Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ, tứ phủ xuất hiện khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam, phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.[1] Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến.[2]

Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” tại 21 tỉnh thành của Việt Nam (các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra và thành phố Hồ Chí Minh)[3] đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Lễ đón bằng UNESCO ghi danh "Cử hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã diễn ra vào ngày 2/4/2017.[4]

Điện thờ Liễu Hạnh Công chúa trong Phủ Tây Hồ.

Các ghi chép[sửa | sửa mã nguồn]

Những tài liệu văn bản ghi chép về các Thánh Mẫu thường xuất phát từ thần thoại, huyền thoại, truyện kể dân gian và đồng thời cũng có hiện tượng ngược lại là huyền thoại hóa, dân gian hóa các văn bản thần thần tích, thần phả. Các truyện kể dân gian về 3 vị thánh mẫu: Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải lưu truyền trong dân gian khá phong phú, sau này một số được ghi chép lại trong các sách cổ như Việt điện u linh, ngoài ra còn có các truyện kể dân gian khác về các vị nữ thần được các sách sau này tập hợp và ghi chép lại.

Cùng với việc sưu tầm, một số tác giả là các trí thức nho học thời phong kiến đã tiến hành ghi chép lại và sáng tác thêm những huyền thoại, truyền thuyết đã được sưu tầm ghi chép từ trước và thậm chí là sáng tác thêm cho phù hợp tư tưởng lễ giáo thời kỳ đó. Từ thời Hậu Lê, đã có những việc như vậy nhằm phục vụ cho việc phong thần của các vị vua với hai trường hợp điển hình với các ghi chép-sáng tác về Thánh Mẫu Liễu Hạnhmiền bắc Việt Nam của Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm và trường hợp thứ hai là về Thiên Y A Nanam Trung Bộ Việt Nam của Phan Thanh Giản. Cũng có một nguồn tư liệu khác được dân gian sáng tác từ các huyền thoại, truyền thuyết và thậm chí là các truyện, thơ về các Thánh Mẫu. Đó là các bài hát văn ở Mẫu Tam phủ Tứ phủ với phần cốt lõi của các bài hát văn là lai lịch, sự tích các vị thần, nhất là các Thánh Mẫu.

Các công trình nghiên cứu đầu tiên về Nữ thần, Mẫu thần ở Việt Nam đều là các công trình của các nhà khoa học người Pháp như Parmenties, Maspero, Durand, Simond và kế tiếp là các nhà khoa học người Việt như Nguyễn Văn Huyên, Đào Thái Bình,...

Từ thập niên 1990, nhất là sau hội thảo quốc gia về Thánh Mẫu do Viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu (Hà Nội), không khí học thuật liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung diễn ra sôi động, hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên cứu đã được công bố.

Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thống hóa được việc tôn thờ Mẫu ở Việt Nam trên cả phương diện đồng đại và lịch đại. Về phương diện lịch đại, tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển trên cái nền thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ Tứ phủ. Tới thế kỷ XVII-XVIII, khi mẫu Tam phủ Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần.

Về phương diện đồng đại, đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vào phương nam trong quá trình nam tiến. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khmer, người Lào từ đó tạo nên các dạng thức địa phương của Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam ở ba miền Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ.[5]

Các dạng thức thờ Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Thờ Mẫu ở Bắc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Thánh Mẫu ở Đông Hưng, Thái Bình thờ 1 hoàng hậu nhà Đinh

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ XV trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Quốc Mẫu Tây Thiên, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương, Đinh Triều Quốc Mẫu...

Từ khoảng thế kỷ XV trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện các nhân vật như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Cô Đôi Thượng Ngàn,... với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo

Thờ Mẫu ở Trung Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực nam Trung bộ, đặc trưng cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần. Hình thức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Thánh Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar

Thờ Mẫu ở Nam bộ[sửa | sửa mã nguồn]

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,...và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,...

