Tứ phủ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng (四府公同) hay Tứ phủ Vạn Linh (四府 萬 靈) là một khái niệm có quan hệ biện chứng mật thiết với tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam.

Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): Mẫu Đệ Nhất (Mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp. Thần chủ đứng đầu trong Tứ Phủ.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): Mẫu Đệ Nhị (Mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): (Mẫu Địa) quản lý vùng đất đai, cõi nhân gian.

Các vị thần khâm sai của tứ phủ được thờ tại hầu hết các đền, phủ, chùa chiềnmiền Bắc Việt Nam. Khi phát triển về miền Trung được giao thoa phối thờ tại điện Hòn ChénHuế cùng với Mẫu Thiên Y A Na (nguyên là một nữ thần của người Chăm của đạo Bà La Môn, được nhập vào hệ thống Tứ Phủ và thờ làm Mẫu Thiên Phủ [1]).

Trong khi đó, nhiều tài liệu ở miền Bắc đều khẳng định: Mẫu Thiên Phủ là Liễu Hạnh Công chúa.

Tam phủ và Tứ phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ phủ là khái niệm thường được đi liền với khái niệm tam phủ - hệ thống ba vị mẫu đệ nhất, đệ nhị và đệ tam (Thiên - Địa - Thoải), còn gọi là Tam phủ Công Đồng.

Từ thời vua Lê Lợi mới ghép thêm phái Thanh Sơn vào hệ thống thờ thần linh tam phủ, hình thành hệ thống tứ phủ (Thiên - Địa - Thoải -Nhạc). Tuy nhiên, do các tín ngưỡng Việt Nam hầu như chỉ được gìn giữ từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền khẩu mà không có tài liệu rõ ràng và ít được nghiên cứu. Do đó có sự đa dạng tùy theo từng vùng, và được giải thích theo nhiều hướng khác nhau.

Hệ thống thần linh Tứ Phủ (Tứ Phủ Vạn Linh)[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ Phủ Thần Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên
Tranh vẽ Mẫu Thượng Thiên trong trang phục nhà Lê thuộc dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.

Quan niệm phổ biến trong nhánh Tứ Phủ của Đạo Mẫu cho rằng Mẫu Liễu Hạnh chính là Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên, hoặc đang đại diện Mẫu Thiên Tiên trên cõi hạ giới.

Mẫu Liễu Hạnh đang đại diện cho Mẫu Thiên Tiên trên cõi hạ giới.Mẫu thường mặc áo đỏ và ngồi ở chính giữa.

Ngoài ra, mẫu còn có danh hiệu là Bán Thiên Công Chúa (Mẫu Bán Thiên). Hầu hết các đền phủ hay điện thờ tại gia đều có ban thờ Mẫu Bán Thiên ngoài trời. Mẫu Đệ Nhất được thờ tại Phủ Tây Hồ, phủ Tiên Hương,... Mẫu Đệ Nhất thường bị lầm tưởng với Mẫu Cửu Trùng Thiên( Ba Vì). Cửu Trùng Thiên có nghĩa là chín tầng trời, ý chỉ khắp cõi trời đất nơi Mẫu Thượng Thiên cai quản chốn tiên cung, thượng giới. Người đứng đầu Đạo Mẫu, có quyền hành quản lý toàn bộ hệ thống Tứ Phủ.

  • Mẫu Thượng Ngàn


Mẫu Thượng Ngàn cai quản miền núi cao, rừng sâu, xuất phát từ hình ảnh Bà Chúa Thượng Ngàn của trong tín ngưỡng của các dân tộc miền núi.

  • Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ

Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ cai quản miền biển, đặc biệt là các con sông lớn, các vùng biển

  • Mẫu Địa

Mẫu Địa trong Tứ Phủ chính là Mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ của Tứ Phủ. Ngài cai quản tất thảy miền đất nhân gian. (Khác Mẫu Địa Phủ cai quản địa ngục)

Cần lưu ý rõ rằng Mẫu Địa Tiên không phải Địa Mẫu hay Phật Mẫu Diêu Trì trong các tín ngưỡng khác, như nhiều người hay nhầm lẫn.

