Điện Biên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Điện Biên
Tỉnh
The Victory Monument of Dien Bien Phu (front) v2.jpg
Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ
Địa lý
Tọa độ: 22°20′B 102°06′Đ / 22,33°B 102,1°Đ / 22.33; 102.10Tọa độ: 22°20′B 102°06′Đ / 22,33°B 102,1°Đ / 22.33; 102.10
Diện tích 9541 km² [1]
Dân số (2017)  
 Tổng cộng 567.000 người
 Thành thị 85.600 người
 Nông thôn 481.400 người
 Mật độ 59 người/km²
Dân tộc Kinh, Thái, H'Mông, Dao, Giáy, Tày, Hà Nhì, Lào, Cống, Si La
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Vùng Tây Bắc
Tỉnh lỵ Thành phố Điện Biên Phủ
Thành lập 26 tháng 11, 2003; 15 năm trước
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Mùa A Sơn
 Chủ tịch HĐND Lò Văn Muôn
 Chánh án TAND Phạm Văn Nam
 Viện trưởng VKSND Phan Văn Kỷ
 Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Sơn
 Trụ sở UBND Phường Mường Thanh, Thành phố Điện Biên Phủ, Điện Biên
Đại biểu quốc hội Trần Thị Dung, Sùng A Hồng, Lò Thị Luyến, Mùa A Vảng, Quàng Thị Vân, Trần Văn Sơn
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện
Mã hành chính VN-71
Mã bưu chính 38xxxx
Mã điện thoại 0215
Biển số xe 27
Website Cổng thông tin điện tử tỉnh Điện Biên

Điện Biên là một tỉnh miền núivùng Tây Bắc của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[2] Điện Biên giáp tỉnh Sơn La về phía Đông và Đông Bắc, giáp tỉnh Lai Châu về phía Bắc, giáp tỉnh Vân Nam của nước Trung Quốc về phía Tây Bắc và giáp nước Lào về phía Tây và Tây Nam. Tỉnh lỵ của Điện Biên là thành phố Điện Biên Phủ. Điện Biên gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủlễ hội hoa ban.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên. "Điện" nghĩa là vững chãi, "Biên" nghĩa là vùng biên giới, biên ải, "Điện Biên" tức là miền biên cương vững chãi của tổ quốc. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên Phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu. Tên gọi Điện Biên hay Điện Biên Phủ xuất hiện từ đó.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thượng cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ thứ 6 – 7 ở vùng Vân Nam (Trung Quốc), quốc gia Nam Chiếu ra đời. Sau đó, những cuộc tranh chấp giữa Nam Chiếu và các tộc người khác thường xuyên diễn ra, khiến cho cả vùng Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương bất ổn định. Thời kỳ này đất Mường Thanh cũng trải qua nhiều biến động lớn.[3]

Đến thế kỷ 9 – 10, người Lự ở Mường Thanh đã phát triển khá mạnh, và ảnh hưởng mạnh sang các khu vực: Sìn HồMường Lay, Tuần Giáo... Đến thế kỷ 11-12, người Tày Đăm (Thái đen) theo từ Mường Ôm, Mường Ai tràn xuống chiếm Mường Lò (Nghĩa Lộ) và từ Mường Lò thời gian sau đó, những cư dân này theo thủ lĩnh của mình là Pú Lạng Chượng để tràn qua Than Uyên, Văn Bàn... và cuối cùng làm chủ cả một vùng từ Mường Lò (Nghĩa Lộ) qua Mường La (Sơn La), tới Mường Thanh (Điện Biên).[3]

