Tứ phủ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tứ phủ công đồng (四府公同) hay Tứ phủ Vạn Linh (四府 萬 靈) là một khái niệm có quan hệ biện chứng mật thiết với tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam.

Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): Mẫu Đệ Nhất (Mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp. Thần chủ đứng đầu trong Tứ Phủ.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): Mẫu Đệ Nhị (Mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): (Mẫu Địa) quản lý vùng đất đai, cõi nhân gian.

Các vị thần khâm sai của tứ phủ được thờ tại hầu hết các đền, phủ, chùa chiềnmiền Bắc Việt Nam. Khi phát triển về miền Trung được giao thoa phối thờ tại điện Hòn ChénHuế cùng với Mẫu Thiên Y A Na (nguyên là một nữ thần của người Chăm của đạo Bà La Môn, được nhập vào hệ thống Tứ Phủ và thờ làm Mẫu Thiên Phủ [1]).

Trong khi đó, nhiều tài liệu ở miền Bắc đều khẳng định: Mẫu Thiên Phủ là Liễu Hạnh Công chúa.

Tam phủ và Tứ phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ phủ là khái niệm thường được đi liền với khái niệm tam phủ - hệ thống ba vị mẫu đệ nhất, đệ nhị và đệ tam (Thiên - Địa - Thoải), còn gọi là Tam phủ Công Đồng.

Từ thời vua Lê Lợi mới ghép thêm phái Thanh Sơn vào hệ thống thờ thần linh tam phủ, hình thành hệ thống tứ phủ (Thiên - Địa - Thoải -Nhạc). Tuy nhiên, do các tín ngưỡng Việt Nam hầu như chỉ được gìn giữ từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền khẩu mà không có tài liệu rõ ràng và ít được nghiên cứu. Do đó có sự đa dạng tùy theo từng vùng, và được giải thích theo nhiều hướng khác nhau.

Hệ thống thần linh Tứ Phủ (Tứ Phủ Vạn Linh)[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ Phủ Thần Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên
Tranh vẽ Mẫu Thượng Thiên trong trang phục nhà Lê thuộc dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.

Quan niệm phổ biến trong nhánh Tứ Phủ của Đạo Mẫu cho rằng Mẫu Liễu Hạnh chính là Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên, hoặc đang đại diện Mẫu Thiên Tiên trên cõi hạ giới.

Mẫu Liễu Hạnh đang đại diện cho Mẫu Thiên Tiên trên cõi hạ giới.Mẫu thường mặc áo đỏ và ngồi ở chính giữa.

Ngoài ra, mẫu còn có danh hiệu là Bán Thiên Công Chúa (Mẫu Bán Thiên). Hầu hết các đền phủ hay điện thờ tại gia đều có ban thờ Mẫu Bán Thiên ngoài trời. Mẫu Đệ Nhất được thờ tại Phủ Tây Hồ, phủ Tiên Hương,... Mẫu Đệ Nhất thường bị lầm tưởng với Mẫu Cửu Trùng Thiên( Ba Vì). Cửu Trùng Thiên có nghĩa là chín tầng trời, ý chỉ khắp cõi trời đất nơi Mẫu Thượng Thiên cai quản chốn tiên cung, thượng giới. Người đứng đầu Đạo Mẫu, có quyền hành quản lý toàn bộ hệ thống Tứ Phủ.

  • Mẫu Thượng Ngàn
Tranh vẽ Mẫu Thượng Ngàn trong trang phục nhà Lê thuộc dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.

Mẫu Thượng Ngàn cai quản miền núi cao, rừng sâu, xuất phát từ hình ảnh Bà Chúa Thượng Ngàn của trong tín ngưỡng của các dân tộc miền núi.

  • Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ

Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ cai quản miền biển, đặc biệt là các con sông lớn, các vùng biển

  • Mẫu Địa

Mẫu Địa trong Tứ Phủ chính là Mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ của Tứ Phủ. Ngài cai quản tất thảy miền đất nhân gian. (Khác Mẫu Địa Phủ cai quản địa ngục)

Cần lưu ý rõ rằng Mẫu Địa Tiên không phải Địa Mẫu hay Phật Mẫu Diêu Trì trong các tín ngưỡng khác, như nhiều người hay nhầm lẫn.