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, hình thành và phát triển mạnh mẽ, các vị thần trong điện thần tam phủ có nguồn gốc không chỉ của người Kinh, mà còn của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam như người Mường, Tày, Nùng, Dao, v.v. Về cơ bản Đạo Mẫu tự có một hệ thống thần linh đông đảo, và các tín đồ thường chỉ tập trung thờ tự và sinh hoạt tín ngưỡng xoay quanh các vị này, chủ chốt và cao nhất là Tam Tòa Thánh Mẫu, rồi thấp dần là các hàng Quan lớn, Chầu bà, Ông Hoàng, Cô và Cậu, Ngũ Hổ và Ông Lốt,... và cả các thần linh địa phương như một số Chúa bà, Cô bé,... Danh sách các vị thần gồm:

  • Tam tòa thánh mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải
  • Hàng Quan: Quan đệ nhất thượng Thiên, Quan đệ nhị giám sát thượng ngàn, Quan đệ Tam Thoải Cung, Quan đệ Tứ khâm sai, Quan đệ ngũ Tuần tranh, Ngoài ra còn có Quan lớn Điều Thất, Quan Hoàng Triệu Tường. Các vị Quan hay được hầu là Quan đệ Nhất, Quan đệ Nhị, Quan đệ Tam, Quan đệ Ngũ
  • Hàng Chầu bà: Chầu đệ nhất thượng thiên, Chầu đệ nhị thượng ngàn, Chầu đệ tam thoải cung, Chầu đệ tứ khâm sai, Chầu năm suối Lân, Chầu Lục cung nương, Chầu Bảy Kim Giao (Chầu Bảy Tân La), Chầu Bát Nàn Đại Tướng Đông Nhung, Chầu Cửu Sòng Sơn, Chầu Mười Đồng Mỏ, Chầu Bé Bắc Lệ. Các vị Chầu phổ biến hay hầu bóng gồm Chầu đệ nhị, Chầu Lục, Chầu Bát, Chầu Mười, Chầu bé. Ngoài ra còn một số vị Chầu khác cũng có hát văn, nhưng về cơ bản ít được hầu bóng, hoặc là chỉ ở một địa phương.
  • Hàng ông Hoàng: Hoàng Cả, Hoàng đôi Bảo Hà, Hoàng Bơ Thoải Quốc, Hoàng Tư, Hoàng Năm, Hoàng Lục Thanh Hà, Hoàng Bảy Bảo Hà, Hoàng Bát Bắc Quốc, Hoàng Chín Cờn Môn, Hoàng Mười Nghệ An. Các giá Hoàng thường ngự đồng là Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười
  • Hàng Cô - Cậu: Cô Nhất Thượng Thiên, Cô đôi thượng ngàn, Cô đôi Cam Đường, cô Bơ thoải cung, cô Tư Ỷ La, cô Năm Suối Lân, cô Sáu sơn trang, cô Bảy Kim Giao (Cô Bảy Tân La), cô Tám đồi chè, Cô Chín Sòng Sơn, Cô Mười Mỏ Ba, Hội đồng các cô Bé: cô Bé thượng ngàn, cô Bé Đông Cuông, cô Bé Suối Ngang,... Cậu Cả, Cậu Đôi, cậu Bơ, Cậu hoàng bé bản đền, Cậu Bé Đồi Ngang
  • Hàng Ngũ Hổ ông Lốt: Tức là năm ông hổ tượng trưng ngũ hành, và Lốt (Thuồng Luồng)

Ngoài ra cũng có nhiều vị khác được hát văn ca ngợi, và có hầu một số vị Chúa bà như Chúa Thác Bờ (vị này thường hay được hầu thay cho Chầu đệ Tam vì Chầu đệ Tam ít về đồng), Chúa Tây Thiên, Chúa Nguyệt Hồ, Chúa Lâm Thao,... và một vị chúa tượng trưng cho người cai quản sơn trang là Chúa Sơn trang, các vị tướng sơn trang, quan văn võ, các cô hầu,..

Các thần linh kể trên là các thần linh phổ biến nhất, được đông đảo con nhang đệ tử của Đạo Mẫu công nhận thờ phụng, ngoài ra còn một số vị khác ở địa phương, cũng được đưa vào hầu bóng, thường là các Cô bé. Tuy nhiên, hoạt động này có nhiều bừa bãi, khi mà nhiều ông đồng bà đồng " bịa" thêm vị thánh nào đó để hầu, hay có người hầu cả Ngọc Hoàng,.., gây phản cảm và méo mó đạo Mẫu

Phạm vi di sản phi vật thể[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt ở 21 tỉnh thành phía Bắc Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 21 tỉnh có tín ngưỡng thờ mẫu trong hồ sơ đề cử UNESCO là: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Phú Thọ, Lạng Sơn, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên HuếThành phố Hồ Chí Minh.

