Điện Biên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Điện Biên

Tỉnh
Dien Bien Phu, statue.jpg
Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ
Hành chính
VùngTây Bắc Bộ
Tỉnh lỵthành phố Điện Biên Phủ
Trụ sở UBNDphường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ
Phân chia hành chính1 thành phố, 1 thị xã, 8 huyện
Thành lập
  • 28 tháng 6, 1909: thành lập tỉnh Điện Biên
  • 26 tháng 11, 2003: tách ra từ tỉnh Lai Châu (cũ)
Đại biểu quốc hộiTrần Thị Dung, Sùng A Hồng, Lò Thị Luyến, Mùa A Vảng, Quàng Thị Vân, Trần Văn Sơn
Chính quyền
Chủ tịch UBNDMùa A Sơn
Chủ tịch HĐNDLò Văn Muôn
Chánh án TANDPhạm Văn Nam
Viện trưởng VKSNDPhan Văn Kỷ
Bí thư Tỉnh ủyTrần Văn Sơn
Địa lý
Tọa độ: 21°23′07″B 103°00′50″Đ / 21,3853964°B 103,0139125°Đ / 21.3853964; 103.0139125Tọa độ: 21°23′07″B 103°00′50″Đ / 21,3853964°B 103,0139125°Đ / 21.3853964; 103.0139125
Diện tích9.541 km² [1]
Dân số (2019)
Tổng cộng598.856 người
Thành thị85.779 người (14,3%)
Nông thôn513.077 người (85,7%)
Mật độ63 người/km²
Dân tộcKinh, Thái, H'Mông, Dao, Giáy, Tày, Hà Nhì, Lào, Cống, Si La
Khác
Mã hành chínhVN-71, 11 [2]
Mã bưu chính38xxxx
Mã điện thoại0215
Biển số xe27
WebsiteCổng thông tin điện tử tỉnh Điện Biên

Điện Biên là một tỉnh miền núivùng Tây Bắc Bộ, Việt Nam [2][3][4]. Năm 2018, Điện Biên là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 59 về số dân, xếp thứ 60 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 61 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 49 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 576.700 người dân[5], GRDP đạt 15.750 tỉ Đồng (tương ứng với 0,6840 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 27,31 triệu đồng (tương ứng với 1.186 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,15%.[6]

Điện Biên giáp tỉnh Sơn La về phía đông và đông bắc, giáp tỉnh Lai Châu về phía bắc, giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc về phía tây bắc và giáp Lào về phía tây và tây nam. Tỉnh lỵ của tỉnh là thành phố Điện Biên Phủ. Điện Biên gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủlễ hội hoa ban.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Điện Biên là cách phiên âm Hán Việt của "奠邊", do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên. "Điện" nghĩa là vững chãi, "Biên" nghĩa là vùng biên giới, biên ải, "Điện Biên" tức là miền biên cương vững chãi. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên Phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu. Tên gọi Điện Biên hay Điện Biên Phủ xuất hiện từ đó.[7]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên nằm ở rìa phía Tây khu vực Tây Bắc Việt Nam. Điện Biên có tọa độ địa lý từ 20°54’ đến 22°33’ vĩ độ Bắc và từ 102°10' đến 103°36' kinh độ Đông. Điện Biên nằm cách thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây. Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Lào và Trung Quốc[8] dài hơn 400 km: đường biên giới tiếp giáp với Lào là 360 km và đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc là 40,86 km.[4]

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh, được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200 m đến hơn 1800 m. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông. Ở phía Bắc có các điểm cao 1085 m, 1162 m và 1856 m (thuộc huyện Mường Nhé), cao nhất là đỉnh Pu Đen Đinh (1886 m). Ở phía Tây có các điểm cao 1127 m, 1649 m, 1860 m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo. Xen lẫn với các dãy núi cao là những thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bổ khắp nơi trong cả tỉnh. Trong đó, cánh đồng Mường Thanh được tạo thành từ thung lũng Mường Thanh[9] rộng hơn 150 km², là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh Điện Biên và cả khu vực Tây Bắc.[4]

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên có lịch sử phát triển địa chất lâu dài và cấu trúc kiến tạo phức tạp. Sau pha ổn định về địa chất kiến tạo tương đối vào thế Pliocenkỷ Đệ Tứ, địa hình núi phân cách được thiết lập. Do nâng cao các dòng chảy diễn ra quá trình đào xẻ lòng làm cho các thung lũng sông ngày càng sâu với các sườn dốc từ 300 – 400 m và các vách dốc đứng, nhiều thác ghềnh.

