Phật giáo Hòa Hảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Biểu tượng Phật giáo Hòa Hảo
Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ

Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm Kỷ Mão 1939[1], lấy pháp môn "Học Phật - Tu Nhân" làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia (Tại gia cư sĩ). Tôn giáo này lấy nền tảng là Đạo Phật, kết hợp với những bài sấm kệ do chính Huỳnh Phú Sổ biên soạn. Hòa Hảo là một phong trào tôn giáo[2] được miêu tả như là một sự pha trộn tín ngưỡng dân gian hay là một nhánh của Phật giáo. Nó là một trong những tôn giáo chính ở Việt Nam với khoảng từ một đến tám triệu tín đồ, hầu hết ở đồng bằng sông Cửu Long.

Triết lý tôn giáo của Hòa Hảo phát xuất từ đồng bằng sông Cửu Long, căn bản bắt nguồn từ Phật giáo. Nó cải cách[3][4] và xét lại giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương,[5] và sở hữu những yếu tố giống như một phong trào cải cách xã hội.[6] Hòa Hảo là một hỗn hợp của đạo Phật, thờ cúng ông bà, những nghi thức vật linh, những yếu tố của Nho giáo và Bạch liên giáo, được biến đổi và thích nghi với tập quán của người nông dân trong vùng. Đến từ vùng biên viễn của miền Nam Việt Nam, nó đối lập với cuộc sống đô thị và thích hợp hơn với lối sống cộng đồng. Không như Phật giáo chính thống, Hòa Hảo từ chối những nghi thức và đền miếu, không duy trì thứ bậc như trong tu viện và tu tại gia. Nó cũng biện luận rằng Phật tại tâm, và điều đó quan trọng hơn những nghi thức bên ngoài. Nghi thức thông thường của Hòa Hảo được giới hạn trong bốn lạy một ngày, trong khi tín đồ tuân theo Tam cương Ngũ thường.[7]

Tác động của nền cai trị thực dân, cường độ chiến tranh tăng lên từ cuối thập niên 1930 tới giữa thập niên 1970, và xung đột ý thức hệ tạo nên sự khởi đầu và phát triển sau đó của Hòa Hảo.[8] Cùng với phong trào Việt Minh của Hồ Chí Minh và một phong trào tôn giáo khác là Đạo Cao Đài, một trong những nhóm đầu tiên xung đột vũ trang với những thế lực thực dân, đầu tiên là người Pháp sau đó là người Nhật. Hòa Hảo hưng thịnh dưới sự chiếm đóng của người Nhật trong thế chiến thứ hai, với sự gắn kết rộng lớn của nó với nông dân, tá điền và người làm công trong nông nghiệp. Nó biến thành một tôn giáo vũ trang theo chủ nghĩa dân tộc, và nhanh chóng phát triển một quân đội riêng hoạt động chủ yếu vì lợi ích của những lãnh đạo của nó, trong khi thiết lập một nhà nước tự trị của nó trong khu vực. Hòa Hảo tồn tại như một lực lượng tự trị trong nền chính trị Việt Nam sau chiến tranh, đối lập với cả thực dân Pháp và phong trào Việt Minh.[2][9][10]