Dưới đây là các trung tâm thờ mẫu tiêu biểu:

  • Hà Nội: có 1014 di tích thờ Mẫu và 886 điện tư gia,[6] tiêu biểu như: Phủ Tây Hồ, Đền Quan Tam Phủ, đền Rừng, đền Lừ, đền An Thọ, đền Bà Kiệu, đền Liên Hoa, Đền Sét…
  • Ninh Bình: có 415 di tích lịch sử văn hóa thờ và phối thờ Mẫu,[7] tiêu biểu như: Đền Dâu, đền Quán Cháo, phủ Đồi Ngang, phủ Sòng Xanh, phủ Châu Sơn, đền Cô Đôi Thượng Ngàn, đền Vân Thị, đền Sầy, chùa Bái Đính cổ, đền Quèn Thạch, đền Thung Lá, đền Mẫu Thượng...
  • Nam Định: có 352 di tích lịch sử - văn hoá thờ và phối thờ Mẫu; trong đó có 220 phủ, 16 miếu, 72 chùa phối thờ, 44 đền, đình thờ chung với thành hoàng làng,[8] tiêu biểu như Phủ Dầy (huyện Vụ Bản), Phủ Quảng Cung (Xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), Phủ Nấp.
  • Hà Nam: có 185 di tích thờ Mẫu,[9] tiêu biểu như: Đền Lảnh Giang (Duy Tiên), đền Trần Thương, đền Bà Vũ, đền Mẫu Cửu Tỉnh, miếu Bà Đặng Xá, miếu Bóng Bà.
  • Thái Bình: Đền Tiên La thờ Chầu Bát, Đền Đồng Bằng thờ Vua Cha Bát Hải, Đền Hưng Long thờ Quan Hoàng Bơ, Đền Thánh Mẫu thờ Đinh Triều Hoàng Hậu.
  • Hải Dương: Di tích đền Đoan; đền thờ quan Tam phủ, đền Mẫu The, đền mẫu Kinh Câu và đền Mẫu Sinh,...
  • Hưng Yên: Đền Mẫu Hưng Yên, đền Thiên Hậu, đền Ghênh Văn Lâm, đền Bảo Châu.
  • Hải Phòng: Đền thờ quan Đệ tứ, Đền An Đà, các di tích thờ Lê Chân.
  • Vĩnh Phúc: có 60 điểm tín ngưỡng thờ Mẫu như: Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên,Chúa bà đệ nhất Tây Thiên-Đại Đình -Tam Đảo, Đền Chân Suối, Đền bà chúa thượng ngàn, Đền chúa Mán -Đông Hội, Đền Thanh Lanh.
  • Bắc Giang: Đền Suối Mỡ, đền Nguyệt Hồ, đền Từ Mận, đền Đà Hy, đền Phủ.
  • Phú Thọ: Đền Tam Giang, Đền thờ Tam tòa Thánh Mẫu.
  • Lạng Sơn: Đền Mẫu Sơn, đền Bắc Lệ, đền Mẫu Đồng Đăng, đền Mẫu Thượng Ngàn.
  • Hòa Bình: Đền Bồng Lai, đền Mẫu Thác Bờ,
  • Lào Cai: Đền thờ ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà, đền Cô Tân An.
  • Yên Bái: Đền Đông Cuông, đền Tuần Quán.
  • Tuyên Quang: đền Ghềnh Quýt, đền Pha Lô, đền Đồng Xuân, đền Cảnh Xanh, đền Mẫu Ỷ La, đền Lương Quán, đền Mỏ Than, đền Lâm Sơn, đền Quang Kiều, đền Cấm, đền Ba Khuôn và đền Minh Lương.
  • Thanh Hóa: Đền Sòng Sơn, đền Rồng, đền Nước,...
  • Nghệ An: Đền thờ ông Hoàng Mười, đền Hồng Sơn, đền Cửa, đền Ngọc Điền, đền Pu Nhạ Thầu.
  • Hà Tĩnh: Đền thờ ông Hoàng Mười, đền Nước Lạt, Miếu Chai (Thạch Đài), đền Văn Sơn (Thạch Đỉnh).
  • Thừa Thiên Huế: Điện Hòn Chén.
  • Thành phố Hồ Chí Minh: Đền Mẫu, đền Đằng Giang, đền Chầu Lục.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]