Ngũ Vị Tôn Quan (hàng Quan Lớn)[sửa | sửa mã nguồn]

Bức trướng ở miếu thờ Đức Thánh Cả tại Mỹ Đình, Hà Nội
  • Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên

– Tên đầy đủ: Đệ Nhất Thượng Thiên Hoàng thái tử Vương Quan

– Tước phong: Phong danh hiệu: Dân gian gọi là Đức Thánh Cả, là Tôn quan đệ nhất. Tước phong Đào tiên đệ nhất – Điều thất hoàng thái tử Vương Quan thượng đẳng tối linh thần. Danh hiệu vua phong Tham nghị triều chính Vương Quan.

– Nhiệm vụ: Ngài trực tiếp hầu cận bên phải đền vua cha Bát Hải Động Đình (đền Đồng Bằng) thay quyền và đại diện cõi nhân gian, thừa hành Tam giới, tâu đối tội phúc nhân danh cõi thượng thiên (trên trời).

– Đền thờ chính: Ở quần thể đền Đồng Bằng.

– Thân thế: Vốn là con trai cả của đức vua cha Bát Hải Động Đình, được gọi là ông Lớn, cai quản Thượng Thiên. Tương truyền, ông là Tôn quan đại thần trên Đế Đình Thiên Cung.

  • Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Giám Sát

– Tước phong: Nhạc thần đại vương – Đô đài giám sát – Đệ nhị thượng ngàn giám sát đại vương thượng đẳng tối linh thần.

– Nhiệm vụ: giám sát quản cai Sơn Lâm, Thượng Ngàn

– Đền thờ chính: Đền Quan Giám – Hữu Lũng – Lạng Sơn và Phố Cát – Thanh Hóa.

– Thân thế: Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn. Hay còn gọi là Quan Đệ Nhị Giám Sát (có một số người gọi là Quan Thanh Tra Giám Sát). Quan lớn vốn là con trai thứ hai của Vua Cha Bát Hải Động Đình.

  • Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ

– Tên đầy đủ: Đệ Tam Thượng thiên hoàng thái tử vương quan

– Tước phong: Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương thượng đẳng tối linh thần.

– Nhiệm vụ: cai quản các thanh đồng đạo quan

– Đền thờ chính: Quan Lớn Đệ Tam được lập tại Đền Xích Đằng, đền Lảnh Giang, đền Quan Đệ Tam ở gần Đền Đồng Bằng, Đền Quan Lớn Phủ Dầy.

– Thân thế: Theo thần tích lưu trữ tại đền Lảnh Giang

  • Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai

– Tên đầy đủ: Quan lớn Khâm Sai quyền cai tứ phủ

– Tước phong:Thiên Hựu đại vương thượng đẳng tối linh thần.

– Nhiệm vụ: trấn giữ đồng bằng địa linh và không giáng trần.

– Đền thờ chính: Đền thờ Ngài ở đền Mẫu Sinh và đền Thánh Hóa. Đền thờ Ngài còn ở sau đền Đồng Bằng phía đường 10 đi Hải Phòng.

– Thân thế: Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai là quan lớn đứng hàng thứ tư trong Ngũ vị Tôn Ông, Ngự trên Thiên Đình, biên chép sổ sách sinh tử cùng với Nam Tào, Bắc Đẩu.

  • Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh

– Tên đầy đủ: Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh

– Tước phong: Đệ ngũ tôn quan thượng đẳng tối linh thần – Cao Lỗ đại vương – Đệ ngũ Tuần Tranh.

– Nhiệm vụ: Ngọc Hoàng ban cho Ngài thống lĩnh thiên địa binh, thay quyền tam tứ phủ đại diện cho con người (nhân vi chúa tể), thu chấp kim ngân tài mã, giải oan nghiệp sớ cho trần gian.

– Đề thờ chính: Đền Ngài được lập ở đền Kỳ cùng Lạng Sơn, Đền Ninh Giang Hải dương và các cửa sông vùng duyên hải.