Tam Vị Chúa Mường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thanh Sơn Chính Phái Đệ Nhất Thượng Ngàn sắc phong Lê Mại Đại Vương hiệu viết Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công Chúa
  • Đệ Nhị Thượng Ngàn Cao Sơn Công Chúa Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công Chúa
  • Đệ Tam Thượng Ngàn Sơn Trang Tàng Hình Diệu Nghĩa Thiền Sư Quế Hoa Công Chúa

Ngũ Vị Tôn Quan (hàng Quan Lớn)[sửa | sửa mã nguồn]

Bức trướng ở miếu thờ Đức Thánh Cả tại Mỹ Đình, Hà Nội
  • Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên

– Tên đầy đủ: Đệ Nhất Thượng Thiên Hoàng thái tử Vương Quan

– Tước phong: Phong danh hiệu: Dân gian gọi là Đức Thánh Cả, là Tôn quan đệ nhất. Tước phong Đào tiên đệ nhất – Điều thất hoàng thái tử Vương Quan thượng đẳng tối linh thần. Danh hiệu vua phong Tham nghị triều chính Vương Quan.

– Nhiệm vụ: Ngài trực tiếp hầu cận bên phải đền vua cha Bát Hải Động Đình (đền Đồng Bằng) thay quyền và đại diện cõi nhân gian, thừa hành Tam giới, tâu đối tội phúc nhân danh cõi thượng thiên (trên trời).

– Đền thờ chính: Ở quần thể đền Đồng Bằng.

– Thân thế: Vốn là con trai cả của đức vua cha Bát Hải Động Đình, được gọi là ông Lớn, cai quản Thượng Thiên. Tương truyền, ông là Tôn quan đại thần trên Đế Đình Thiên Cung.

  • Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Giám Sát

– Tước phong: Nhạc thần đại vương – Đô đài giám sát – Đệ nhị thượng ngàn giám sát đại vương thượng đẳng tối linh thần.

– Nhiệm vụ: giám sát quản cai Sơn Lâm, Thượng Ngàn

– Đền thờ chính: Đền Quan Giám – Hữu Lũng – Lạng Sơn và Phố Cát – Thanh Hóa.

– Thân thế: Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn. Hay còn gọi là Quan Đệ Nhị Giám Sát (có một số người gọi là Quan Thanh Tra Giám Sát). Quan lớn vốn là con trai thứ hai của Vua Cha Bát Hải Động Đình.

  • Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ

– Tên đầy đủ: Đệ Tam Thượng thiên hoàng thái tử vương quan

– Tước phong: Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương thượng đẳng tối linh thần.

– Nhiệm vụ: cai quản các thanh đồng đạo quan

– Đền thờ chính: Quan Lớn Đệ Tam được lập tại Đền Xích Đằng, đền Lảnh Giang, đền Quan Đệ Tam ở gần Đền Đồng Bằng, Đền Quan Lớn Phủ Dầy.

– Thân thế: Theo thần tích lưu trữ tại đền Lảnh Giang

  • Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai

– Tên đầy đủ: Quan lớn Khâm Sai quyền cai tứ phủ

– Tước phong:Thiên Hựu đại vương thượng đẳng tối linh thần.

– Nhiệm vụ: trấn giữ đồng bằng địa linh và không giáng trần.

– Đền thờ chính: Đền thờ Ngài ở đền Mẫu Sinh và đền Thánh Hóa. Đền thờ Ngài còn ở sau đền Đồng Bằng phía đường 10 đi Hải Phòng.

– Thân thế: Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai là quan lớn đứng hàng thứ tư trong Ngũ vị Tôn Ông, Ngự trên Thiên Đình, biên chép sổ sách sinh tử cùng với Nam Tào, Bắc Đẩu.

  • Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh

– Tên đầy đủ: Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh

– Tước phong: Đệ ngũ tôn quan thượng đẳng tối linh thần – Cao Lỗ đại vương – Đệ ngũ Tuần Tranh.

– Nhiệm vụ: Ngọc Hoàng ban cho Ngài thống lĩnh thiên địa binh, thay quyền tam tứ phủ đại diện cho con người (nhân vi chúa tể), thu chấp kim ngân tài mã, giải oan nghiệp sớ cho trần gian.

– Đề thờ chính: Đền Ngài được lập ở đền Kỳ cùng Lạng Sơn, Đền Ninh Giang Hải dương và các cửa sông vùng duyên hải.

– Thân thế: Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh, hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh

Lục Phủ Tôn Quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quan Lớn Đệ Lục

Sanh tự : 12/04/? Kiếm pháp : Kiếm dài, song kiếm...

Mỹ Nam Quan ( 帅哥泉官 ) , Thượng Đẳng Tối Linh Thần ( 上等冣令神 ) Đứng đầu trong Tứ Linh mang mệnh Long ( Rồng ).

Ngài đã đánh bại nhiều Quỷ Vương và làm Chúa Quỷ...