Thời Bắc thuộc, nhà Lý, nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời kỳ Bắc thuộc, Điện Biên thuộc huyện Lâm Tây, quận Tân Hưng. Vào đời Lý, đất Điện Biên nằm trong hạt châu Lâm Tây; vào đời Trần, Điện Biên thuộc lộ Đà Giang, cuối thời Trần là trấn Thiên Hưng; thời Minh thuộc lại chia làm 2 châu Gia Hưng và Quy Hoá. Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập, bao gồm ba phủ: Quý Hóa, Gia Hưng, An Tây. Mặc dù vậy, các thủ lĩnh người Lự cơ bản vẫn làm chủ Mường Thanh. Từ 1466 về sau, Lê Thánh Tông đặt làm 12 thừa thừa tuyên, trong đó Hưng Hóa bao gồm 3 phủ, 4 huyện và 17 châu. Năm 1831, Minh Mạng đổi thành tỉnh Hưng Hóa, tỉnh lị đặt ở thị trấn Hưng Hoá, huyện Tam Nông (nay thuộc Phú Thọ).[3]

Thời kháng chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng Pháp trong chiến dịch
Điện Biên Phủ

Thời Pháp thuộc, Hưng Hóa được chia thành các tỉnh Hoà BìnhSơn La, Lai Châu, Lào CaiYên Bái và tách một số huyện nhập vào Phú Thọ. Năm 1890, thực dân Pháp mới đặt được ách cai trị ở Lai Châu (bao gồm Điện Biên và Lai Châu ngày nay). Lai Châu trừ Phong Thổ thuộc Đạo quan binh thứ Tư, trực tiếp nằm trong khu quân sự Vạn Bú. Ngày 28 tháng 6 năm 1909, ngày Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu, nay là tỉnh Điện Biên và Lai Châu.[3]

Dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, Phủ Điện Biên (nay là Điện Biên Phủ) trở thành trung tâm điều hành, hành chính phía của khu vực phía nam tỉnh Lai Châu. Năm 1954, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Navarre đã đổ quân xuống lòng chảo Điện Biên Phủ với ý đồ xây dựng căn cứ chiến lược quân sự, khống chế và thôn tính Đông Dương và phía Nam Trung Quốc, phía bắc Lào.[3]

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ được coi là "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", chấm dứt 80 năm nô lệ dưới ách thực dân phong kiến. Để tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc ở Tây Bắc tiến bộ mau chóng về mọi mặt, trung ương đã quyết định lập khu vực tự trị của các dân tộc ở Tây Bắc, gọi là Khu tự trị Thái - Mèo theo Nghị quyết của Quốc hội vào ngày 29 tháng 4 năm 1955. Trước đó, theo Sắc lệnh số 143-SL ngày 28 tháng 1 năm 1953 của Chủ tịch nước, Khu Tây Bắc được thiết lập gồm các tỉnh Lào CaiYên BáiSơn La và Lai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc.[3]

Ngày 27 tháng 9 năm 1962, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa II đã quyết định thành lập lại 3 tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ và Lai Châu. Tỉnh Lai Châu lúc đó gồm 7 huyện: Điện BiênTuần GiáoTủa ChùaMường TèMường LaySìn HồPhong Thổ và thị trấn Lai Châu.[3]

Từ năm 1962 đến năm 1994, thị trấn Lai Châu sau này là thị xã Lai Châu là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Lai Châu.[3]

Đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đường phố Điện Biên Phủ

Ngày 18 tháng 4 năm 1992, theo quyết định số 130/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã Điện Biên Phủ được thành lập và di chuyển tỉnh lỵ về thị xã Điện Biên Phủ.[3]

Tháng 1 năm 2002, huyện Mường Nhé được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các huyện Mường Tè, Mường Lay.[4]

Tháng 9 năm 2003, thành phố Điện Biên Phủ được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Điện Biên Phủ.[5]

Tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên.[6]

Tháng 1 năm 2004, địa giới hành chính huyện Mường Lay và thị xã Lai Châu được điều chỉnh lại.[7]

Tháng 3 năm 2005, thị xã Lai Châu được mở rộng và đổi thành thị xã Mường Lay, đổi tên huyện Mường Lay thành huyện Mường Chà, cũng đổi tên huyện lỵ Mường Lay thuộc huyện Mường Lay thành thị trấn Mường Chà.[8]

Ngày 14 tháng 11 năm 2006, thành lập huyện Mường Ảng trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Tuần Giáo.[9]