– Thân thế: Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh, hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh

Lục Phủ Tôn Quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quan Lớn Đệ Lục

Thượng Đẳng Tối Linh Thần ( 上等最靈神 )

  • Quan Lớn Đệ Thất Đào Tiên

Quan lớn Điều Thất: Còn gọi là Quan Điều Đào Tiên, ngài là thủ phủ đền Đồng Bằng, là con trai thứ bảy của Đức Vua Cha Bát Hải. Ngài là vị văn quan được giao nhiệm vụ biên sổ, coi giữ kho tàng ở Thủy cung, trông coi nội điện của Vua Cha.

Khi xưa Ngài theo đức Vua Cha phù giúp Hùng Vương đánh giặc, khi hoàn thành nhiệm vụ Ngài liền hóa ngay. Quan Điều Thất không giáng trần nhưng Ngài vẫn thường hiển linh phù giúp dân nước nên nhân dân lập đền thờ, các triều đại có sắc phong, Đền Ngài là đền Công Đồng (hay còn gọi là đền Quan Điều Thất) ở Thái Bình gần đền Đức Vua Cha Bát Hải.

  • Quan Lớn Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm

Là Quan lớn thứ tám nhưng ít ai biết đến Ngài. Ngài được coi sóc nội phủ của Vua Cha Nhạc phủ.

Hiện thân là một nhân vật lịch sử xuất hiện khá muộn, là danh tướng và nhà khai khẩn thời Nguyễn. Ngài tên là Thạch Duồng (Duông) người Khơ me Trà Vinh, dưới thờ chúa Nguyễn Phúc Khoát.


Thời trẻ Ngài được xung vào làm gia thân cho phủ Chúa Nguyễn, Chúa Nguyễn thương lắm nên cho họ Chúa, đặt tên là Nguyễn Văn Tồn. Ngài cùng Nguyễn Ánh bình định Thiên hạ. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Ngài được trao phó làm Trưởng quản thủy quân và trấn giữ luôn hai vùng Trà Vinh và Mân Thít, giúp dân khai khẩn đất hoang, cấy cầy làm lụng,

  • Quan Lớn Đệ Cửu

Quan lớn Bắc Quốc: Quan Bắc Quốc là người Trung Quốc họ Tống, ông sinh vào cuối thời nhà Minh đầu thời nhà Thanh.

Khi nhà Thanh cướp ngôi của nhà Minh, Ngài theo phong trào “Phản Thanh phục Minh”. Khi phong trào này bị dập tắt, Ngài chạy sang vùng Lào Cai Bảo Hà cùng quân dân Đại Việt đánh giặc Thanh.


Theo như Thần tích thì Ngài là con trai thứ 8 của Vua Cha Bát Hải giáng sinh bên Tàu nhưng lại về Việt Nam phù dân cứu quốc.

Ông được thờ ở đền Trình Vua Cha Bát Hải. Khi ngự đồng ông mặc áo dài kiểu Tầu, tóc búi tó. Ông cũng rất ít khi giáng đồng.

  • Quan Lớn Đệ Thập Triệu Tường

Ngài tên thật là Nguyễn Hoàng, người làng Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hóa. Sinh ngày Bính Dần, tháng 8 năm Ất Dậu. Cha Ngài là Nguyễn Kim người có công lập Lê Trang Tông khởi đầu của nhà Lê Trung Hưng.

Khi triều đình rối ren, anh trai bị hãm hại, thấy tình hình vậy cùng với tài trí nhìn nhận, Ngài mới nói với Trịnh Kiểm xin Vua Lê cho Ngài vào trấn thủ vùng Thuận Hóa. Vua đồng ý, về Thuận hóa Ngài chiêu binh mộ sĩ, vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, giảm thuế giảm sưu, dân chúng ai cũng mến phục.

Vua Lê phong cho làm Thái Úy Đoan Quốc công, Ngài còn giúp nhà Lê đánh đuổi nhà Mạc lên tận Cao Bằng. Ngài và các thế hệ con cháu của mình đã liên tục mở rộng bờ cõi về phương Nam.