Thổ nhưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai ở Điện Biên phần lớn thuộc nhóm đất đỏ vàng (629.806,26ha), nhóm đất đen[9], cùng với một diện tích lớn đất phù sa (12.622,13 ha) nằm tại vùng thung lũng Mường Thanh,[10]

Các đứt gãy[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên là nơi giao nhau của một số đứt gãy sâu phân đới: Đứt gãy sông Đà, đứt gãy sông Mã, đứt gãy Điện Biên – Lai Châu và đứt gãy Sơn La.[11] Trong đó đứt gãy Lai Châu – Điện Biên hoạt động tách giãn mạnh, tạo ra sụt lún dạng địa hào và nâng mạnh ở hai bờ đông tây, mật độ dập vỡ vỏ Trái Đất cũng tăng cực đại. Những yếu tố trên đã tạo ra các khu vực trượt lở và lũ bùn đá điển hình, là nguyên nhân gây ra các hiện tượng như lũ lụt, động đất.[11] Các đứt gãy này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phân bố khoáng sản ở Điện Biên.[10]

Khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, gồm các loại chính như: nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, sắt, chì, kẽm, nhôm, đồng, thủy ngân…. Trong đó, trữ lượng về than, vật liệu sản xuất (xi măng) và nguồn nước khoáng có thể được khai thác với quy mô lớn; còn lại là trữ lượng thấp và nằm rải rác trong tỉnh. Hiện nay có khoảng 83 mỏ, điểm mỏ khoáng sản và biểu hiện khoáng sản ở Điện Biên. Nguồn than mỡ thường phân bố ở khu vực huyện Điện Biên và Điện Biên Đông; khoáng sản thuộc các nhóm vật liệu xây dựng thông thường, chì và kẽm ở huyện Tuần Giáo, Tủa Chùa; sắt, đồng, antimon ở huyện Mường Chà; vàng ở huyện Điện Biên Đông, đá vôi ở huyện Điện Biên.[10]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
123456789101112
 
 
22
 
 
24
12
 
 
30
 
 
26
13
 
 
57
 
 
29
15
 
 
112
 
 
31
19
 
 
192
 
 
32
22
 
 
264
 
 
31
23
 
 
317
 
 
30
23
 
 
310
 
 
30
23
 
 
157
 
 
30
22
 
 
60
 
 
29
18
 
 
30
 
 
26
15
 
 
24
 
 
24
12
Trung bình tối đa và tối thiểu. Nhiệt độ tính theo °C
Tổng lượng giáng thủy tính theo mm
Nguồn: [12]

Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa đông tương đối lạnh và ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường; chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng. Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hóa đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa.

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 °C đến 23 °C, nhiệt độ trung bình thấp nhất thường vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau (từ 14 °C đến 18 °C). Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất từ tháng 4 đến tháng 9 (25 °C) chỉ xảy ra các khu vực có độ cao thấp hơn 500 m. Nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng dần qua các thập niên. Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1500 mm đến 2500 mm, thường tập trung theo mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76 đến 84%. Điện Biên có nhiều nắng, khoảng từ 1820 đến 2035 giờ/năm và từ 115 đến 215 giờ/tháng.[10] Các tháng có giờ nắng thấp là tháng 6 và tháng 7; các tháng có giờ nắng cao thường là các tháng 3, 4, 8 và tháng 9.[4]

Chế độ nhiệt ở Điện Biên phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa hoàn lưu khí quyển và điều kiện địa hình. Do vị trí nằm khuất sau dãy núi Hoàng Liên Sơn nên không khí lạnh của khối khí lạnh di chuyển đến đây phải đi theo thung lũng sông Đà ngược lên, trên đường di chuyển khối khí này bớt lạnh đi, vì vậy chế độ nhiệt mùa đông của Điện Biên ấm và khô hơn so với Đông Bắc. Tuy nhiên do địa hình tương đối kín nên mỗi khi có đợt lạnh tràn về với cường độ mạnh thì không khí lạnh được giữ lại khá lâu, tạo nên đợt lạnh kéo dài nhiều ngày.[12]

Nhiệt độ thấp kỷ lục ở Điện Biên là -4.2 °C[13] vào 6 giờ sáng ngày 25 tháng 1 năm 2016 (trạm Pha Đin[14])

Dữ liệu khí hậu của Điện Biên (trạm Điện Biên)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 32.4 33.9 36.1 38.5 38.6 37.9 36.0 35.2 35.0 35.5 32.4 31.2 38,6
Trung bình cao °C (°F) 23.7 25.9 29.1 30.9 31.6 31.0 30.3 30.2 30.2 28.9 26.3 23.6 28,5
Trung bình ngày, °C (°F) 16.3 18.0 20.9 23.7 25.5 26.0 25.8 25.5 24.7 22.6 19.4 16.2 22,0
Trung bình thấp, °C (°F) 12.1 13.1 15.5 19.0 21.6 23.2 23.2 22.8 21.6 19.1 15.4 12.0 18,2
Thấp kỉ lục, °C (°F) −1.3 4.8 5.3 11.4 14.8 17.4 18.7 10.7 15.0 7.7 4.0 0.4 −1,3
Giáng thủy mm (inch) 21
(0.83)
31
(1.22)
55
(2.17)
111
(4.37)
187
(7.36)
274
(10.79)
310
(12.2)
313
(12.32)
151
(5.94)
65
(2.56)
31
(1.22)
21
(0.83)
1.568
(61,73)
độ ẩm 82.7 79.7 79.2 81.0 81.9 84.6 86.3 87.4 86.4 84.9 83.5 83.4 83,4
Số ngày giáng thủy TB 4.8 4.0 5.8 12.4 17.1 20.3 22.4 21.3 13.4 8.7 5.5 3.7 139,3
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 163 175 205 206 203 142 131 146 172 173 158 161 2.034
Nguồn: Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng Việt Nam[15]