Ngày 28 tháng 8 năm 2012, thành lập huyện Nậm Pồ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của các huyện Mường Nhé và Mường Chà.[10]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên nằm ở rìa phía Tây khu vực Tây Bắc Việt Nam. Điện Biên có tọa độ địa lý từ 20°54’ đến 22°33’ vĩ độ Bắc và từ 102°10' đến 103°36' kinh độ Đông. Điện Biên nằm cách thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây. Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Lào và Trung Quốc[11] dài hơn 400 km: đường biên giới tiếp giáp với Lào là 360 km và đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc là 40,86 km.[2]

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh.được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200 m đến hơn 1800 m. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông. Ở phía Bắc có các điểm cao 1085 m, 1162 m và 1856 m (thuộc huyện Mường Nhé), cao nhất là đỉnh Pu Đen Đinh (1886 m). Ở phía Tây có các điểm cao 1127 m, 1649 m, 1860 m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo. Xen lẫn với các dãy núi cao là những thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bổ khắp nơi trong cả tỉnh. Trong đó, cánh đồng Mường Thanh được tạo thành từ thung lũng Mường Thanh[12] rộng hơn 150 km², là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh Điện Biên và cả khu vực Tây Bắc.[2]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Điện Biên
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
123456789101112
 
 
22
 
 
24
12
 
 
30
 
 
26
13
 
 
57
 
 
29
15
 
 
112
 
 
31
19
 
 
192
 
 
32
22
 
 
264
 
 
31
23
 
 
317
 
 
30
23
 
 
310
 
 
30
23
 
 
157
 
 
30
22
 
 
60
 
 
29
18
 
 
30
 
 
26
15
 
 
24
 
 
24
12
Trung bình tối đa và tối thiểu. Nhiệt độ tính theo °C
Tổng lượng giáng thủy tính theo mm
Nguồn: [13]

Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa đông tương đối lạnh và ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường; chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng. Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hóa đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa.

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 °C đến 23 °C, nhiệt độ trung bình thấp nhất thường vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau (từ 14 °C đến 18 °C). Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất từ tháng 4 đến tháng 9 (25 °C) chỉ xảy ra các khu vực có độ cao thấp hơn 500m. Nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng dần qua các thập niên. Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1500 mm đến 2500 mm, thường tập trung theo mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76 đến 84%. Điện Biên có nhiều nắng, khoảng từ 1820 đến 2035 giờ/năm và từ 115 đến 215 giờ/tháng.[14] Các tháng có giờ nắng thấp là tháng 6 và tháng 7; các tháng có giờ nắng cao thường là các tháng 3, 4, 8 và tháng 9.[2]

Chế độ nhiệt ở Điện Biên phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa hoàn lưu khí quyển và điều kiện địa hình. Do vị trí nằm khuất sau dãy núi Hoàng Liên Sơn nên không khí lạnh của khối khí lạnh di chuyển đến đây phải đi theo thung lũng sông Đà ngược lên, trên đường di chuyển khối khí này bớt lạnh đi, vì vậy chế độ nhiệt mùa đông của Điện Biên ấm và khô hơn so với Đông Bắc. Tuy nhiên do địa hình tương đối kín nên mỗi khi có đợt lạnh tràn về với cường độ mạnh thì không khí lạnh được giữ lại khá lâu, tạo nên đợt lạnh kéo dài nhiều ngày.[13]

Nhiệt độ thấp kỷ lục ở Điện Biên là -4.2 °C[15] vào 6 giờ sáng ngày 25 tháng 1 năm 2016 (trạm Pha Đin[16])

