiao 361,69 30.796
Ea Kar 198,67 87.972
Ea Khăl 247,05 29.956
Ea Kiết 201,83 20.177
Ea Kly 107,63 40.161
Ea Knốp 448,65 37.016
Ea Knuếc 122,39 43.748
Ea Ktur 100,72 54.269
Ea Ly 140,35 12.104
Ea M'Droh 134,00 33.268
Ea Na 134,18 42.164
Ea Ning 86,21 34.175
Ea Nuôl 111,74 43.706
Ea Ô 137,73 23.852
Ea Păl 102,52 15.049
Ea Phê 84,66 48.605
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Ea Riêng 167,56 15.719
Ea Rốk 544,60 28.785
Ea Súp 418,72 30.762
Ea Trang 207,40 6.547
Ea Tul 159,51 34.876
Ea Wer 184,61 29.708
Ea Wy 213,94 28.567
Hòa Mỹ 190,14 26.530
Hòa Phú 109,07 48.822
Hòa Sơn 108,55 25.392
Hòa Thịnh 159,23 30.602
Hòa Xuân 129,33 22.962
Ia Lốp 194,09 6.502
Ia Rvê 217,83 6.847
Krông Á 291,60 12.900
Krông Ana 107,23 48.491
Krông Bông 166,03 23.168
Krông Búk 134,83 30.822
Krông Năng 98,34 43.678
Krông Nô 282,01 9.976
Krông Pắc 112,52 68.682
Liên Sơn Lắk 398,82 26.772
M'Drắk 151,87 22.808
Nam Ka 172,86 6.424
Ô Loan 103,48 40.278
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phú Hòa 1 142,54 54.212
Phú Hòa 2 95,78 38.691
Phú Mỡ 547,20 9.007
Phú Xuân 140,74 34.836
Pơng Drang 85,03 30.208
Quảng Phú 111,34 61.104
Sông Hinh 460,13 23.841
Sơn Hòa 267,39 40.825
Sơn Thành 218,11 27.838
Suối Trai 186,95 11.387
Tam Giang 195,80 25.470
Tân Tiến 89,43 28.767
Tây Hòa 55,14 49.720
Tây Sơn 334,62 11.052
Tuy An Bắc 52,32 26.174
Tuy An Đông 46,05 40.108
Tuy An Nam 69,99 29.805
Tuy An Tây 136,20 12.913
Vân Hòa 151,47 6.661
Vụ Bổn 109,13 18.111
Xuân Cảnh 83,81 23.972
Xuân Lãnh 174,65 15.933
Xuân Lộc 114,01 27.609
Xuân Phước 102,81 16.197
Xuân Thọ 192,12 10.793
Yang Mao 562,38 16.970

Kinh tế - xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế chủ đạo của Đắk Lắk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản. Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2017, tỉnh Đắk Lắk xếp ở vị trí thứ 31/63 tỉnh thành. Đắk Lắk là tỉnh có diện tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, với diện tích 182.343 ha và sản lượng thu hoạch hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả nước.[38] Tỉnh cũng là nơi trồng bông, ca cao, cao su, điều lớn của Việt Nam. Đồng thời, là nơi phát triển các loại cây ăn trái khác, như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài...

Năm 2016, Đánh giá về việc thực hiện 18 chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu năm 2016 cho thấy, có 12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra, nổi bật nhất là chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, tổng sản phẩm xã hội (GRDP - theo giá so sánh 2010) khoảng 44.571 tỷ đồng, đạt 101,3% kế hoạch; tăng trưởng kinh tế 7,02%. Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): nông - lâm - thủy sản đạt 44,81%; công nghiệp - xây dựng đạt 14,48%; dịch vụ đạt 38,68% (kế hoạch năm 2016 tương ứng là: 43 - 44%, 16 - 17%, 36 - 37%).

• Ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 18.892 tỷ đồng, bằng 107,6% kế hoạch, tăng trưởng 4,25% (Kế hoạch: 17.559 tỷ đồng, tăng 3,5 - 4%). Giá trị sản xuất của các loại cây trồng lâu năm và hằng năm trên địa bàn tỉnh tăng khoảng 250,4 tỷ đồng, tương ứng giá trị tăng thêm 118 tỷ đồng.

• Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.100 tỷ đồng, bằng 97,6% kế hoạch do HĐND tỉnh giao (kế hoạch: 4.200 tỷ đồng) và đạt 120,2% kế hoạch Trung ương giao (kế hoạch: 3.671 tỷ đồng), tăng 20,2% so với thực hiện năm 2015.

• Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) năm 2016 thực hiện 13.750 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm 2015, đạt 108,2% kế hoạch.

Phấn đấu năm 2018, UBND tỉnh Đắk Lắk đề ra chỉ tiêu: Tổng sản phẩm xã hội đạt khoảng 51.480 tỷ đồng, tăng trưởng kinh tế 7,8 - 8%, thu nhập bình quân đầu người 41 triệu đồng, huy động vốn đầu tư toàn xã hội 27.720 tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 600 triệu USD, thu ngân sách nhà nước khoảng 5.000 tỷ đồng.

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 53 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo.[39] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.[39]

Danh sách các trường Trung học Phổ thông

[sửa | sửa mã nguồn]
Stt Mã trường Tên trường Stt Mã trường Tên trường
1
001
Sở Giáo dục - Đào tạo Đắk Lắk
38
038
Trung học Phổ thông Lê Hữu Trác
2
002
Trung học Phổ thông Buôn Ma Thuột
39
039
Trung học Phổ thông Trần Nhân Tông
3
003
Trung học Phổ thông Chu Văn An
40
040
Trung học Phổ thông Lê Quý Đôn
4
004
Trung học Phổ thông Quang Trung
41
041
Trung tâm Giáo dục từ xa M'Drăk
5
005
Trung học Phổ thông Trần Phú
42
042
Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Kar
6
006
Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Nơ Trang Lơng
43
043
Trung học Phổ thông Huỳnh Thúc Kháng
7
007
Trung Tâm Giáo dục từ xa Đắk Lắk
44
044
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Bông
8
008
Trung học Phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm
45
045
Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Ma Thuột
9
009
Trung học Phổ thông Lê Hồng Phong
46
046
Trung học Phổ thông Hùng Vương
10
010
Trung học Phổ thông Buôn Hồ
47
047
Trung cấp dạy nghề Đắk Lắk
11
011
Trung học Phổ thông Cư M'Gar
48
048
Cao đẳng Nghề Thanh niên Dân tộc, Đắk Lắk
12
012
Trung học Phổ thông Krông Ana
49
049
Trung học Phổ thông Phú Xuân
13
013
Trung học Phổ thông Việt Đức
50
050
Trung học Phổ thông Phan Chu Trinh
14
014
Trung học Phổ thông Phan Bội Châu
51
051
Trung học Phổ thông Nguyễn Trường Tộ
15
015
Trung học Phổ thông Ngô Gia Tự
52
052
Trung học Phổ thông Lý Tự Trọng
16
016
Trung học Phổ thông Trần Quốc Toản
53
053
Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Đôn
17
017
Trung học Phổ thông Krông Bông
54
054
Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Súp
18
018
Trung học Phổ thông Nguyễn Tất Thành
55
055
Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Đắk Lắk
19
019
Trung học Phổ thông Ea H'leo
56
056
Trường Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk
20
020
Trung học Phổ thông huyện Lăk
57
057
Trường Văn Hóa 3
21
021
Trung học Phổ thông Ea Sup
58
058
Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Tây Nguyên
22
022
Trung học Phổ thông Hồng Đức (Buôn Ma Thuột)
59
059
Trung học Phổ thông Thực hành Cao Nguyên
23
023
Trung học Phổ thông Nguyễn Trãi
60
060
Trung học Phổ thông Nguyễn Huệ
24
024
Trung học Phổ thông Chuyên Nguyễn Du
61
061
Trung học Phổ thông Nguyễn Văn Cừ
25
025
Trung học Phổ thông Cao Bá Quát
62
062
Trung học Phổ thông Lê Duẩn
26
026
Trung học Phổ thông Phan Đình Phùng
63
063
Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai
27
027
Trung học Phổ thông Buôn Đôn
64
064
Trường năng khiếu Thể dục Thể thao
28
028
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Ana
65
065
Trung học Phổ thông Phan Đăng Lưu
29
029
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Pắk
66
066
Trung học Phổ thông Trường Chinh
30
030
Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Hồ
67
067
Trung học Phổ thông Trần Quang Khải
31
031
Trung tâm Giáo dục từ xa huyện Lăk
68
068
Trung học Phổ thông Nguyễn Thái Bình
32
032
Trung tâm Giáo dục từ xa Cư M'Gar
69
069
Trung học Phổ thông Trần Đại Nghĩa
33
033
Trung tâm Giáo dục từ xa Ea H'Leo
70
070
Trung tâm Giáo dục từ xa Cư Kuin
34
034
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Năng
71
071
Trung học Phổ thông Phạm Văn Đồng
35
035
Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng
72
072
Trung học Phổ thông Ea Rốk
36
036
Trung học Phổ thông Nguyễn Công Trứ
73
073
Trung học Phổ thông Trần Hưng Đạo
37
037
Trung học Phổ thông Y Jut