Trong suốt chiến tranh Đông Dương, bất đồng với những phe phái khác làm Hòa Hảo trở thành một giáo phái tôn giáo chính trị quân sự có nhiều xung đột với các lực lượng khác. Huỳnh Phú Sổ bị Việt Minh bắt cóc và xử tử trong khi quay về từ một cuộc họp không thành công để giải quyết xung đột với lực lượng cộng sản. Nhiều tín đồ Hòa Hảo ca ngợi ông như là một đấng cứu thế đã giáng thế trong thời điểm khủng hoảng.[11] Cái chết của Huỳnh Phú Sổ dẫn tới chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa kỳ thị, và tác động mang tính tổ chức.[12] Hòa Hảo tiến hành một cuộc chiến tranh chống cộng sản, bị dán nhãn như là "nhân tố chống Việt Minh mạnh mẽ nhất đất nước".[13] Tuy nhiên, Hòa Hảo cùng với những tổ chức chính trị - tôn giáo khác, thống trị khung cảnh chính trị xã hội của miền Nam Việt Nam trong thập niên 1950, góp phần hình thành nên một miền Nam Việt Nam phi cộng sản.[14] Sau năm 1954, Hòa Hảo có những hoạt động chống lại chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm được người Mỹ hỗ trợ. Họ kiểm soát những khu vực khác nhau ở phía Nam và phía Tây miền Nam Việt Nam vào thời điểm Diệm chết năm 1963.[2] Sau đó họ thực hiện một chiến dịch chống Việt Cộng để bảo vệ tỉnh nhà của họ trong suốt chiến tranh Việt Nam, trở thành một lực lượng chính trị tự trị ở miền Nam Việt Nam đến khi Sài Gòn thất thủ năm 1975. Bị chính phủ mới giải tán, Hòa Hảo bị đàn áp và đấu tranh cho những quyền của họ sau chiến tranh. Chỉ đến năm 1999 họ mới được nhà nước công nhận, nhưng chính phủ áp đặt sự kiểm soát thô bạo lên các nhóm Hòa Hảo bất đồng quan điểm nếu không theo những nhánh được nhà nước chấp thuận.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa Hảo là một phong trào tôn giáo mới[2], nó được đặt theo tên ngôi làng nơi người sáng lập ra tôn giáo này là Huỳnh Phú Sổ sinh ra và lớn lên[2] (Hòa Hảo;[15] Tiếng Việt: [ɗâːwˀ hwàː hâːw] (); Chữ Hán: 道和好; literally "peace and plenty"),[16] hiện nay thuộc huyện Thốt Nốt, tỉnh An Giang.[17] Hòa Hảo cũng có thể được viết là Hòa-Hảo.[18] Trong tiếng Anh đạo Hòa Hảo được viết là Hoahaoism,[19] hoặc Hoa Haoism.[20][21] Đạo Hòa Hảo cũng được gọi là[15][22] Phật Giáo Hòa Hảo.[23] Làng Hòa Hảo được chính quyền cộng sản hiện nay đổi tên thành làng Phú Mỹ.[24]

Ban đầu những người theo Hòa Hảo được gọi là tín đồ Đạo Xẻn, theo tên của Huỳnh Phú Sổ lúc nhỏ.[25] Đây là nhóm tôn giáo[26] đã được xếp loại là một giáo phái Phật giáo.[27][28][11][29][30][31] Tướng Joseph Lawton Collins, người là đại diện đặc biệt của Mỹ tại Việt Nam, đã miêu tả Hòa Hảo như là một "giáo phái giả tôn giáo", thêm rằng nó "hiện ra trước nông dân với một lớp vecni Phật giáo và bảo vệ chế độ gia trưởng".[13] Thậm chí, báo chí Mỹ trong thập niên 1950 gán nhãn Hòa Hảo là "một giáo phái giả tôn giáo theo một dạng Phật giáo sai lầm", và như là một "một giáo phái ồn ào của những Phật tử bất đồng chính kiến" mà người sáng lập "đã được gửi đến nhà thương điên dành cho người mất trí".[32] Mặc dầu vậy những nguồn khác cho rằng Hòa Hảo là một phong trào cải cách tôn giáo dân gian riêng biệt[33][2][34][35][36].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Huỳnh Phú Sổ
Flag of the Hòa Hảo used since their foundation