Dữ liệu khí hậu của Điện Biên (trạm Điện Biên)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 32.4 33.9 36.1 38.5 38.6 37.9 36.0 35.2 35.0 35.5 32.4 31.2 38,6
Trung bình cao °C (°F) 23.7 25.9 29.1 30.9 31.6 31.0 30.3 30.2 30.2 28.9 26.3 23.6 28,5
Trung bình ngày, °C (°F) 16.3 18.0 20.9 23.7 25.5 26.0 25.8 25.5 24.7 22.6 19.4 16.2 22,0
Trung bình thấp, °C (°F) 12.1 13.1 15.5 19.0 21.6 23.2 23.2 22.8 21.6 19.1 15.4 12.0 18,2
Thấp kỉ lục, °C (°F) −1.3 4.8 5.3 11.4 14.8 17.4 18.7 10.7 15.0 7.7 4.0 0.4 −1,3
Giáng thủy mm (inch) 21
(0.83)
31
(1.22)
55
(2.17)
111
(4.37)
187
(7.36)
274
(10.79)
310
(12.2)
313
(12.32)
151
(5.94)
65
(2.56)
31
(1.22)
21
(0.83)
1.568
(61,73)
độ ẩm 82.7 79.7 79.2 81.0 81.9 84.6 86.3 87.4 86.4 84.9 83.5 83.4 83,4
Số ngày giáng thủy TB 4.8 4.0 5.8 12.4 17.1 20.3 22.4 21.3 13.4 8.7 5.5 3.7 139,3
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 163 175 205 206 203 142 131 146 172 173 158 161 2.034
Nguồn: Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng Việt Nam[17]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Điện Biên gồm có 10 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 1 thành phố , 1 thị xã và 8 huyện, được phân chia thành 130 đơn vị hành chính cấp xã gồm có 9 phường, 5 thị trấn và 116 xã.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Điện Biên
Tên Dân số (người)2012 Hành chính
Thành phố (1)
Điện Biên Phủ 56000 7 phường, 2 xã
Thị xã (1)
Mường Lay 15000 2 phường, 1 xã
Huyện (8)
Điện Biên 113642 25 xã
Điện Biên Đông 48990 1 thị trấn, 13 xã
Dân số (người)2012 Hành chính
Mường Ảng 45095 1 thị trấn, 9 xã
Mường Chà 39456 1 thị trấn, 11 xã
Mường Nhé 32977 11 xã
Nậm Pồ 43542 15 xã
Tủa Chùa 47279 1 thị trấn, 11 xã
Tuần Giáo 77446 1 thị trấn, 18 xã
Nguồn: [18]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Mạng lưới giao thông đường bộ gồm:

Đường hàng không gồm có sân bay Điện Biên Phủ tại thành phố Điện Biên Phủ phục vụ tuyến Hà Nội – Điện Biên Phủ – Viêng Chăn – Luông Pha Băng.

Tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2016 đến ngày 15 tháng 9 năm 2017, toàn tỉnh xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông, làm chết 21 người, bị thương 31 người.[19]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế Điện Biên thuộc nhóm trung bình. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2016, tỉnh Điện Biên xếp ở vị trí thứ 53 trên 63 tỉnh thành.[20]

Dự ước tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GRDP theo giá so sánh năm 2016 đạt 9223,2 tỷ đồng. Trong đó: khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,56%; công nghiệp – xây dựng tăng 6,07%; dịch vụ tăng 8,64%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng xác định, trong đó: khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,77%, giảm 1,08%; công nghiệp – xây dựng chiếm 25,29%, tăng 0,03%; dịch vụ chiếm 48,48%, tăng 1,04% so với năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 22,31 triệu đồng/người/năm, tăng 7,87% so với năm 2015.[21]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đài tại nghĩa trang liệt sĩ
ở Thành phố Điện Biên Phủ
(người phụ nữ Kinh bên trái
bên phải là người phụ nữ Thái)

Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là về lĩnh vực văn hóa - lịch sử. Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ (Mường Phăng); các cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập; các đồi A1, C1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (hầm Đờ-cát Tơ-ri).[2] Một điểm đến thu hút khách du lịch khác là thành Bản Phủ – đền thờ Hoàng Công Chất và lễ hội thành Bản Phủ được tổ chức vào ngày 24 tháng 2 âm lịch.[22][23]