Các vị Quan hay được hầu là Quan Đệ Nhất, Quan Đệ Nhị, Quan Đệ Tam, Quan Đệ Tứ, Quan Đệ Ngũ

Tứ Phủ Thánh Bà (hàng Chầu Bà)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (Quế Hoa Công Chúa)
Tranh vẽ Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.
  • Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn (Đông Quang Công Chúa)
Tranh vẽ Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.
  • Chầu Đệ Tam Thoải Phủ
  • Chầu Đệ Tứ Khâm Sai (Chiêu Dung Công Chúa)
  • Chầu Năm Suối Lân (Suối Lân Công Chúa)
  • Chầu Lục Cung Nương (Lục Cung Công Chúa )
  • Chầu Bảy Kim Giao ( Mỏ Bạch Công Chúa )
  • Chầu Bát Nàn (Chầu Bát Đông Cuông, Chầu Bát Mỏ Ba)
  • Chầu Chín Cửu Tỉnh (Quỳnh Hoa Công Chúa)
  • Chầu Mười Đồng Mỏ (Mỏ Ba Công Chúa)
  • Chầu Bé Bắc Lệ (Bắc Lệ Công Chúa)
  • Chầu Bản Đền, Bản Cảnh

Các vị Chầu phổ biến hay hầu bóng gồm Chầu đệ Nhị, Chầu Năm, Chầu Lục, Chầu Mười, Chầu Bé. Ngoài ra có người hầu giá Chúa Thác Bờ sau giá Chầu Đệ Tam. Cũng có người hầu giá Chầu Bát Nàn (còn gọi là Chầu Bát Tiên La, Chầu Bát Thái Bình, tức bà Vũ Thị Thục - nữ tướng của Hai Bà Trưng) thay cho giá Chầu Bát Ngàn.

Tứ Phủ Thánh Hoàng (hàng Ông Hoàng)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông Hoàng Cả
  • Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn
  • Ông Hoàng Bơ Thoải Phủ
  • Ông Hoàng Tư Địa Phủ
  • Ông Hoàng Năm Mán Tộc
  • Ông Hoàng Sáu Thanh Hà
  • Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
  • Ông Hoàng Bát Nùng
  • Ông Hoàng Chín Cờn Môn
  • Ông Hoàng Mười Nghệ An

Ngoài ra còn có ông Hoàng Báo Đông Cuông, ông Hoàng Bắc Quốc, ông Chín Thượng Ngàn

Tứ Phủ Thánh Cô (hàng Cô)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cô Cả Thượng Thiên
Tranh vẽ Cô Đệ Nhất Thượng Thiên trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.
  • Cô Bơ Thoải Cung (Cô Bơ Hàn Sơn, Cô Bơ Bông)
  • Cô Tư Địa Phủ (Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ)
  • Cô Năm Suối Lân
  • Cô Sáu Sơn Trang
  • Cô Bảy Kim Giao (Cô Bảy Mỏ Bạch, Cô Bảy Tân La)
  • Cô Tám Đồi Chè
  • Cô Chín Cửu Tỉnh (Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín Giếng)
  • Cô Mười Đồng Mỏ (Cô Mười Mỏ Ba)
  • Cô Bé Thượng Ngàn
  • Cô Bé Thủy Cung

Trong 12 vị Thánh Cô thì có 4 vị thánh cô thường xuyên ngự đồng là:

  • Cô Đôi Thượng Ngàn
  • Cô Bơ Thoải
  • Cô Chín Sòng Sơn
  • Cô Bé Đông Cuông

Các cô ngoài hàng Thập Nhị Thánh Cô nhưng hiển ứng linh thông nên các thanh đồng hay kiều về như Đôi Cô Cam Đường.