Trường Đại Học / Cao đẳng / Trung cấp

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Trường Đại học Tây Nguyên
  • Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột
  • Phân hiệu Trường Đại học Đông Á tại Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
  • Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk
  • Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk
  • Trường Cao đẳng Văn Hóa - Nghệ thuật Tỉnh Đắk Lắk
  • Trường Cao đẳng FPT Polytechnic - Cơ sở Tây Nguyên
  • Trường Cao đẳng Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên+Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk)
  • Trường Cao đẳng Bách Khoa Tây Nguyên
  • Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk
  • Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Sư phạm Mầm non Đắk Lắk+Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk)
  • Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam - Cơ sở Đắk Lắk
  • Trường Trung cấp Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Đắk Lắk+Trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật Đắk Lắk)
  • Trường Trung cấp Trường Sơn
  • Trường Trung cấp Tây nguyên
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
1995
1.398.300
2000
1.860.900
2005
1.658.500
2010
1.752.700
2015
1.853.700
2020
1.886.900
2025
3.346.853
1996
1.501.800
2001
1.912.200
2006
1.677.800
2011
1.770.500
2016
1.874.500
2021
1.909.000
1997
1.605.100
2002
1.954.500
2007
1.696.600
2012
1.791.400
2017
1.896.600
2022
1.949.000
1998
1.703.100
2003
1.995.600
2008
1.715.100
2013
1.812.800
2018
1.919.200
2023
1.970.500
1999
1.793.400
2004
1.635.600
2009
1.735.700
2014
1.833.300
2019
1.872.600
2024
1.997.700

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2023, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk là 2.207.244 người, mật độ dân số đạt 135 người/km²[40] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt 462.013 người, chiếm 24,7% dân số toàn tỉnh,[41] dân số sống tại nông thôn đạt 1.407.309 người, chiếm 75,3% dân số toàn tỉnh.[42] Dân số nam đạt 942.578 người,[43] trong khi đó nữ đạt 926.744 người.[44] Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 0,75 ‰[45] Đây cũng là tỉnh đông dân nhất vùng Tây Nguyên với hơn 1,8 triệu dân. Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2023 đạt 25,76%.

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Đắk Lắk có 13 tôn giáo khác nhau chiếm 577.920 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo với 265.760 người, thứ 2 là Đạo Tin Lành với 181.670 người, thứ 3 là Phật giáo với 126.660, thứ 4 là Đạo Cao Đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo có 162 người, Hồi giáo có 65 người, Bửu sơn kỳ hương có 23 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 3 người, Bahá'í có 2 người, ít nhất là Minh Sư Đạo, Minh Lý ĐạoĐạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mỗi đạo có 1 người.[46]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ 2 là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ 3 là Người Nùng có 71.461 người, thứ 4 là Người Tày có 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người[46]...

Bến nước Kodung

Đắk Lắk có bản sắc văn hóa đa dạng như các trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu, như các ngôn ngữ của người Ê Đê, người M'Nông...như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút... Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

Các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê... được tổ chức đều đặn hàng năm như một truyền thống. Các Di tích lịch sử tại Đắk Lắk như Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu Biệt điện Bảo Đại, Toà Giám mục tại Đắk Lắk, Hang đá Đắk TurTháp Yang Prong...