Bên cạnh đó, tỉnh cũng có các công trình kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành vào ngày 30 tháng 4 năm 2004 tại đồi D1 nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.[24][25] Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành vào ngày 5 tháng 5 năm 2014 tại thành phố Điện Biên Phủ, là công trình trọng điểm chào mừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.[26][27]

Ngoài ra, Điện Biên còn có rất nhiều các hang động, nguồn nước khoáng và hồ nước tạo thành nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên phong phú, như: Rừng nguyên sinh Mường Nhé; các hang động tại Pa Thơm (huyện Điện Biên[28]), Thẩm Púa (Tuần Giáo); các suối khoáng nóng Hua Pe, U Va; các hồ Pá Khoang, Pe Luông…[2]

Theo số liệu của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Điện Biên, lượng khách du lịch đến Điện Biên 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 490 nghìn lượt, tăng hơn một nửa so với cùng kỳ 2017. Trong đó, khách quốc tế đạt 94 nghìn lượt, tăng 72% so với cùng kỳ năm trước. Tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt 643,7 tỷ đồng, tăng gần một nửa so với cùng kỳ năm trước.[29]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chính là điều kiện thuận lợi để nông nghiệp ở Điện Biên phát triển. Tuy nhiên, các vụ rét đậm, rét hại vào mùa đông lại cản trở sự phát triển của cây trồng và vật nuôi. Điện Biên có 9 trang trại: 5 trang trại trồng trọt, 2 trang trại chăn nuôi, 1 trang trại nuôi trồng thủy sản và 1 trang trại khác.[30] Tổng sản lượng lương thực của tỉnh Điện Biên ước đạt 253622 tấn[21]; tổng số gia súc toàn tỉnh ước đạt 550600 con.[31]

Diện tích gieo cấy lúa năm 2016 đạt 500,98 km², tăng 1,32%; năng suất bình quân đạt 35 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha; sản lượng ước đạt 175119 tấn, tăng 0,17% so với năm 2015. Diện tích gieo trồng ngô ước đạt 29.977 ha, tăng 0,8%; năng suất bình quân ước đạt 26,19 tạ/ha; sản lượng đạt 78503,44 tấn, tăng 3,03% so với năm 2015.[21]

Gạo Điện Biên gồm hai loại cơ bản là IR64 và Bắc thơm số 7 được sản xuất tại vùng lòng chảo Điện Biên thuộc tỉnh Điện Biên. Gạo được chế biến và đóng gói tại tỉnh Điện Biên. Hơn 30 năm duy trì và phát triển, danh tiếng của gạo Điện Biên từng bước được mở rộng, thị trường và sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng.[32]

Theo kết quả điều tra chăn nuôi trong tỉnh ước tính đến hết năm 2016: tổng số trâu có 129640 con, tăng 2,9%; tổng số bò có 53564 con, tăng 5,72%; tổng số lợn có 374350 con, tăng 5,28% so với năm 2015.[21]

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp ở Điện Biên tăng cao so với cùng kỳ năm 2015 như: điện, gạch xây, đá xây dựng, xi măng, trang in offset; một số sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp đạt thấp như: than sạch, gạch xây dựng.

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 ước đạt 2235,22 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2015. Trong đó: công nghiệp khai thác đạt 107,97 tỷ đồng, tăng 1,38%; công nghiệp chế biến đạt 1798,94 tỷ đồng, tăng 5,32%; sản xuất, phân phối điện đạt 286,79 tỷ đồng, tăng 46,26%; cung cấp nước và xử lý rác thải đạt 41,52 tỷ đồng, tăng 8,99% so với năm 2015.[21]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lịch sử phát triển dân số
- 2004: 423.300 (người)
- 2005: 438.500
- 2006: 452.700
- 2007: 466.000
- 2008: 479.300
- 2009: 490.800
- 2010: 501.200
- 2011: 512.300
- 2013: 528.500
- 2014: 538.100
- 2015: 547.800
- 2016: 557.400