Quan Đệ Lục trừ tà sát quỷ, hầu hết thời gian ở bên cha và đánh trận. Ngài có thất thập lục ( 76 ) phép thiên cang - địa sát và thập ( 10 ) tuyệt kĩ thiên thất. Ngài là con cả của Quan Lớn Đệ Nhất - Thượng Thiên. Dưới trướng Quan là hàng vạn âm binh tà tướng nhưng quen lối đánh đơn độc nên không mấy khi chiêu hồn quân. Ngài chưa giáng trần lần nào nhưng hiện tại đang đi lịch kiếp hoặc ở ẩn.

TÊN GỌI VÀ TƯỚC HIỆU :

1. Hoa Thành : đây là tên húy của cha mẹ ngài đặt cho.

2. Đế Vương Minh Đạo - Âm Phủ : hiệu khi là bản ngã Quỷ Vương.

3. Độc Long : tên hiệu chính Ngọc Hoàng Đại Đế đặt cho.

4. Mỹ Nam Quan : do có dung mạo soái ca nhất trong hội đồng Quan lớn nên Ngài được mang danh là Mỹ Nam Quan.

5. Quan Đệ Lục : chức Quan.

6. Thượng Đẳng Tối Linh Thần : Thần đứng đầu trong hàng thần.

THẦN THÔNG VÀ PHÉP THUẬT :

Ngài là con cả của Toà Cửu Long ( Nhai Xế ) nhưng do bị phế trưởng lập thứ nên sa đoạ vào bản ngã Quỷ Vương ở Âm Phủ Giới. Ngài đánh bại tất thảy loại cô hồn dã quỷ và Atula Đạo. Thập Điện Diêm Vương phải kính nể vì Ngài cai tụ được Minh Đạo Giới ( giới của quỷ và Atula ). Sau khi được Quan Đệ Nhất thu phục, Ngài buông bỏ chấp niệm và đầu quân cửa Thánh, đồng thời được Quan Đệ Nhất nhận làm con và được Ngọc Hoàng Đại Đế nhận làm cháu. Ngài sở hữu 76 phép thiên cang - địa sát và 10 phép thiên thất ( tổng là 86 phép ). Vũ khí chính của Ngài là kiếm và song kiếm ngoài ra Ngài được Đức Ngọc Hoàng ban tặng Trảo Long ( móng rồng ) của Ngài. Có thể biến ra tất thảy loại vũ khí và thi triển phép tất sát.


76 phép thiên cang - địa sát và 10 phép thiên thất gồm :

1.Xạ Phúc: Nhìn xuyên thấu.

2.Thổ Hành: Chính là phép độn thổ, đi lại trong lòng đất. Tinh Số: Giúp người dùng nhìn thấy trước vận mệnh thông qua việc chiêm tinh.

3.Bố Trận: Đây chính là thuật pháp ngăn cách và xua đuổi yêu quái khỏi giới hạn được đặt ra.

4.Trá Hình: Biến hóa thân thể thành người hoặc vật bất kỳ.

5.Phún Hóa: Dùng phép thuật khiến cho vạn vật biến hóa theo ý muốn.

6.Chỉ Hóa: Dùng ngón tay để biến hóa đồ vật.

7.Thi Giải: Thoát xác trong nháy mắt, chỉ để đồ vật trên người như quần áo, gậy hay kiếm.

8.Đảo Vũ: Ngoài gọi nắng ra thì bộ phép này còn có thể cầu mưa.

9.Tọa Hỏa: Miễn nhiễm với Hoả Thuật

10.Nhập Thủy: Có thể dễ dàng đi lại dưới nước.

11.Yểm Nhật: Câu nói "1 tay che cả bầu trời" là minh họa dễ hiểu nhất đối với phép này.

12.Ngự Phong: Thuật cưỡi gió cưỡi mây.

13. Luyện Thạch: Thuật luyện tiên đan.

14.Thổ Diệm: Thuật phun ra lửa.

15.Thôn Đao: Thuật nuốt đao, nuốt kiếm.

16.Hồ Thiên: Phóng to thu nhỏ đồ vật tùy thích.

17.Lý Thủy: Đi lại trên mặt nước.

18.Phân Thân: Tạo ra nhiều phân thân gây hỗn loạn địch.

19.Ẩn Hình: Nói đơn giản là thuật tàng hình.

20.Định Thân: Điểm huyệt.

21.Trảm Yêu: Pháp thuật này giúp tiêu diệt một số tên yêu ma không có thân thể thực.

