Người Ê Đê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Anak Ê-Đê
Người Ê Đê

Phụ nữ người Ê Đê Adham
ở phía bắc Đăk Lăk
Tổng số dân
330.348 +[1]
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam, Campuchia, Hoa Kỳ, Canada và các nước Bắc Âu theo đạo Tin Lành
 Campuchia ?[2]
 Việt Nam 330.348[3]
 Thái Lan ?
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ 30.000[cần dẫn nguồn]
 Pháp 1.000
Ngôn ngữ
Ê Đê, Việt, Lào, Thái Lan, Pháp, Anh
Tôn giáo
Tin Lành, thuyết vật linh, Công giáo,Phật giáo
Dân tộc thiểu số có liên quan
Utsul, Gia Rai, Chăm, Ra Glai, Chu Ru, Mã Lai, Indonesia, Philippines, Brunei, Hồi giáo miền Nam Thái Lan

Người Ê Đê cho rằng vị thần cao nhất của họ là A.Ê - D.I.Ê nghĩa là Thượng Đế theo truyền thuyết của người Ê Đê được lưu truyền đến ngày nay. Do vậy người Êđê tự gọi mình là Anak A.Ê - D.I.Ê tức là những đứa con của Thượng Đế, sau này đọc trệch đi là Anak Ê Đê. Bia ký Chăm Pa cổ nhất tại Tháp Bà Pô Naga cũng đã ghi chép về tộc danh Rang Đê vùng sông Nha Trang, Sông Dinh, Sông Hinh vào khoảng thế kỷ VIII, có lẽ Rang Đê biến âm sau này thành Rađê, Rađêy hay Êđê. Cuối thế kỷ XIII trước sự tấn công ồ ạt của đế quốc Mông Cổ, sau này là Nam Tiến của người Việt xuống đất Chăm Pa đã đẩy bộ phận người Chăm Pa lên vùng bình nguyên Cheo Reo và hòa hợp với người Ê Đê cổ tạo ra nhóm tộc người mới tự gọi là Anak Jarai, đây là nhánh lớn của tộc người Orang Đê cổ. Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam, trong văn bản hành chính của Việt Nam Cộng Hoà, người Ê Đê được gọi là Rađê. Ngoài ra, người Êđê họ còn gọi toàn bộ cộng đồng họ bằng từ có nguồn gốc từ tiếng Phạn Ấn ĐộĐêgar,Êđê Êga, Đêga nghĩa là Cao Nguyên. Anak Đêgar cũng được hiểu là những người sống trên Cao Nguyên. Ước tính hiện nay có khoảng 330.348 người Ê Đê cư trú tập trung ở tỉnh Đắk Lắk, phía nam của tỉnh Gia Lai và miền tây của hai tỉnh Khánh HòaPhú Yên của Việt Nam. Tại một số quốc gia khác, như Campuchia, Hoa Kỳ, Canada và các nước Bắc Âu cũng có một ít người Ê Đê sinh sống, song chưa có số liệu chính thức.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc Ê Đê bao gồm khoảng 330.348 người, là dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người Mã Lai (Malays) từ các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở Đông Dương; truyền thống dân tộc vẫn mang đậm nét mẫu hệ thể hiện dấu vết hải đảo của nhóm tộc người nói tiếng Mã Lai - Đa Đảo. Các nhóm địa phương bao gồm: Kpă (chính dòng), Adham, Mdhur, Bih, Krung... Nhưng không có sự khác biết lớn giữa các nhóm địa phương.

Yang Prong hay Yang Êa H'leo trong bia kí Champa là Ya Hliêv, là tháp Chăm duy nhất ở Tây Nguyên. Ngôi tháp được xây dựng dưới Triều Đại Jaya Simhavarman III tức Chế Mân (R'čăm Mâl hay Êčăm mâl),ngôi tháp được xây dựng để dâng cúng Thần Vĩ Đại của người Orang Đê cổ, trong thời kì kháng chiến chống Mông- Nguyên cuối thế kỉ XIII

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ê Đê ở Việt Nam có dân số 331.194 người, cư trú tại 59 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ê Đê cư trú tập trung tại tỉnh:

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ, dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải. Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa còn có ngô, khoai, bầu, thuốc lá, , hành, ớt, bông.