Đắk Lắk là trung tâm về Y tế vùng Tây Nguyên. Với một số bệnh viện lớn cấp Vùng như Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên với quy mô 800 giường bệnh nội trú. Với nỗ lực của các Y - Bác sĩ, bệnh viện đã hạn chế được 1 phần về tình trạng bệnh nhân cấp cứu phải chuyển tuyến đến các bệnh viện tuyến trên như: Bệnh viện Chợ Rẫy (Hồ Chí Minh), Bệnh viện Đà Nẵng (Đà Nẵng), Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).

Thể thao

[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Lắk có Câu lạc bộ bóng chuyền Đắk Lắk hiện đang thi đấu tại giải vô địch và câu lạc bộ bóng đá Đắk Lắk thi đấu ở Giải hạng Nhất Quốc gia.

Du khách đi voi ở hồ Lắk

Du lịch Đắk Lắk đang có lợi thế với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, Thác Gia Long, cụm du lịch Buôn Đôn, Thác Krông Kmar, Thác Đray Nur, Thác Thủy Tiên,... bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo[47]...

Giao thông

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhà ga sân bay Buôn Ma Thuột

Tỉnh Đắk Lắk mới có hệ thống giao thông phong phú, đa dạng từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không cũng như đường thủy.

Đắk Lắk có Sân bay Buôn Ma Thuột tuyến từ Buôn Ma Thuột đến các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Cần Thơ Ngoài ra, 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, có quốc lộ 14 chạy qua nối với thành phố Đà Nẵng qua các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và nối với Thành phố Hồ Chí Minh qua Bình Phước và Bình Dương...Song song với biên giới Campuchia có quốc lộ 14C. Quốc lộ 27 nối thành phố Buôn Ma Thuột với thành phố Phan Rang đi qua tỉnh Lâm Đồng có đoạn chung với quốc lộ 20. Quốc lộ 26 từ Đắk Lắk đi tỉnh Khánh Hòa, nối với Quốc lộ 1 tại phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hòa. Quốc lộ 29 nối thị xã Buôn Hồ với tỉnh Phú Yên tại cảng Vũng Rô. Đường cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột từ thị xã Ninh Hòa của Khánh Hòa đến điểm cuối tại huyện Cư Kuin của Đắk Lắk.

Danh nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị, lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
  • N'Trang Gưh (1845-1913): Là người dân tộc Êđê, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1887 đến 1913, gây nhiều khó khăn cho quân xâm lược.
  • Ama Jhao (1840-1905): Tên thật là Y Yên Ayŭn, một tù trưởng giàu có và uy tín, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1889 đến 1905.
  • Y Jút H'Wing (1888-1934): Một nhân sĩ trí thức người Êđê, đã tham gia phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của giới công chức, viên chức Buôn Ma Thuột vào những năm 1925-1926.
  • Y Ngông Niê Kdăm (1922-2001): Là người dân tộc Êđê, một nhân vật chính trị tiêu biểu của Đắk Lắk. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk. Ông là Đại biểu Quốc hội 9 khóa liên tục (khóa I đến khóa IX).
  • Ama Pui (1932-2005): Tên khai sinh là Y Liă Mjâo, từng giữ chức Phó Bí thư Thị ủy, Phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận thị xã Buôn Ma Thuột sau năm 1975. Sau đó, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk.
  • Lương Văn Chánh (?-1611) Danh tướng thời chúa Nguyễn, là người có công lớn trong việc khai phá, xác lập và đặt nền móng hình thành vùng đất Phú Yên vào đầu thế kỷ XVII. Ông được nhân dân Phú Yên tôn vinh là Tiền hiền khai khẩn của tỉnh.
  • Lê Thành Phương (1825-1899): Nhà nho yêu nước, lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Phú Yên cuối thế kỷ XIX. Ông lãnh đạo nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, thể hiện tinh thần yêu nước, bất khuất của người dân Phú Yên.
  • Lê Trung Kiên (1939-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Đại đội trưởng Đặc công 202 Phú Yên; anh dũng hy sinh trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại thị xã Tuy Hòa.
  • Nguyễn Anh Hào (1932-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ An ninh tỉnh Phú Yên; chỉ huy lực lượng điệp báo, an ninh đô thị, hy sinh trong Xuân Mậu Thân 1968.
  • Nguyễn Thế Bảo (1930-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ an ninh cách mạng Phú Yên; chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng trong cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968.