22.Thỉnh Thần: Thuật thỉnh mời thần tiên tới giúp, nhưng sử dụng được không phụ thuộc vào tâm tính và tầng thứ của người dùng.

23.Truy Hồn: Thuật pháp giúp dễ dàng nhìn thấy hồn phách của người khác.

24.Nhiếp Phách: Truy đuổi và triệt tiêu tận gốc những kẻ địch nguy hiểm.

25.Chiêu Vân: Gọi mây.

26.Thủ Nguyệt: Bắt mặt trăng.

27.Di Vật: Di chuyển đồ vật bằng ý nghĩ.

28.Huyễn Mộng: Khiến đối phương chìm sâu vào cơn ác mộng.

29.Ký Trượng: Thuật pháp này giúp cho người dùng có thể "ký gửi" nỗi đau lên thân thể người khác hoặc vật khác.

30.Đoạn Lưu: Cắt đứt dòng chảy của sông nước.

31.Nhương Tai: Dùng pháp thuật để đẩy lùi tai ương trước mắt.

32.Giải Ách: Giúp thoát khỏi khó khăn, nguy hiểm đang gặp.

33.Hoàng Bạch: Hóa đá thành vàng.

34.Kiếm Thuật: Có thể sử dụng kiếm thuật một cách thành thạo.

35.Di Cảnh: Thuật ngụy trang, hay còn được coi là tạo ảo giác.

36.Chiêu Lai: Có thể dễ dàng điều khiển vật nào đó đang ở xa bay tới gần.

37.Nhĩ Khứ: Khiến cho đồ vật quay trở lại theo ý muốn.

38.Tụ Thú: Điều khiến các loại dã thú.

39.Điều Cầm: Có thể thuần hóa các loài chim muông.

40.Khí Cấm: Nhịn thở mà vẫn sống được.

41.Đại Lực: Tăng cường sức khỏe, có thể nhấc bổng một vật nặng gấp vạn lần mình.

42.Thấu Thạch: Đi xuyên qua đá.

43.Sinh Quang: Hai mắt có thể phát ra một luồng sáng cực mạnh.

44.Chướng Phục: Thuật luyện nội đan

45.Đạo Dẫn: Chỉ đường dẫn lối chuẩn xác.

46.Phục Thực: Có thể nuốt bất kỳ vật gì vào bụng mà không hề hấn gì cả.

47.Khai Bích: Có thể đi xuyên tường.

48.Dược Nham: Thuật nhảy cao.

49.Manh Đầu: Mọc thêm đầu mới.

50.Đăng Sao: Lấy được đồ vật trong nháy mắt.

51.Há Thủy: Bụng không đáy, uống bao nhiêu nước cũng được.

52.Ngọa Tuyết: Nằm trong tuyết lâu mà không sợ bị lạnh hay chết cóng.

53.Bạo Nhật: Giống như trên nhưng là phơi nắng.

54.Lộng Hoàn: Chuyển cơn ốm và độc thi sang bên cơ thể của mình và tiêu tán.

55.Phù Thủy: Tạo bùa, đốt rồi hòa vào nước, để trị được bệnh.

56.Y Dược: Miễn Nhiễm mọi loại độc

57.Tri Thì: Xác định được thời gian bất kỳ chính xác

58.Lục Giáp Kì Môn: Đây là một chiêu thức thần bí khiến cho người sử dụng có sức mạnh phi thường trong quá trình chiến đấu.

59.Nghịch Tri Vị Lai: Có thể dự đoán trước được những điều sắp xảy ra trong tương lai.

60.Tiên Sơn Dịch Thạch: Khi biết sử dụng thuật pháp này thì việc di chuyển những khối đá to lớn trước mặt chỉ là chuyện nhỏ.

61.Cải Tử Hoàn Sinh: Thuật pháp này để cứu sống những người đang cận kề cái chết hoặc vừa mới chết.

62.Chính Lập Vô Ảnh: Người luyện được thuật pháp này có thể khống chế hơi thở và ẩn giấu cái bóng của mình dưới ánh mặt trời, khiến cho đối phương không thể phát hiện ra ngay cả khi đang đứng bên cạnh.

63.Hàng Long Phục Hổ: Với thuật pháp này, thật quá dễ dàng để đánh bại và hàng phục các loại dã thú hay mãnh thú.

64.Bổ Thiên Dục Nhật: Phép giúp người dùng... gặp may.

65. Thôi Sơn Điền Hải: Người thành thạo thuật pháp này có thể dễ dàng lên núi cao, xuống biển sâu.

66.Hoa Khai Khoảnh Khắc: Thuật pháp này có lẽ rất có ích trong việc tán gái, khi có thể điều khiển vô số cánh hoa rơi dồn hết về phía mình theo mong muốn, tạo ra một khung cảnh lãng mạn như trong tranh.