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Circle frame.svg

Diện tích lưu vực các hệ thống sông ở Điện Biên so với diện tích tự nhiên toàn tỉnh

  Sông Hồng (sông Đà) (55.55%)
  Sông Mã (23.58%)
  Sông Mê Kông (17.29%)
  Khác (3.58%)

Nguồn nước ở Điện Biên rất phong phú với ba hệ thống sông lớn đi qua tỉnh là hệ thống sông Hồng (sông Đà), sông Mãsông Mê Công.[16] Sông ngòi trong tỉnh thường có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh – đặc biệt là các sông thuộc hệ thống sông Đà và sông Nậm Rốm – nên có tiềm năng phát triển thủy điện. Chất lượng nước tương đối cao, ít bị ô nhiễm.[9]

Sông Đà ở Điện Biên có năm phụ lưu chính là Nậm Ma (dòng chính dài 63 km), Nậm Bum (dòng chính dài 36 km), Nậm Pồ (dòng chính dài 103 km), Nậm Mức (dòng chính dài 86 km) và Nậm Muôi (dòng chính dài 50 km). Tổng diện tích các lưu vực khoảng 5300 km², chiếm 55% diện tích tự nhiên của tỉnh. Sông Đà chảy qua huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay.[4][10]

Đối với sông Mã thì có hai phụ lưu chính là sông Nậm Húa (dòng chính dài 62,5 km) và suối Lư (dòng chính dài 39 km). Tổng diện tích các lưu vực 2550 km² và là hệ thống sông lớn thứ hai của tỉnh.[4][10]

Trong khi đó, hệ thống sông Mê Kông có diện tích lưu vực ít hơn là 1650 km² với hai nhánh chính là sông Nậm Rốm và Nậm Núa. Sông Nậm Rốm bắt nguồn từ huyện Điện Biên qua thành phố Điện Biên Phủ đến Pa Thơm (huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào. Sông Nậm Núa bắt nguồn từ Mường Nhà chảy theo hướng từ nam sang bắc, sau đó chuyển sang hướng từ đông sang tây và gặp sông Nậm Rốm ở Điện Biên Phủ rồi chảy sang Lào.[4]

Toàn tỉnh có hơn 10 hồ và hơn 1000 sông, suối lớn nhỏ phân bố tương đối đồng đều, đáng chú ý là hồ Pá Khoang, suối khoáng nóng Hua Pe và suối khoáng nóng Uva. Nguồn nước ngầm của tỉnh được tập trung chủ yếu ở các thung lũng lớn như huyện Điện Biên, Tuần Giáo, Tủa Chùa. Dù có trữ lượng nước ngầm khá lớn nhưng hiện nay mới chỉ thực hiện một số mũi khoan thử nghiệm, chưa đi vào khai thác.[4]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ thứ 6 – 7 ở vùng Vân Nam (Trung Quốc), quốc gia Nam Chiếu ra đời. Sau đó, những cuộc tranh chấp giữa Nam Chiếu và các tộc người khác thường xuyên diễn ra, khiến cho cả vùng Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương bất ổn định. Thời kỳ này đất Mường Thanh cũng trải qua nhiều biến động lớn.[7]

Đến thế kỷ 9 – 10, người Lự ở Mường Thanh đã phát triển khá mạnh, và ảnh hưởng mạnh sang các khu vực: Sìn Hồ, Mường Lay, Tuần Giáo... Đến thế kỷ 11-12, người Tày Đăm (Thái đen) theo từ Mường Ôm, Mường Ai tràn xuống chiếm Mường Lò (Nghĩa Lộ) và từ Mường Lò thời gian sau đó, những cư dân này theo thủ lĩnh của mình là Pú Lạng Chượng để tràn qua Than Uyên, Văn Bàn... và cuối cùng làm chủ cả một vùng từ Mường Lò (Nghĩa Lộ) qua Mường La (Sơn La), tới Mường Thanh (Điện Biên).[7]