Văn hóa, nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]
  • NSND Y Moan Ênuôl (1957-2010): Được mệnh danh là "Giọng ca của đại ngàn Tây Nguyên", ông là một trong những nghệ sĩ người Êđê nổi tiếng nhất Việt Nam với những đóng góp to lớn cho âm nhạc dân gian và hiện đại.
  • Nghệ nhân Y Nuh Niê (dưới 1922-?): Người có đóng góp lớn trong việc gìn giữ và phát huy sử thi Ê Đê, với hơn 45 năm miệt mài hát kể sử thi và truyền dạy cho nhiều thế hệ.
  • NSND Y San Aliô (sinh năm 1960) và NSƯT Y Joel Knul (sinh năm 1975): Những nghệ sĩ đã được vinh danh vì những đóng góp trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật của dân tộc Êđê.
  • H'Hen Niê (sinh năm 1992): Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017, là người dân tộc thiểu số đầu tiên đăng quang ngôi vị cao nhất của cuộc thi này, truyền cảm hứng mạnh mẽ về nghị lực và bản sắc văn hóa.
  • Nhã Phương (sinh năm 1990): Nữ diễn viên điện ảnh và truyền hình nổi tiếng, quê ở Đắk Lắk, được biết đến qua nhiều vai diễn ấn tượng.
  • Hồ Quang Hiếu (sinh năm 1983): Ca sĩ nổi tiếng với nhiều bản hit, cũng là một người con của Đắk Lắk.
  • Hiền Hồ (sinh năm 1997): Nữ ca sĩ trẻ tài năng và triển vọng, được biết đến sau Giọng Hát Việt 2017.
  • Lê Bê La (sinh năm 1987): Nữ diễn viên truyền hình nổi tiếng tại Việt Nam. Cô được biết đến qua vai Tùng trong Cổng mặt trời và nhiều phim truyền hình khác như Hoa nắng, Thời gian để yêu, Bão ngầm...
  • Trương Đình Hoàng (sinh năm 1990): Võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp nổi tiếng, là niềm tự hào của thể thao Đắk Lắk.
  • Y Điêng (1928–2010): Nhà văn dân tộc Êđê sinh tại Phú Yên, có nhiều tác phẩm giá trị về văn hóa, con người Tây Nguyên; được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật.