Thập Nhị Bộ Tiên Nàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra trong khoa cúng còn nhắc tới 12 Thánh Cô Sơn Trang (các cô ít khi ngự đồng):

  • Cô Cả Núi Dùm
  • Cô Đôi
  • Cô Ba Tam Kỳ
  • Cô Tư
  • Cô Năm Suối Lân
  • Cô Sáu Đồi Ngang
  • Cô Bảy Tân An
  • Cô Tám Đồi Chè
  • Cô Chín Giếng
  • Cô Mười Đồng Mỏ
  • Cô Mười Một Đồng Nhân
  • Cô Mười Hai Bắc Lệ

Tứ Phủ Thánh Cậu (hàng Cậu)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cậu Hoàng Cả (cậu Quận Phủ Dày)
  • Cậu Hoàng Đôi (cậu Quận Đồi Ngang)
  • Cậu Hoàng Bơ Thoải Phủ
  • Cậu Hoàng Tư Địa Phủ
  • Cậu bé bản đền

Ngoài ra còn có cậu bé Lệch ở gần đền Trần

Hàng Quan Ngũ Hổ, Ông Lốt[sửa | sửa mã nguồn]

Tức là năm ông hổ tượng trưng ngũ hành và ông lốt (mãng xà).

Trong quan niệm dân gian hổ là vị chúa cai quản rừng núi, hình tượng hổ biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, diệt trừ tà ma, trấn giữ các phương.

Quan Ngũ Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Ngũ Hổ gồm 05 vị là:

  1. Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan
  2. Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Xích Hổ Thần Quan
  3. Trung ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan
  4. Tây Phương Canh Tân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan
  5. Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Hắc Hổ Thần Quan

Quan Hổ được vẽ 5 ông hổ màu sắc khác nhau, tương ứng với Ngũ hành "kim, mộc, thủy, hỏa, thổ":

  • Hoàng hổ (màu vàng) trấn khu trung tâm (địa khu)
  • Hắc hổ (màu đen) trấn phương bắc (thủy khu)
  • Bạch hổ (màu trắng) trấn phương tây (kim khu)
  • Xích hổ (màu đỏ) trấn phương nam (hỏa khu)
  • Thanh hổ (màu xanh) trấn phương đông (mộc khu)
Ông Lốt[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Xà Đại tướng Quân

Bạch Xà Đại tướng Quân

Ngoài ra cũng có nhiều vị khác được hát văn ca ngợi, và có hầu một số vị Chúa bà như Chúa Thác Bờ ,Chúa Tây Thiên, Chúa Nguyệt Hồ, Chúa Lâm Thao, Chúa Ngũ Phương, Chúa Ba Nàng, Chúa Bạch Hạc Xuân Nương,.. Các bà Chúa bản cảnh này quyền cai một vùng địa phương.

Các Thánh miền Thượng Ngàn chia làm Sơn Lâm Bộ (rừng cây trên núi cao), Sơn Trang Bộ (thung lũng có điều kiện để sinh sống), Sơn Tinh Bộ (hệ thống các thần rừng), chia ra cai quản Thượng Ngàn trên hết là Tam Vị trưởng quản sơn lâm (Bạch Anh Trưởng Sơn Lâm Công Chúa, Diệu Tín Thiền Sư, Diệu Nghĩa Thiền Sư), dưới có bát bộ sơn trang là 8 họ sơn trang lớn trấn giữ các vùng trọng yếu và 12 cô kề cận Mẫu thượng ngàn cai quảng khắp các cửa rừng cửa bể, dưới các vị tướng sơn trang, quan văn võ, các cô hầu.

Các thần linh kể trên là các thần linh phổ biến nhất, được đông đảo con nhang đệ tử công nhận thờ phụng, ngoài ra còn một số vị khác ở địa phương, cũng được đưa vào hầu bóng. Tuy nhiên, hoạt động này có nhiều bừa bãi, khi mà nhiều ông đồng bà đồng "bịa" thêm vị thánh nào đó để hầu, hay có người hầu cả Ngọc Hoàng... gây phản cảm và méo mó đạo Mẫu.

Kinh thư Đạo Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hội Dân tộc học Việt Nam, Tạp chí Tin tức-Sự Kiện, Tiểu vùng văn hoá xứ Quảng - Tiếp theo số 5/2004 (Số 6/2004)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]