Hòa Hảo được sáng lập bởi Huỳnh Phú Sổ (1919–1947),[37] một người Việt Nam sinh năm 1919 trong một gia đình Công giáo La Mã tại một làng nhỏ.[9][23][38] Phong trào tôn giáo này phát xuất từ một nơi xa xôi của Đồng bằng sông Cửu Long, được gọi là khu vực Transbassac dưới chế độ cai trị của người Pháp. Giữa thế kỷ 19, đồng bằng sông Cửu Long là một xã hội hoang sơ ở biên giới; quyền lực chính trị lung lay, các mối quan hệ xã hội mong manh, tôn giáo đa dạng. Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo và những giáo phái khác có những tác động khác nhau lên dân chúng. Người Việt tương tác với người Campuchia và Trung Quốc, và mọi người bị buộc phải chấp nhận chế độ thực dân Pháp vào năm 1867.[12][17] The religion arose from a tangle of mysticism, magic, and witchcraft, which could be found in most of the region's local beliefs. Rooted in earlier Vietnamese anti-colonial religious traditions, the Hòa Hảo philosophy claims to be based on the thoughts of Phật Thầy Tây An (1807–1856), known as Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Tây An, in the 1830s, prophesied the collapse of the Nguyễn Vietnam at the hands of Western powers; the prophecies survived his death and spread throughout the Miền Tây, resulting in two major rebellions in 1875 and 1913 in which the region's French administration was nearly deposed.[23]

Sổ received no particular education as a child and did not associate with monks, Confucian-minded thinkers, or Westernized intelligentsia. He was afflicted by an unknown illness since he was 15, a failed candidate for the Cao Đài. This prompted him to leave his native village of Hòa Hảo in 1939 and go to the Bảy Núi range 60 kilômét (37 mi) away. There, amid hermits and spiritual leaders, he obtained unorthodox Buddhist knowledge and a composite spiritual education. Sổ founded the religion on the eighteenth day of the fifth lunar month of the year kỷ mão, according to the Vietnamese lunisolar calendar, or 4 July 1939, according to the Gregorian calendar. He declared himself a prophet, and began preaching a doctrine based on faith and simplicity; he traveled throughout Vietnam practicing herbal healing and acupuncture. In the second half of 1939, Sổ's declamations were concurrently published. They took the shape of several small collections of texts written in verse (sấm giảng) that were distributed to the general populace free of charge.[22][37][38][39]

By the end of the year, Sổ gathered ten thousand followers[25] and by 1940 had a following of over 100,000 converts. Also, Sổ had reached another two million people in Miền Tây through his preaching.[11][40][41] The devotees were easily recognizable as they wore amulets that bore the inscription "Bửu Sơn Kỳ Hương".[30] Sổ was certain about the necessity for ordinary peasants to believe in the movement, and their pleas for allegiance were successful.[42] There were two major reasons for his success: the prophecies he made about the outbreak of World War II and the conquest of Southeast Asia by Japan, and his work as a mystical healer—his patients claimed to have been miraculously cured of all manner of serious illnesses after seeing him, when Western medicine had failed.[43][44] He proclaimed himself as the reincarnation of the Buddha,[45] and he was regarded as such.[29] According to the Austrian politician Joseph Buttinger, the masses held the movement's native origins in high regard.[46]

Sổ became a wildly popular leader as his faithful group grew in size. His influence quickly expanded beyond religious matters, and he became a powerful figure in lay affairs as well. The Hòa Hảo grew from a purely religious movement to encompass an impressive lay power structure centered on Cần Tho Province. Sổ's religious prescriptions quickly merged with nationalist, anti-colonial sentiment, and he quickly rose to prominence as a key nationalist figure. The group grew into the Mekong Delta's most powerful nationalist force, with strong sentiment against the colonial French rulers and the landlords who dominated the agriculture of Cochinchina. The Hòa Hảo played a crucial role in the anti-colonial, nationalist fervor that grew in the years leading up to World War II. İt ultimately became a homegrown political movement in the region. Despite this, the Hòa Hảo, according to Edwin E. Moise, were patriotic and anti-nationalist in nature. He argued that they were too small to have a realistic possibility of governing a national government, thus a powerful central government had to imply control of their districts by a government ruled by people, not beliefs; they preferred a weaker government in order to gain a de facto autonomy. Meanwhile, other anti-French organizations arose, the most notable of which was the Indochinese Communist Party's (ICP) Việt Minh, which was led by Hồ Chí Minh and became the sole anti-colonial organization to establish a grassroots structure. The movement's leadership competed with the Communist movement for the peasants' support, though initial conflict was not about the Việt Minh's then-hidden Communist ideas, but rather about the fact that they were not native to the region.[42][47]