Tính đến năm 2017, dân số của tỉnh Điện Biên là 567000 người với mật độ dân số là 59 người/km².[33] Trong đó, dân số nam và dân số nữ xấp xỉ nhau, khoảng 283800 người và 283200 ; dân số thành thị đạt 85600 người và dân số nông thôn đạt 481400 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của Điện Biên là 13,3 ‰.[34]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến năm 2009, tỉnh Điện Biên có 33 dân tộc sinh sống bao gồm: TháiMôngKinhDaoKhơ MúHà NhìGiáyLa HủLựHoaKhángMảngTàyNùngMường,... Trong đó, dân tộc Thái là dân tộc có dân số đông nhất với 186270 người, chiếm 38,4% dân số toàn tỉnh. Dân tộc Mông xếp thứ hai với 170648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh. Dân tộc Kinh có dân số đông thứ ba với 90323 người, chiếm khoảng 20% dân số tỉnh.[35]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các hoạt động y tế, chương trình mục tiêu Y tế được duy trì và triển khai có hiệu quả theo kế hoạch, chất lượng công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của tỉnh Điện Biên từng bước được nâng lên. Tình hình dịch bệnh ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ước cả năm tổng số lượt khám bệnh ước đạt trên 1.000.000 lượt người,  tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 103.800 lượt và trên 6500 bệnh nhân điều trị ngoại trú, Công suất sử dụng giường bệnh đạt 112%.[21] Tuy nhiên, vì Điện Biên là tỉnh miền núi, 90% dân số là đồng bào các dân tộc ít người, sinh sống chủ yếu ở các bản vùng cao nên điều kiện khám, chữa bệnh vẫn còn nhiều hạn chế về chăm sóc sức khỏe và phòng chống dịch bệnh.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn tỉnh Điện Biên có tổng cộng 517 trường học. Trong đó có 333 trường phổ thông, bao gồm: 176 trường tiểu học, 124 trường trung học cơ sở, 21 trường trung học phổ thông, 1 trường phổ thông cơ sở và 1 trường trung học.[36] Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên. Phương pháp dạy học tiếp tục được đổi mới theo hướng tích cực hóa, phát huy khả năng sáng tạo, hứng thú học tập, tạo điều kiện để mọi học sinh bộc lộ khả năng và năng lực của bản thân. Tỷ lệ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn tăng nhanh.[21]