Vào thời kỳ Bắc thuộc, Điện Biên thuộc huyện Lâm Tây, quận Tân Hưng. Vào đời Lý, đất Điện Biên nằm trong hạt châu Lâm Tây; vào đời Trần, Điện Biên thuộc lộ Đà Giang, cuối thời Trần là trấn Thiên Hưng; thời Minh thuộc lại chia làm 2 châu Gia Hưng và Quy Hoá. Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập, bao gồm ba phủ: Quý Hóa, Gia Hưng, An Tây. Mặc dù vậy, các thủ lĩnh người Lự cơ bản vẫn làm chủ Mường Thanh. Từ 1466 về sau, Lê Thánh Tông đặt làm 12 thừa thừa tuyên, trong đó Hưng Hóa bao gồm 3 phủ, 4 huyện và 17 châu. Năm 1831, Minh Mạng đổi thành tỉnh Hưng Hóa, tỉnh lị đặt ở thị trấn Hưng Hoá, huyện Tam Nông (nay thuộc Phú Thọ).[7]

Xe tăng Pháp trong chiến dịch
Điện Biên Phủ

Thời Pháp thuộc, Hưng Hóa được chia thành các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và tách một số huyện nhập vào Phú Thọ. Năm 1890, thực dân Pháp mới đặt được ách cai trị ở Lai Châu (bao gồm Điện Biên và Lai Châu ngày nay). Lai Châu trừ Phong Thổ thuộc Đạo quan binh thứ Tư, trực tiếp nằm trong khu quân sự Vạn Bú. Ngày 28 tháng 6 năm 1909, ngày Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu, nay là tỉnh Điện Biên và Lai Châu.[7]

Dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, Phủ Điện Biên (nay là Điện Biên Phủ) trở thành trung tâm điều hành, hành chính phía của khu vực phía nam tỉnh Lai Châu. Năm 1954, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Navarre đã đổ quân xuống lòng chảo Điện Biên Phủ với ý đồ xây dựng căn cứ chiến lược quân sự, khống chế và thôn tính Đông Dương và phía Nam Trung Quốc, phía bắc Lào.[7]

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ được coi là "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", chấm dứt 80 năm nô lệ dưới ách thực dân phong kiến. Để tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc ở Tây Bắc tiến bộ mau chóng về mọi mặt, trung ương đã quyết định lập khu vực tự trị của các dân tộc ở Tây Bắc, gọi là Khu tự trị Thái - Mèo theo Nghị quyết của Quốc hội vào ngày 29 tháng 4 năm 1955. Trước đó, theo Sắc lệnh số 143-SL ngày 28 tháng 1 năm 1953 của Chủ tịch nước, Khu Tây Bắc được thiết lập gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn LaLai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc.[7]

Ngày 27 tháng 9 năm 1962, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa II đã quyết định thành lập lại 3 tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ và Lai Châu. Tỉnh Lai Châu lúc đó gồm 7 huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Tè, Mường Lay, Sìn Hồ, Phong Thổthị trấn Lai Châu.[7]

Từ năm 1962 đến năm 1994, thị trấn Lai Châu sau này là thị xã Lai Châu là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Lai Châu.[7]

Đường phố Điện Biên Phủ

Ngày 18 tháng 4 năm 1992, theo quyết định số 130/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã Điện Biên Phủ được thành lập và di chuyển tỉnh lỵ về thị xã Điện Biên Phủ.[7]

Tháng 1 năm 2002, huyện Mường Nhé được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các huyện Mường Tè, Mường Lay.[17]

Tháng 9 năm 2003, thành phố Điện Biên Phủ được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Điện Biên Phủ.[18]

Tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên.[19]

Tháng 1 năm 2004, địa giới hành chính huyện Mường Lay và thị xã Lai Châu được điều chỉnh lại.[20]

Tháng 3 năm 2005, thị xã Lai Châu được mở rộng và đổi thành thị xã Mường Lay, đổi tên huyện Mường Lay thành huyện Mường Chà, cũng đổi tên huyện lỵ Mường Lay thuộc huyện Mường Lay thành thị trấn Mường Chà.[21]

Ngày 14 tháng 11 năm 2006, thành lập huyện Mường Ảng trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Tuần Giáo.[22]

Ngày 28 tháng 8 năm 2012, thành lập huyện Nậm Pồ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của các huyện Mường NhéMường Chà.[23]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Điện Biên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện với 130 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 9 phường, 5 thị trấn và 116 xã.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc Điện Biên
Tên Dân số (người)2019 Hành chính
Thành phố
Điện Biên Phủ 87.510 7 phường, 2 xã
Thị xã
Mường Lay 20.450 2 phường, 1 xã
Huyện
Điện Biên 120.170 25 xã
Điện Biên Đông 54.380 1 thị trấn, 13 xã
Tên Dân số (người)2019 Hành chính
Mường Ảng 48.780 1 thị trấn, 9 xã
Mường Chà 42.650 1 thị trấn, 11 xã
Mường Nhé 40.030 11 xã
Nậm Pồ 45.080 15 xã
Tủa Chùa 48.440 1 thị trấn, 11 xã
Tuần Giáo 80.810 1 thị trấn, 18 xã
Nguồn: [24]

Phát triển đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển đô thị tỉnh Điện Biên đến năm 2035:

  • Năm 2025, gồm 11 đô thị:
    • 1 thành phố là đô thị loại II: Ðiện Biên Phủ
    • 2 thị xã là đô thị loại IV: Mường Lay, Tuần Giáo
    • 8 thị trấn là đô thị loại V: Mường Chà, Mường Nhé, Nậm Pồ, Tủa Chùa, Mường Ảng, Ðiện Biên Ðông, Pú Tửu, Bản Phủ.
  • Năm 2035, gồm 13 đô thị:
    • 1 thành phố là đô thị loại II: Ðiện Biên Phủ
    • 2 thị xã là đô thị loại IV: Mường Lay, Tuần Giáo
    • 10 thị trấn là đô thị loại V: Mường Chà, Mường Nhé, Nậm Pồ, Tủa Chùa, Mường Ảng, Ðiện Biên Ðông, Pú Tửu, Bản Phủ, Mường Nhà, A Pa Chải.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đèo Cò Chạy

Mạng lưới giao thông đường bộ gồm:

Đường hàng không gồm có sân bay Điện Biên Phủ tại thành phố Điện Biên Phủ phục vụ tuyến Hà Nội – Điện Biên Phủ – Viêng Chăn – Luông Pha Băng.

Tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2016 đến ngày 15 tháng 9 năm 2017, toàn tỉnh xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông, làm chết 21 người, bị thương 31 người.[25]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]


Kinh tế Điện Biên thuộc nhóm trung bình. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2016, tỉnh Điện Biên xếp ở vị trí thứ 53 trên 63 tỉnh thành.[26] Hiện, Điện Biên là một trong những tỉnh gặp khó khăn, do địa hình đồi núi chia cắt nên nông nghiệp không phải là thế mạnh của Điện Biên, Điên Biên hiện nay đang chú trọng vào công nghiệp và du lịch.

Dự ước tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GRDP theo giá so sánh năm 2016 đạt 9223,2 tỷ đồng. Trong đó: khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,56%; công nghiệp – xây dựng tăng 6,07%; dịch vụ tăng 8,64%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng xác định, trong đó: khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,77%, giảm 1,08%; công nghiệp – xây dựng chiếm 25,29%, tăng 0,03%; dịch vụ chiếm 48,48%, tăng 1,04% so với năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 22,31 triệu đồng/người/năm, tăng 7,87% so với năm 2015.[27]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cánh đồng ở Điện Biên

Ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chính là điều kiện thuận lợi để nông nghiệp ở Điện Biên phát triển. Tuy nhiên, các vụ rét đậm, rét hại vào mùa đông lại cản trở sự phát triển của cây trồng và vật nuôi. Điện Biên có 9 trang trại: 5 trang trại trồng trọt, 2 trang trại chăn nuôi, 1 trang trại nuôi trồng thủy sản và 1 trang trại khác.[28] Tổng sản lượng lương thực của tỉnh Điện Biên ước đạt 253622 tấn[27]; tổng số gia súc toàn tỉnh ước đạt 550600 con.[29]

Diện tích gieo cấy lúa năm 2016 đạt 500,98 km², tăng 1,32%; năng suất bình quân đạt 35 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha; sản lượng ước đạt 175119 tấn, tăng 0,17% so với năm 2015. Diện tích gieo trồng ngô ước đạt 29.977 ha, tăng 0,8%; năng suất bình quân ước đạt 26,19 tạ/ha; sản lượng đạt 78503,44 tấn, tăng 3,03% so với năm 2015.[27]

Gạo Điện Biên gồm hai loại cơ bản là IR64 và Bắc thơm số 7 được sản xuất tại vùng lòng chảo Điện Biên thuộc tỉnh Điện Biên. Gạo được chế biến và đóng gói tại tỉnh Điện Biên. Hơn 30 năm duy trì và phát triển, danh tiếng của gạo Điện Biên từng bước được mở rộng, thị trường và sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng.[30]

Theo kết quả điều tra chăn nuôi trong tỉnh ước tính đến hết năm 2016: tổng số trâu có 129640 con, tăng 2,9%; tổng số bò có 53564 con, tăng 5,72%; tổng số lợn có 374350 con, tăng 5,28% so với năm 2015.[27]

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp ở Điện Biên tăng cao so với cùng kỳ năm 2015 như: điện, gạch xây, đá xây dựng, xi măng, trang in offset; một số sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp đạt thấp như: than sạch, gạch xây dựng.