Các ngày lễ tết[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngày Lễ kỷ niệm trong Đạo đều tổ chức vào ngày âm lịch. Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:

  • Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán
  • Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Nguyên
  • Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ vắng mặt
  • Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
  • Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo
  • Ngày Rằm tháng 7: Lễ Trung Nguyên, Vu Lan Báo Hiếu
  • Ngày 12 tháng 8: Vía Phật Thầy Tây An
  • Ngày Rằm tháng 10: Lễ Hạ Ngươn
  • Ngày 17 tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
  • Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ.
  • Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Werner 2006, p. 4.
  2. ^ a b c d e f Britannica Hoa Hao.
  3. ^ Marquis 2000, tr. 88.
  4. ^ Marr 2013, tr. 555.
  5. ^ Tai 2013, tr. 146.
  6. ^ Hunt 1982, tr. 134.
  7. ^ http://bantongiao.snv.kontum.gov.vn/thong-bao/TIM-HIEU-VE-GIAO-LY,-LUAT-LE,-LE-NGHI-VA-TO-CHUC-GIAO-HOI-CUA-PHAT-GIAO-HOA-HAO-1386
  8. ^ Bourdeaux 2018, tr. 584.
  9. ^ a b The Concise Oxford Dictionary of World Religions 2019.
  10. ^ Karnow 1997, tr. 135.
  11. ^ a b c Britannica Huynh Phu So.
  12. ^ a b Marr 1984, tr. 509.
  13. ^ a b Jacobs 2004, tr. 182.
  14. ^ Nguyen-Marshall 2014, tr. 321.
  15. ^ a b Werner 2006, tr. 4.
  16. ^ Tai 2013, tr. 125.
  17. ^ a b Haseman 1976, tr. 373–374.
  18. ^ Fall 1955, tr. 235.
  19. ^ Dang, Vo & Le 2015, tr. 90.
  20. ^ Marquis 2000, tr. 87.
  21. ^ Jacobs 2004, tr. 194.
  22. ^ a b Kiernan 2017, tr. 375.
  23. ^ a b c Fall 1955, tr. 243.
  24. ^ Bourdeaux 2018, tr. 598.
  25. ^ a b Tai 2013, tr. 119.
  26. ^ Jacobs 2004, tr. 12.
  27. ^ Marr 2013, tr. 31.
  28. ^ Kiernan 2017, tr. 13.
  29. ^ a b Moyar 2009, tr. 21.
  30. ^ a b Tai 2013, tr. 7.
  31. ^ Ross 2011, tr. 494.
  32. ^ Jacobs 2004, tr. 189.
  33. ^ Bankston 2020.
  34. ^ Haseman 1976, tr. 373.
  35. ^ Vo-Duy 2020, tr. 3.
  36. ^ Haseman 1976, tr. 374.
  37. ^ a b Duong 2011, tr. 525.
  38. ^ a b Bourdeaux 2018, tr. 585–586.
  39. ^ Dommen 2001, tr. 61.
  40. ^ Chapman 2010, tr. 42.
  41. ^ Buttinger 1967, tr. 255–257.
  42. ^ a b Moise 1988, tr. 17.
  43. ^ Buttinger 1967, tr. 255.
  44. ^ Karnow 1997, tr. 158–159.
  45. ^ Bradley 2009, tr. 32–33.
  46. ^ Buttinger 1967, tr. 265.
  47. ^ Haseman 1976, tr. 373–375.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]