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c d "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  2. ^ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  3. ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  4. ^ "Chữ và nghĩa: Đắk Lắk - xưa và nay".
  5. ^ a b c Phía Tây Đắk Lắk giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  6. ^ "Gấp rút xác định ranh giới Đắk Lắk - Khánh Hòa".
  7. ^ Giới thiệu viễn thông Đắk Lắk Lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2024 tại Wayback Machine, Website tỉnh Đắk Lắk.
  8. ^ a b Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất nước với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  9. ^ "Nạn phá rừng ở Tây Nguyên vẫn tiếp diễn". nhandan. ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016.
  10. ^ Louis Victor Bourgeois, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc (lúc đó Đắc Lắc thuộc Lào, năm 1904 thì thuộc về Việt Nam), cai trị tỉnh này từ năm 1899 - 1904. Bộ máy cai trị Đắc Lắc khá đơn giản, ngoài ông ta (Công sứ Bourgeois) thì còn có phó công sứ de Blakovitch; chỉ huy lính bản xứ Henry. Bourgeois là tên thực dân Pháp cáo già, lên Tây Nguyên vào những năm 90 của thế kỷ XIX; năm 1890, Bourgeois đã lần lượt thu phục các tù trưởng Khumjunop (vua săn voi nổi tiếng ở Bản Đôn), Ama Y Thuột, Ama Jhao (thất bại)... Ngày 2/11/1899, Bourgeois lập ra hạt đại lý khu vực Bản Đôn làm nơi thí điểm để bình định các dân tộc Edeh, M'nông (nhóm Kpă và Bih) vùng hạ lưu sông Krông Ana và sông Krông Nô...nhưng thất bại. Năm 1900, cuộc nổi dậy của N'Trang Gưh, người Bih chống lại Bourgeois làm tên này phải đối phó rất vất vả (1900 - 1914)
  11. ^ Năm cai trị của tên công sứ Besnard căn cứ theo "Monographie de la Province du Darlac (1930)" của A. Monfleur, p. 13 và "Lịch sử di tích cách mạng nhà ngục Đắk Mil", tr. 26
  12. ^ Leopold Sabatier, công sứ Pháp ở Đắc Lắc từ năm 1914 - 1925. Thời gian đầu khi cai trị, Sabatier đón tiếp Henri Maitre (Tham biện hạng nhất, đóng ở Peksa). Ông ta liên tiếp đem quân chống phá các cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng, cưới một người vợ Tây Nguyên (có chỗ ghi là người Lào) là Sao Nhuôn; ra thông tri về cai trị vùng Mọi (cho người dân tộc làm rưộng nước trên nương rẫy, trồng cây ăn quả). Trong Cuộc thương nghị của lời thề, ông lệnh cho các già làng làm ruộng (có trồng ngô và khoai) theo kế hoạch đã được định ra của Sabatier: "Ông công sứ "Những kẻ đầu cá kroa và đầu cá kenh cứng cổ, ta đã nói cho cac ngươi phải làm như thế nào. Tuy cac ngươi chỉ là những con trâu, ta vẫn muốn cứu các ngươi, nhưng ta sẽ làm cho những kẻ không nghe lời ta phải hối hận. Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè khắp nơi, ở nơi có đầm lầy và đất thấp có thể tưới nước. Các ngươi chặn dòng sông khắp nơi ở những nơi có thể. Trên bờ các ngươi làm ruộng trồng ngô và khoai để thu hoạch và phơi khô dành cho mùa ian mdé phùn (10)[...]" Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè. Ta ra lệnh cho các ngươi cày chứ không phải là dẫm đất. Ta nói với các ngươi chỉ một người với chỉ một con trâu kéo cày, sẽ làm ít vất vả hơn công việc của mười người và mười con trâu giẫm đất. Ngươi, Y Bak, được người ta gọi là "Vua của thóc lúa", đó là gì? Ta cấm người ta gọi ngươi như vậy, nếu không để chế diễu ngươi mà biết bao ruộng lúa không được cày xới. Ta sẽ đưa cho các ngươi hai mươi cái cày. Y Đê, Y Đjut và Y Đong đã học ở Huế, sẽ bày cho các ngươi cách làm và cách dùng. Các ngươi có nghe thấy không? Các tù tưởng Đã nghe rồi. Hây. Công sứ Các ngươi có hiểu không? Các tù trưởng Sao chúng tôi không hiểu. Hây. Công sứ Nếu các ngươi hiểu, thì năm nay sẽ không có nạn đói. Nếu trong một làng, ta thấy một người gầy, ta sẽ bỏ tù chủ làng. Chưa hết đâu. Ta sẽ phát cho các ngươi mười nghìn cây cà phê, năm nay ta sẽ phân phát ba mươi nghìn. Ta đã nói với các ngươi, mỗi dầu dân đinh phải trồng mười cây cà phê"" Ông cũng là người sưu tầm, soạn thảo ra Luật tục Êđê gồm 236 điều với khoảng trên dưới 8.000 câu. Cuối thời cai trị của mình, ông đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac với chủ trương cực đoan "đất Tây Nguyên của người Tây Nguyên", rồi lại vận động khâm sứ Trung Kỳ là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn cao nguyên Trung phần. Chính vì quá độc quyền vùng Tây Nguyên nên ông ta bị nhân dân phản đối. Cuộc biểu tình của người Ê Đê do Y Jut lãnh đạo đã buộc Pháp phải đuổi ông ta về nước (10/1925). Giran lên thay.