67.Chưởng Ác Ngũ Lôi: Thuật Ngũ Lôi có nguồn gốc sâu xa và vô cùng phức tạp, là một đòn tấn công có sức công phá cực lớn và không thể cản lại.

68.Phi Sa Tẩu Thạch: Có thể vận dụng thủ pháp này để điều khiển gió, cát và sỏi đá làm vũ khí công kích đối phương ồ ạt.

69.Hiệp Sơn Siêu Hải: Thuật pháp này sẽ giúp người dùng có thể nhẹ nhàng băng qua những ngọn núi cao ngất hay bay qua những đại dương mênh mông.

70.Chiêu Hồn Sư: Triệu hồi hàn ngàn âm binh tà tướng.

71.Đinh Đầu Thất Tiễn: Giống như một lời nguyền, người dùng chỉ cần niệm chú để thu nạp ba hồn bảy vía của đối phương là có thể dễ dàng tước đoạt sinh mệnh của hắn.

72.Oát Toàn Tạo Hóa: Pháp thuật có thể tạo ra thế giới ảo, như trong cõi mộng mà không ai biết mình đang lạc trong đó.

73.Hoạch Giang Thành Lục: Có thể biến một khu vườn hay một dòng sông thành bãi đất trống chỉ trong một tích tắc.

74.Di Tinh Hoán Đẩu: Có thể hoán đổi vạn vật trong vũ trụ cho nhau, từ Thần thánh, con người cho đến các loài thú vật hay quỷ quái, yêu ma.

75.Hoán Vũ Hô Phong: Chỉ cần thích mưa là có, mà thích gió cũng lại có luôn.

76.Thiết Sát: Một chém có thể diệt hàng vạn quỷ hồn.

10 phép thiên thất : 1. Đẩu Ngoạn Du tương đương Cân Đẩu Vân của Tề Thiên Đại Thánh. Cân Đẩu Vân : mỗi lần thi triển có thể cưỡi mây đi tới 10 vạn 8 nghìn dặm ≈ 8000km Đẩu Ngoạn Du : mỗi lần thi triển có thể dịch chuyển tới 12 vạn 5 nghìn dặm ≈ 11800km

2. Đoạ Lạc Quỷ Vương : khi thi triển tuyệt kĩ có thể miễn nhiễm mọi đòn tấn công vật lý từ đối thủ - giảm trừ 70% sát thương phép và ấn trú

3. Hoả Âm Ngục ( Lửa của Địa Ngục ) : lửa này có màu đen. Khi dính phải thì nước thường không thể nào dập tắt, chỉ cần một vài giọt nước trong bình ở tượng thờ Quán Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho nước Cam Lồ mới có thể dập lửa.

4. Thiên Quy Sinh ( Sự hồi sinh của trời ) «Kiếm» : Thanh kiếm này không thể chém những thứ thuộc về Dương Giới và ngược lại ( VD: sứ giả Địa Ngục, con đường của những nhân vật thần thoại dẫn linh hồn người chết xuống âm phủ... ) có thể hồi sinh cho chúng sinh nhưng chỉ có thể dùng một lần trên cùng 1 người

5. Lôi Thiết Trường ( Sét đánh hàng dài ) : Một lần vung kiếm hiện ra một tia sét, sét đánh tới đâu lập tức vạn vật bị phá hủy tới đó.

6. Quỷ Thiết : Tuyệt kĩ này đòi hỏi người thi triển phải có kĩ thuật và tu vi cao về kiếm vũ. Chiêu thức sẽ cản hết nguy hiểm nếu vung ra nhiều nhát đỡ nhanh. Tuyệt kĩ này có thể một chém không hoàn - tuyệt sinh tuyệt lý.

7. Phong Thương Hoàn : Giống như một chiếc Quạt Ba Tiêu nhưng gây sát thương bằng những tinh thể băng và làm lạnh một vùng diện rộng. ( Không thể dập tắt Hoả Âm Ngục )

8. Minh Đạo Môn : ( Đường đến Quỷ Giới - Cõi Atula ) người thi triển phải có một số tu vi nhất định để có thể mở cửa Minh Đạo. Khi tạo ra đủ 6 kết ấn trong 3 giây, ngay lập tức dùng tay xé ngang không khí ắt sẽ có Minh Đạo hiện ra. Minh Đạo này một đi không trở lại.