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 ước đạt 2235,22 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2015. Trong đó: công nghiệp khai thác đạt 107,97 tỷ đồng, tăng 1,38%; công nghiệp chế biến đạt 1798,94 tỷ đồng, tăng 5,32%; sản xuất, phân phối điện đạt 286,79 tỷ đồng, tăng 46,26%; cung cấp nước và xử lý rác thải đạt 41,52 tỷ đồng, tăng 8,99% so với năm 2015.[27]

Dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đài tại nghĩa trang liệt sĩ
ở Thành phố Điện Biên Phủ
(người phụ nữ Kinh bên trái
bên phải là người phụ nữ Thái)

Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là về lĩnh vực văn hóa – lịch sử. Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ (Mường Phăng); các cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập; các đồi A1, C1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (hầm Đờ-cát Tơ-ri).[4] Một điểm đến thu hút khách du lịch khác là thành Bản Phủ – đền thờ Hoàng Công Chất.[31]

Bên cạnh đó, tỉnh cũng có các công trình kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành vào ngày 30 tháng 4 năm 2004 tại đồi D1 nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.[32][33] Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành vào ngày 5 tháng 5 năm 2014 tại thành phố Điện Biên Phủ, là công trình trọng điểm chào mừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.[34][35]

Ngoài ra, Điện Biên còn có rất nhiều các hang động, nguồn nước khoáng và hồ nước tạo thành nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên phong phú, như: Rừng nguyên sinh Mường Nhé; các hang động tại Pa Thơm (huyện Điện Biên[36]), Thẩm Púa (Tuần Giáo); các suối khoáng nóng Hua Pe, U Va; các hồ Pá Khoang, Pe Luông…[4]

Theo số liệu của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Điện Biên, lượng khách du lịch đến Điện Biên 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 490 nghìn lượt, tăng hơn một nửa so với cùng kỳ 2017. Trong đó, khách quốc tế đạt 94 nghìn lượt, tăng 72% so với cùng kỳ năm trước. Tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt 643,7 tỷ đồng, tăng gần một nửa so với cùng kỳ năm trước.[37]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân số
NămSố dân±%
2004 423.300—    
2005 438.500+3.6%
2006 452.700+3.2%
2007 466.000+2.9%
2008 479.300+2.9%
2009 490.306+2.3%
2010 501.200+2.2%
2011 512.300+2.2%
2012 519.300+1.4%
2013 528.500+1.8%
2014 538.100+1.8%
2015 547.800+1.8%
2016 557.400+1.8%
2017 567.000+1.7%
2018 576.658+1.7%
2019 598.856+3.8%
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số của tỉnh Điện Biên là 598.856 người với mật độ dân số là 63 người/km². Trong đó, dân số nam là 303.436 người và dân số nữ là 295.420 người; dân số thành thị đạt 85,779 người, chiếm 14,3% dân số toàn tỉnh và dân số nông thôn đạt 513.077 người, chiếm 85,7% dân số toàn tỉnh.[38] Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của Điện Biên từ năm 2009 đến năm 2019 là 2 ‰.[39] Điện Biên có 134.273 hộ gia đình với 24.646 hộ ở thành thị và 109.627 hộ ở nông thôn.[40]

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến năm 2009, tỉnh Điện Biên có 33 dân tộc sinh sống bao gồm: Thái, Mông, Kinh, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, Giáy, La Hủ, Lự, Hoa, Kháng, Mảng, Tày, Nùng, Mường,... Trong đó, dân tộc Thái là dân tộc có dân số đông nhất với 186.270 người, chiếm 38,4% dân số toàn tỉnh. Dân tộc Mông xếp thứ hai với 170.648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh. Dân tộc Kinh có dân số đông thứ ba với 90.323 người, chiếm khoảng 20% dân số tỉnh.[41]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các hoạt động y tế, chương trình mục tiêu Y tế được duy trì và triển khai có hiệu quả theo kế hoạch, chất lượng công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của tỉnh Điện Biên từng bước được nâng lên. Tình hình dịch bệnh ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ước cả năm tổng số lượt khám bệnh ước đạt trên 1.000.000 lượt người, tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 103.800 lượt và trên 6500 bệnh nhân điều trị ngoại trú, Công suất sử dụng giường bệnh đạt 112%.[27] Tuy nhiên, vì Điện Biên là tỉnh miền núi, 90% dân số là đồng bào các dân tộc ít người, sinh sống chủ yếu ở các bản vùng cao nên điều kiện khám, chữa bệnh vẫn còn nhiều hạn chế về chăm sóc sức khỏe và phòng chống dịch bệnh.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn tỉnh Điện Biên có tổng cộng 517 trường học. Trong đó có 333 trường phổ thông, bao gồm: 176 trường tiểu học, 124 trường trung học cơ sở, 21 trường trung học phổ thông, 1 trường phổ thông cơ sở và 1 trường trung học.[42] Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên. Phương pháp dạy học tiếp tục được đổi mới theo hướng tích cực hóa, phát huy khả năng sáng tạo, hứng thú học tập, tạo điều kiện để mọi học sinh bộc lộ khả năng và năng lực của bản thân. Tỷ lệ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn tăng nhanh.[27] Tuy nhiên, hoạt động giáo dục ở Điện Biên vẫn còn rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, đường đến trường gặp trở ngại,...