  13. ^ "Monographie de la province du Darlac 1931 — Bộ sưu tập Sách Đông Dương". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  14. ^ Giran, tên đầy đủ là Paul Giran, ông này thay Leopold Sabatier làm Công sứ tỉnh Đắc Lắc khi ông này (tức Sabatier) bị Tổng thanh tra Đông Dương đuổi do có hành động miệt thị dân Thượng (đấu tranh của nhân dân Edeh do thầy giáo Y Jut lãnh đạo (1925)). Dưới thời Công sứ Giran, Pháp cho xây dựng Tòa Công sứ Đắc Lắc (1926 - 1927) và tiếp tục đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống Pháp, nhất là khởi nghĩa N'Trang Lơng.
  15. ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  16. ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016.
  17. ^ Theo Annuaire general de L'Indochine 1914, Daklak là một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum mới thành lập, với Leopold Sabatier (ra thay Louis Cottez từ giữa năm 1913) làm đại lý (tương đương chủ quận) lệ thuộc vào Jules-Francois Guénot (công sứ Kon Tum), chỉ huy là Kaufman (đóng ở Buôn Ma Thuột). Pháp đưa Phan Tử Khâm làm tri huyện quản lý cả tỉnh Kon Tum rộng lớn (bao gồm Daklak, đến năm 1917 thêm cả An Khê), đặt H'Ma (người Ê-đê) làm tri huyện ở Mang-yang
  18. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
  19. ^ Quyết định 230-CP năm 1977 về việc chia huyện Krông Buk thành huyện Krông Buk và huyện Ea Sup và chia huyện Krông Pắk thành huyện Krông Pắk và huyện M'Drắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  20. ^ Quyết định 110-CP năm 1980 về việc chia huyện Krông Buk thành hai huyện, huyện Krông Buk và huyện Ea H'Leo và thành lập một số xã mới của huyện Ea Súp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  21. ^ Quyết định 75-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới của huyện và thị xã Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk
  22. ^ Quyết định 15-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới huyện Ea Sup thuộc tỉnh Đắk Lắk
  23. ^ Quyết định 19-HĐBT năm 1986 về việc chia huyện Đắk Nông thành hai huyện Đắk Nông và huyện Đăk R'lấp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  24. ^ Quyết định 108-HĐBT năm 1986 về việc thành lập huyện Ea Kar thuộc tỉnh Đắk Lắk
  25. ^ Quyết định 227-HĐBT năm 1990 thành lập huyện Cư Jút thuộc tỉnh Đắk Lắk
  26. ^ Nghị định 08/CP năm 1995 về việc thành lập thành phố Buôn Ma Thuột và điều chỉnh địa giới hành chính giữa thành phố với các huyện Cư Jút, Ea Súp, Krông Pắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  27. ^ Nghị định 61-CP năm 1995 về việc chia xã và thành lập huyện mới thuộc tỉnh Đắk Lắk
  28. ^ Nghị định 30/2001/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil để thành lập huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Lắk
  29. ^ "NGHỊ QUYẾT 22/2003/QH.11 VỀ VIỆC CHIA VÀ ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH MỘT SỐ TỈNH".
  30. ^ Ban hành Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ[liên kết hỏng], Trang Khánh Hòa
  31. ^ Quyết định 38/2005/QĐ-TTg công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại II do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  32. ^ Nghị định 137/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc các huyện: Krông Ana, Ea Kar, Krông Búk, M'Drắk, Ea H'Leo; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana để thành lập huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
  33. ^ Nghị định 07/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Krông Búk, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Búk để thành lập thị xã Buôn Hồ và thành lập các phường trực thuộc thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk
  34. ^ Quyết định 228/QĐ-TTg năm 2010 công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  35. ^ xaydungchinhsach.chinhphu.vn (ngày 7 tháng 8 năm 2025). "Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH". xaydungchinhsach.chinhphu.vn. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  36. ^ "Toàn văn Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Đắk Lắk năm 2025". Báo Điện tử Chính Phủ. ngày 16 tháng 6 năm 2025.
  37. ^ Căn cứ vào Đề án số 341/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đắk Lắk (mới) năm 2025
  38. ^ Đắk Lắk là tỉnh có diện tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, Trang thông tin lễ hội cà phê.
  39. ^ a b Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  40. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  41. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  42. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  43. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  44. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  45. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  46. ^ a b Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  47. ^ Tính đến ngày 31/12/2000, toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 2 di tích lịch sử văn hoá Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]