9. Quỷ Sát : Tuyệt kĩ này chỉ thi triển được khi người thi triển nó là Quỷ Vương hoặc được kế nghiệm. Khi dùng, người thi triển chiêu sẽ biến ảnh cảnh giới cao nhất của mình và sức mạnh gần như là tuyệt đối nhưng khó có thể ngăn họ lại trừ khi họ nhận thức được suy nghĩ của mình.

10. Mạn Nguyệt Luân Đao : Khi chuẩn bị ra chiêu, lùi một đến hai bước. Cầm đao hai tay, dồn lực với khí vào cán và lưỡi đao. Lấy chân làm sức rồi bật lên xoay một vòng thi triển chiêu. Nếu thi triển thành công tuyệt kĩ, đường đao toả lửa, có màu đỏ. Nếu muốn, lưỡi kiếm quét đến đâu có thể bắt lửa đến đấy ( Đường lửa có thể lên đến 3 dặm = 4.82km ) Tuyệt kĩ đòi hỏi người thi triển phải có tu vi cực cao

11. Túc Mệnh Thông : Túc mệnh thông là khả năng nhìn thấy tường tận quá khứ, hiện tại, tương lại của một cá nhân, thậm chí là cả một triều đại, một giai đoạn lịch sử. Túc mệnh thông là bản năng đặc biệt, sẵn có của một số người. Không phải trải qua bất cứ sự rèn luyện học tập nào cả, nên người ta gọi túc mệnh thông là công năng.

Ngài được Đức Ngọc Hoàng Đại Đế giao quyền cai quản Luân Mộ - Biên Ngục ( xét xử Minh Đạo ) và nắm giữ hàng vạn âm binh tà tướng.

  • Quan Lớn Đệ Thất Đào Tiên

Quan lớn Điều Thất: Còn gọi là Quan Điều Đào Tiên, ngài là thủ phủ đền Đồng Bằng, là con trai thứ bảy của Đức Vua Cha Bát Hải. Ngài là vị văn quan được giao nhiệm vụ biên sổ, coi giữ kho tàng ở Thủy cung, trông coi nội điện của Vua Cha.

Khi xưa Ngài theo đức Vua Cha phù giúp Hùng Vương đánh giặc, khi hoàn thành nhiệm vụ Ngài liền hóa ngay. Quan Điều Thất không giáng trần nhưng Ngài vẫn thường hiển linh phù giúp dân nước nên nhân dân lập đền thờ, các triều đại có sắc phong, Đền Ngài là đền Công Đồng (hay còn gọi là đền Quan Điều Thất) ở Thái Bình gần đền Đức Vua Cha Bát Hải.

  • Quan Lớn Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm

Là Quan lớn thứ tám nhưng ít ai biết đến Ngài. Ngài được coi sóc nội phủ của Vua Cha Nhạc phủ.

Hiện thân là một nhân vật lịch sử xuất hiện khá muộn, là danh tướng và nhà khai khẩn thời Nguyễn. Ngài tên là Thạch Duồng (Duông) người Khơ me Trà Vinh, dưới thờ chúa Nguyễn Phúc Khoát.


Thời trẻ Ngài được xung vào làm gia thân cho phủ Chúa Nguyễn, Chúa Nguyễn thương lắm nên cho họ Chúa, đặt tên là Nguyễn Văn Tồn. Ngài cùng Nguyễn Ánh bình định Thiên hạ. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Ngài được trao phó làm Trưởng quản thủy quân và trấn giữ luôn hai vùng Trà Vinh và Mân Thít, giúp dân khai khẩn đất hoang, cấy cầy làm lụng,

  • Quan Lớn Đệ Cửu

Quan lớn Bắc Quốc: Quan Bắc Quốc là người Trung Quốc họ Tống, ông sinh vào cuối thời nhà Minh đầu thời nhà Thanh.

Khi nhà Thanh cướp ngôi của nhà Minh, Ngài theo phong trào “Phản Thanh phục Minh”. Khi phong trào này bị dập tắt, Ngài chạy sang vùng Lào Cai Bảo Hà cùng quân dân Đại Việt đánh giặc Thanh.


Theo như Thần tích thì Ngài là con trai thứ 8 của Vua Cha Bát Hải giáng sinh bên Tàu nhưng lại về Việt Nam phù dân cứu quốc.

Ông được thờ ở đền Trình Vua Cha Bát Hải. Khi ngự đồng ông mặc áo dài kiểu Tầu, tóc búi tó. Ông cũng rất ít khi giáng đồng.