Tỉ lệ dân số biết chữ ở Điện Biên là 73,1%; số nam biết chữ nhiều hơn số nữ và ở thành thị nhiều hơn nông thôn.[43]

Tôn giáo và tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo số liệu năm 2009 của Tổng cục Thống kê, toàn tỉnh có 5 tôn giáo khác nhau với 37.952 người, nhiều nhất là đạo Tin Lành có 36.702 người, tiếp theo là Công giáo có 1.174 người, Phật giáo có 73 người. Còn lại các tôn giáo khác như đạo Cao Đài có hai người và 1 người theo Bửu Sơn Kỳ Hương.[41][44] Hiện tại (2019), Điện Biên là một trong những địa phương có số dân theo đạo Công giáo thưa nhất miền Bắc Việt Nam với 2.672 tín hữu, chiếm 0,4% dân số toàn tỉnh và cũng là địa phương có số dân theo đạo Tin Lành đông nhất miền Bắc Việt Nam với hơn 50.000 tín hữu. Số dân còn lại đa số thì không theo tôn giáo nào cả.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh chụp lễ khai mạc lễ hội hoa ban ở Điện Biên năm 2018.

Ở Điện Biên có nhiều lễ hội, nổi bật nhất là lễ hội hoa ban và lễ hội thành Bản Phủ. Lễ hội hoa ban Điện Biên thường diễn ra vào giữa tháng 3 hàng năm nhằm giới thiệu, bảo tồn, phát huy các loại hình di sản văn hoá dân tộc ở Điện Biên.[45] Lễ khai mạc thường được tổ chức ở quảng trường 7 – 5, với kết thúc là một màn biểu diễn pháo hoa tầm thấp,[46] được Đài Tiếng nói Việt Nam phát thanh và Đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp.[45] Các chương trình, hoạt động của lễ hội gồm có: cuộc thi Người đẹp hoa ban,[45] diễu hành đường phố Đêm hội hoa ban,[47] chương trình nghệ thuật Về miền hoa ban, thưởng thức ẩm thực Hương sắc Điện Biên,[48] các cuộc thi đấu thể thao và trò chơi dân gian,[49] các triển lãm tranh,[50] trình diễn trang phục dân tộc, thăm quần thể di tích chiến trường Điện Biên Phủ…[51]