Tôn giáo và tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo số liệu năm 2009 của Tổng cục Thống kê, trên toàn tỉnh Điện Biên có 73 người theo Phật giáo; 1174 người theo Công giáo; 36702 người theo đạo Tin Lành; còn lại đa số thì không theo tôn giáo nào cả.[35]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Đơn vị Hành chính, Đất đai và Khí hậu – Niên giám thống kê 2016”. Tổng cục Thống Kê. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  2. ^ a ă â b c d “Tổng quan về Điện Biên”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ĐIỆN BIÊN. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập 24 tháng 11 năm 2017. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g “Lịch sử hình thành tỉnh Điện Biên”. Đài phát thanh ― truyền hình Điện Biên. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  4. ^ “NGHỊ ĐỊNH VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN MƯỜNG TÈ, HUYỆN MƯỜNG LAY ĐỂ THÀNH LẬP HUYỆN MƯỜNG NHÉ VÀ CHIA TÁCH HUYỆN PHONG THỔ ĐỂ THÀNH LẬP HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  5. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 110/2003/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 9 NĂM 2003 VỀ VIỆC THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH ĐỂ MỞ RỘNG VÀ THÀNH LẬP CÁC PHƯỜNG THUỘC THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH LAI CHÂU”. Thư viện pháp luật. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2017. 
  6. ^ “NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC CHIA VÀ ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH MỘT SỐ TỈNH”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  7. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 02/2004/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 01 NĂM 2004 VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN MƯỜNG LAY VÀ THỊ XÃ LAI CHÂU, TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  8. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 25/2005/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 3 NĂM 2005 VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ ĐỔI TÊN THỊ XÃ LAI CHÂU THÀNH THỊ XÃ MƯỜNG LAY; ĐỔI TÊN HUYỆN MƯỜNG LAY VÀ THỊ TRẤN MƯỜNG LAY THÀNH HUYỆN MƯỜNG CHÀ VÀ THỊ TRẤN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  9. ^ “NGHỊ ĐỊNH VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH XÃ, HUYỆN; THÀNH LẬP XÃ; MỞ RỘNG VÀ ĐỔI TÊN THỊ TRẤN MƯỜNG ẲNG THUỘC HUYỆN TUẦN GIÁO, HUYỆN MƯỜNG CHÀ; THÀNH LẬP HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  10. ^ “NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH ĐỂ THÀNH LẬP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP XÃ, CẤP HUYỆN THUỘC TỈNH ĐIỆN BIÊN”. Thư viện pháp luật. Truy cập 21 tháng 10 năm 2017. 
  11. ^ “Chính xác, Điện Biên là tỉnh duy nhất giáp cả Lào và Trung Quốc”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập 3 tháng 12 năm 2017. 
  12. ^ “Điều kiện tự nhiên của tỉnh Điện BIên”. Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập 3 tháng 12 năm 2017. 
  13. ^ a ă “Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Điện Biên và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển du lịch”. Viên Địa lý – Viện hàn lâm khoa học & công nghệ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  14. ^ “Điện Biên – Điều kiện tự nhiên”. Du lịch Điện Biên. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  15. ^ “Sa Pa rét lịch sử -4,2 độ C, nhiệt độ Hà Nội thấp nhất 39 năm”. Tuổi trẻ Online. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  16. ^ “Rét hại phá vỡ hàng loạt kỷ lục từng ghi nhận”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  17. ^ “SỐ LIỆU ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN DÙNG TRONG XÂY DỰNG” (PDF). Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng Việt Nam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2018. 
  18. ^ 509&_page=1&mode= detail&document_id=163287 “NGHỊ QUYẾT Về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện thuộc tỉnh Điện Biên”. Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước CHXHCNVN. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  19. ^ “Điện Biên xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông trong 9 tháng đầu năm 2017”. Điện Biên TV. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  20. ^ “Bảng xếp hạng”. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  21. ^ a ă â b c d đ “TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2016”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ĐIỆN BIÊN. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  22. ^ “Thành Bản Phủ - Đền thờ Hoàng Công Chất - Điểm du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh hấp dẫn”. Trung tâm Thông tin xúc tiến Du lịch tỉnh Điện Biên. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập 28 tháng 12 năm 2017. 
  23. ^ “Điện Biên tưng bừng Lễ hội Thành Bản Phủ”. Du lịch – Dân trí. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập 28 tháng 12 năm 2017. 
  24. ^ “Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ: Công trình của lịch sử, văn hoá và nghệ thuật”. Tuổi trẻ Online. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  25. ^ “Nhếch nhác tại tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ”. Báo điện tử An ninh Thủ đô. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  26. ^ “Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ mở cửa đón khách”. Zing News. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  27. ^ “Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ: Nơi tôn vinh giá trị lịch sử”. BÁO ĐIỆN TỬ ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  28. ^ “Danh thắng động Pa Thơm”. Trang thông tin điện tử thành phố Điện Biên Phủ. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  29. ^ “Du lịch Điện Biên trên đường phát triển”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 3 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018. 
  30. ^ “Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản – Niên giám thống kê 2016”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  31. ^ “Phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững”. Báo Điện Biên Phủ Online. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  32. ^ “Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu tới gạo Điện Biên”. Báo Khoa học và Phát triển. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 
  33. ^ “Niên giám thống kê tóm tắt 2017”. Tổng cục Thống Kê Việt Nam. Truy cập 12 tháng 12, 2018. 
  34. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :04
  35. ^ a ă “Phần I: Biểu Tổng hợp – Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 16 tháng 12 năm 2017. 
  36. ^ “Giáo dục – Niên giám thống kê 2016”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 17 tháng 12 năm 2017. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió Vân Nam Lai Châu Lai Châu Biểu đồ gió
Phongsaly B Sơn La
T    Điện Biên    Đ
N
Luangprabang Sơn La
Enclave: {{{enclave}}}