  • Quan Lớn Đệ Thập Triệu Tường

Ngài tên thật là Nguyễn Hoàng, người làng Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hóa. Sinh ngày Bính Dần, tháng 8 năm Ất Dậu. Cha Ngài là Nguyễn Kim người có công lập Lê Trang Tông khởi đầu của nhà Lê Trung Hưng.

Khi triều đình rối ren, anh trai bị hãm hại, thấy tình hình vậy cùng với tài trí nhìn nhận, Ngài mới nói với Trịnh Kiểm xin Vua Lê cho Ngài vào trấn thủ vùng Thuận Hóa. Vua đồng ý, về Thuận hóa Ngài chiêu binh mộ sĩ, vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, giảm thuế giảm sưu, dân chúng ai cũng mến phục.

Vua Lê phong cho làm Thái Úy Đoan Quốc công, Ngài còn giúp nhà Lê đánh đuổi nhà Mạc lên tận Cao Bằng. Ngài và các thế hệ con cháu của mình đã liên tục mở rộng bờ cõi về phương Nam.

Các vị Quan hay được hầu là Quan Đệ Nhất, Quan Đệ Nhị, Quan Đệ Tam, Quan Đệ Tứ, Quan Đệ Ngũ

Tứ Phủ Thánh Bà (hàng Chầu Bà)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (Quế Hoa Công Chúa)
Tranh vẽ Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.
  • Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn (Đông Quang Công Chúa)
Tranh vẽ Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.
  • Chầu Đệ Tam Thoải Phủ
Tranh vẽ Chầu Đệ Tam Thoải Phủ trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.
  • Chầu Đệ Tứ Khâm Sai (Chiêu Dung Công Chúa)
  • Chầu Năm Suối Lân (Suối Lân Công Chúa)
  • Chầu Lục Cung Nương (Lục Cung Công Chúa )
  • Chầu Bảy Kim Giao ( Mỏ Bạch Công Chúa )
  • Chầu Bát Nàn (Chầu Bát Đông Cuông, Chầu Bát Mỏ Ba)
  • Chầu Chín Cửu Tỉnh (Quỳnh Hoa Công Chúa)
  • Chầu Mười Đồng Mỏ (Mỏ Ba Công Chúa)
  • Chầu Bé Bắc Lệ (Bắc Lệ Công Chúa)
  • Chầu Bản Đền, Bản Cảnh

Các vị Chầu phổ biến hay hầu bóng gồm Chầu đệ Nhị, Chầu Năm, Chầu Lục, Chầu Mười, Chầu Bé. Ngoài ra có người hầu giá Chúa Thác Bờ sau giá Chầu Đệ Tam. Cũng có người hầu giá Chầu Bát Nàn (còn gọi là Chầu Bát Tiên La, Chầu Bát Thái Bình, tức bà Vũ Thị Thục - nữ tướng của Hai Bà Trưng) thay cho giá Chầu Bát Ngàn.

Tứ Phủ Thánh Hoàng (hàng Ông Hoàng)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông Hoàng Cả
  • Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn
  • Ông Hoàng Bơ Thoải Phủ
  • Ông Hoàng Tư Địa Phủ
  • Ông Hoàng Năm Mán Tộc
  • Ông Hoàng Sáu Thanh Hà
  • Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
  • Ông Hoàng Bát Nùng
  • Ông Hoàng Chín Cờn Môn
  • Ông Hoàng Mười Nghệ An

Ngoài ra còn có ông Hoàng Báo Đông Cuông, ông Hoàng Bắc Quốc, ông Chín Thượng Ngàn

Tứ Phủ Thánh Cô (hàng Cô)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cô Cả Thượng Thiên
Tranh vẽ Cô Đệ Nhất Thượng Thiên trong dự án Thánh Nhan của trang Four Palaces - Tứ Phủ.
  • Cô Bơ Thoải Cung (Cô Bơ Hàn Sơn, Cô Bơ Bông)
  • Cô Tư Địa Phủ (Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ)
  • Cô Năm Suối Lân
  • Cô Sáu Sơn Trang
  • Cô Bảy Kim Giao (Cô Bảy Mỏ Bạch, Cô Bảy Tân La)
  • Cô Tám Đồi Chè
  • Cô Chín Cửu Tỉnh (Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín Giếng)
  • Cô Mười Đồng Mỏ (Cô Mười Mỏ Ba)
  • Cô Bé Thượng Ngàn
  • Cô Bé Thủy Cung

Trong 12 vị Thánh Cô thì có 4 vị thánh cô thường xuyên ngự đồng là:

  • Cô Đôi Thượng Ngàn
  • Cô Bơ Thoải
  • Cô Chín Sòng Sơn
  • Cô Bé Đông Cuông

Các cô ngoài hàng Thập Nhị Thánh Cô nhưng hiển ứng linh thông nên các thanh đồng hay kiều về như Đôi Cô Cam Đường.