Lễ hội thành Bản Phủ được tổ chức vào ngày 24 đến ngày 25 tháng 2 âm lịch ở thành Bản Phủ để tưởng nhớ thủ lĩnh tướng quân Hoàng Công Chất trong công cuộc giải phóng Mường Then – Điện Biên khỏi sự chiếm đóng của giặc Phẻ.[51][52]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Đơn vị Hành chính, Đất đai và Khí hậu – Niên giám thống kê 2016”. Tổng cục Thống Kê. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  2. ^ a ă Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004 ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến 30/6/2004. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 11/04/2019.
  3. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g “Tổng quan về Điện Biên”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ĐIỆN BIÊN. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập 24 tháng 11 năm 2017. 
  5. ^ “Dân số các tỉnh Việt Nam năm 2018”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập Ngày 30 tháng 09 năm 2019. 
  6. ^ “Tình hình kinh tế, xã hội Điện Biên năm 2018”. UBND tỉnh Điện Biên. Truy cập Ngày 12 tháng 10 năm 2019. 
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g “Lịch sử hình thành tỉnh Điện Biên”. Đài phát thanh ― truyền hình Điện Biên. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  8. ^ “Chính xác, Điện Biên là tỉnh duy nhất giáp cả Lào và Trung Quốc”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập 3 tháng 12 năm 2017. 
  9. ^ a ă â “Điều kiện tự nhiên của tỉnh Điện BIên”. Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập 3 tháng 12 năm 2017. 
  10. ^ a ă â b c d “Điện Biên – Điều kiện tự nhiên”. Du lịch Điện Biên. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  11. ^ a ă “Giải mã động đất ở Điện Biên và Lai Châu”. Báo điện tử Bộ Tài nguyên và Môi trường. 
  12. ^ a ă “Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Điện Biên và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển du lịch”. Viên Địa lý – Viện hàn lâm khoa học & công nghệ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  13. ^ “Sa Pa rét lịch sử -4,2 độ C, nhiệt độ Hà Nội thấp nhất 39 năm”. Tuổi trẻ Online. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  14. ^ “Rét hại phá vỡ hàng loạt kỷ lục từng ghi nhận”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  15. ^ “SỐ LIỆU ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN DÙNG TRONG XÂY DỰNG” (PDF). Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng Việt Nam. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2018. 
  16. ^ Atlat Địa lý Việt Nam. Bộ Giáo dục và Đào tạo (ấn bản 7). Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. 2016 [2009]. tr. 10. ISBN 9786040022776. 
  17. ^ “NGHỊ ĐỊNH VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN MƯỜNG TÈ, HUYỆN MƯỜNG LAY ĐỂ THÀNH LẬP HUYỆN MƯỜNG NHÉ VÀ CHIA TÁCH HUYỆN PHONG THỔ ĐỂ THÀNH LẬP HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  18. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 110/2003/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 9 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH ĐỂ MỞ RỘNG VÀ THÀNH LẬP CÁC PHƯỜNG THUỘC THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH LAI CHÂU”. Thư viện pháp luật. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2017. 
  19. ^ “NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC CHIA VÀ ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH MỘT SỐ TỈNH”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  20. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 02/2004/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 01 NĂM 2004 VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN MƯỜNG LAY VÀ THỊ XÃ LAI CHÂU, TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  21. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 25/2005/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 3 NĂM 2005 VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ ĐỔI TÊN THỊ XÃ LAI CHÂU THÀNH THỊ XÃ MƯỜNG LAY; ĐỔI TÊN HUYỆN MƯỜNG LAY VÀ THỊ TRẤN MƯỜNG LAY THÀNH HUYỆN MƯỜNG CHÀ VÀ THỊ TRẤN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  22. ^ “NGHỊ ĐỊNH VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH XÃ, HUYỆN; THÀNH LẬP XÃ; MỞ RỘNG VÀ ĐỔI TÊN THỊ TRẤN MƯỜNG ẲNG THUỘC HUYỆN TUẦN GIÁO, HUYỆN MƯỜNG CHÀ; THÀNH LẬP HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  23. ^ “NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH ĐỂ THÀNH LẬP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP XÃ, CẤP HUYỆN THUỘC TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  24. ^ 509&_page=1&mode= detail&document_id=163287 “NGHỊ QUYẾT Về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện thuộc tỉnh Điện Biên”. Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước CHXHCNVN. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  25. ^ “Điện Biên xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông trong 9 tháng đầu năm 2017”. Điện Biên TV. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  26. ^ “Bảng xếp hạng”. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  27. ^ a ă â b c d đ “TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2016”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ĐIỆN BIÊN. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  28. ^ “Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản – Niên giám thống kê 2016”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  29. ^ “Phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững”. Báo Điện Biên Phủ Online. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  30. ^ “Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu tới gạo Điện Biên”. Báo Khoa học và Phát triển. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  31. ^ “Thành Bản Phủ - Đền thờ Hoàng Công Chất - Điểm du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh hấp dẫn”. Trung tâm Thông tin xúc tiến Du lịch tỉnh Điện Biên. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập 28 tháng 12 năm 2017. 
  32. ^ “Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ: Công trình của lịch sử, văn hoá và nghệ thuật”. Tuổi trẻ Online. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  33. ^ “Nhếch nhác tại tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ”. Báo điện tử An ninh Thủ đô. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  34. ^ “Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ mở cửa đón khách”. Zing News. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  35. ^ “Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ: Nơi tôn vinh giá trị lịch sử”. BÁO ĐIỆN TỬ ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  36. ^ “Danh thắng động Pa Thơm”. Trang thông tin điện tử thành phố Điện Biên Phủ. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  37. ^ “Du lịch Điện Biên trên đường phát triển”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 3 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018. 
  38. ^ Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019: Tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ (PDF). Việt Nam: Nhà xuất bản Thống kê. 2019. tr. 67. ISBN 9786047512928. 
  39. ^ Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019: Tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ (PDF). Việt Nam: Nhà xuất bản Thống kê. 2019. tr. 75. ISBN 9786047512928. 
  40. ^ Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019: Tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ (PDF). Việt Nam: Nhà xuất bản Thống kê. 2019. tr. 78. ISBN 9786047512928. 
  41. ^ a ă “Phần I: Biểu Tổng hợp – Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  42. ^ “Giáo dục – Niên giám thống kê 2016”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  43. ^ Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019: Tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ (PDF). Việt Nam: Nhà xuất bản Thống kê. 2019. tr. 99. ISBN 9786047512928. 
  44. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  45. ^ a ă â “Điện Biên: Lễ hội Hoa Ban năm 2019 sẽ có cuộc thi Người đẹp Hoa Ban”. VOV - ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  46. ^ “Lễ hội Hoa Ban Điện Biên năm 2019 - nhiều hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa Tây Bắc”. dantocmiennui.vn. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  47. ^ “Điện Biên: "Đêm hội Hoa ban". Điện Biên TV. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  48. ^ “Tin khác”. svhttdldienbien.gov.vn. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  49. ^ “VPUB - Nhiều hoạt động thể thao sôi nổi tại Lễ hội Hoa Ban năm 2019”. dienbien.gov.vn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  50. ^ “VPUB - Trưng bày, triển lãm gần 800 bức ảnh “Về với Điện Biên””. dienbien.gov.vn. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  51. ^ a ă “Các lễ hội đặc sắc ở Điện Biên”. www.phuongnamhoteldienbien.vn. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  52. ^ “Điện Biên tưng bừng Lễ hội Thành Bản Phủ”. Du lịch – Dân trí. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập 28 tháng 12 năm 2017. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]



Biểu đồ gió Vân Nam Lai Châu Lai Châu Biểu đồ gió
Phongsaly B Sơn La
T    Điện Biên    Đ
N
Luangprabang Sơn La
Enclave: {{{enclave}}}