Thập Nhị Bộ Tiên Nàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra trong khoa cúng còn nhắc tới 12 Thánh Cô Sơn Trang (các cô ít khi ngự đồng):

  • Cô Cả Núi Dùm
  • Cô Đôi
  • Cô Ba Tam Kỳ
  • Cô Tư
  • Cô Năm Suối Lân
  • Cô Sáu Đồi Ngang
  • Cô Bảy Tân An
  • Cô Tám Đồi Chè
  • Cô Chín Giếng
  • Cô Mười Đồng Mỏ
  • Cô Mười Một Đồng Nhân
  • Cô Mười Hai Bắc Lệ

Tứ Phủ Thánh Cậu (hàng Cậu)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cậu Hoàng Cả (cậu Quận Phủ Dày)
  • Cậu Hoàng Đôi (cậu Quận Đồi Ngang)
  • Cậu Hoàng Bơ Thoải Phủ
  • Cậu Hoàng Tư Địa Phủ
  • Cậu bé bản đền

Ngoài ra còn có cậu bé Lệch ở gần đền Trần

Hàng Quan Ngũ Hổ, Ông Lốt[sửa | sửa mã nguồn]

Tức là năm ông hổ tượng trưng ngũ hành và ông lốt (mãng xà).

Trong quan niệm dân gian hổ là vị chúa cai quản rừng núi, hình tượng hổ biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, diệt trừ tà ma, trấn giữ các phương.

Quan Ngũ Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Ngũ Hổ gồm 05 vị là:

  1. Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan
  2. Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Xích Hổ Thần Quan
  3. Trung ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan
  4. Tây Phương Canh Tân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan
  5. Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Hắc Hổ Thần Quan

Quan Hổ được vẽ 5 ông hổ màu sắc khác nhau, tương ứng với Ngũ hành "kim, mộc, thủy, hỏa, thổ":

  • Hoàng hổ (màu vàng) trấn khu trung tâm (địa khu)
  • Hắc hổ (màu đen) trấn phương bắc (thủy khu)
  • Bạch hổ (màu trắng) trấn phương tây (kim khu)
  • Xích hổ (màu đỏ) trấn phương nam (hỏa khu)
  • Thanh hổ (màu xanh) trấn phương đông (mộc khu)
Ông Lốt[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Xà Đại tướng Quân

Bạch Xà Đại tướng Quân

Ngoài ra cũng có nhiều vị khác được hát văn ca ngợi, và có hầu một số vị Chúa bà như Chúa Thác Bờ ,Chúa Tây Thiên, Chúa Nguyệt Hồ, Chúa Lâm Thao, Chúa Ngũ Phương, Chúa Ba Nàng, Chúa Bạch Hạc Xuân Nương,.. Các bà Chúa bản cảnh này quyền cai một vùng địa phương.

Các Thánh miền Thượng Ngàn chia làm Sơn Lâm Bộ (rừng cây trên núi cao), Sơn Trang Bộ (thung lũng có điều kiện để sinh sống), Sơn Tinh Bộ (hệ thống các thần rừng), chia ra cai quản Thượng Ngàn trên hết là Tam Vị trưởng quản sơn lâm (Bạch Anh Trưởng Sơn Lâm Công Chúa, Diệu Tín Thiền Sư, Diệu Nghĩa Thiền Sư), dưới có bát bộ sơn trang là 8 họ sơn trang lớn trấn giữ các vùng trọng yếu và 12 cô kề cận Mẫu thượng ngàn cai quảng khắp các cửa rừng cửa bể, dưới các vị tướng sơn trang, quan văn võ, các cô hầu.

Các thần linh kể trên là các thần linh phổ biến nhất, được đông đảo con nhang đệ tử công nhận thờ phụng, ngoài ra còn một số vị khác ở địa phương, cũng được đưa vào hầu bóng. Tuy nhiên, hoạt động này có nhiều bừa bãi, khi mà nhiều ông đồng bà đồng "bịa" thêm vị thánh nào đó để hầu, hay có người hầu cả Ngọc Hoàng... gây phản cảm và méo mó đạo Mẫu.

Kinh thư Đạo Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hội Dân tộc học Việt Nam, Tạp chí Tin tức-Sự Kiện, Tiểu vùng văn hoá xứ Quảng - Tiếp theo số 5/2004 (Số 6/2004)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]