Đặc điểm làm rẫy của người Ê Đê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác còn có những khu đất để hoang để phục hồi sự màu mỡ. Ngày nay người Êđê gắn mình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao,...

Nghề trồng trọt ở đây có nuôi trâu, , voi. Người dân ở đây còn tự làm ra đựơc đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm.

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong gia đình người Ê Đê, chủ nhàphụ nữ, theo chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, con trai không được hưởng thừa kế. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế theo tục nối dây thì người chồng phải về với chị em gái mình. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ.Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự để thờ cúng ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với Khan Đam San, Khan Đam Kteh M'lan,... Người Ê Đê yêu ca hát, thích tấu nhạc và thường rất có năng khiếu về lĩnh vực này. Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, khèn, Gôc, Kni, đàn, Đinh Năm, Đinh Tuốc là các loại nhạc cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích.

Đặc tính tâm lý trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê Đê có lòng trung thực, kiên nhẫn với sự khó khăn, chịu đựng nhọc nhằn trong lao động, Chăm chỉ, nhiệt tình trong công việc, nhưng dễ nổi lên phản kháng chống lại khi bị người khác chèn ép và áp bức. Ai cũng muốn mình lịch thiệp trong xã hội. Các phụ lão thích kẻ khác kính nễ, phụ nữ thường hay e thẹn. Cả già lẫn trẻ đều có lòng hiền hòa, không thích người ta ba hoa, nói dối. Vì vậy nếu ai nói dối, lừa gạt một người Ê Đê, dù chỉ một lần thôi thì cũng đủ để mất hết lòng tin thậm chí dẫn đến hận thù dai dẳng.

Đôi nét về nhân chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê Đê chiếm 17 % dân số tại tỉnh Dak lak. Dân tộc này nằm trong nhóm các tộc người sử dụng ngôn ngữ Malayo- Polinesian, sống trên khắp [[Đông Nam Á[]]. Đa số người Ê Đê ngày nay là tín đồ Tin Lành - một tôn giáo du nhập hòa trộn nhiều thành phần tín ngưỡng dân gian bản địa, và người Ê Đê không có tục thờ cúng tổ tiên. Người Ê Đê thường có bề ngoài điển hình của người Đông Nam Á, trông gần giống người hải đảo Indonesia, PhilippinMalaysia. Tuy nhiên, người Ê Đê không thuần chủng, bề ngoài có nhiều nét khác nhau, đó là do kết quả của nhiều thế kỉ pha trộn với người Ấn Độ xa xưa,người M'nông thuộc ngôn ngữ Môn - Khmer, người Pháp thời thuộc địa, và người Việt.

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sàn của người Ê Đê

Phương tiện liên quan tới Nhà người Ê Đê tại Wikimedia Commons Tộc người Ê Đê vốn thuộc nhóm cư dân ngôn ngữ Mã Lai, có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển. Mặc dù đã chuyển cư vào miền trung Việt Nam hàng ngàn năm trước, và di cư lên Tây Nguyên khoảng sớm nhất vào cuối thế kỷ 8 đến thế kỷ 15 nhưng trong sâu thẳm văn hóa của người Ê Đê, bến nước và con thuyền là những hình ảnh chưa hề phai nhạt. Nhà sàn Ê Đê có hình con thuyền dài, cửa chính mở phía trái nhà, cửa sổ mở ra phía hông. Bên trong nhà có trần gỗ hình vòm giống hệt mui thuyền. Có nhiều buôn Ê Đê trù phú với hàng trăm ngôi nhà dài trông như một hạm đội thuyền Nam Đảo đang rẽ sóng giữa thế giới biển đảo, đây là nét đặc trưng có hầu hết ở các tộc người nói tiếng Mã Lai. Nhà người Ê Đê thuộc loại hình nhà dài sàn thấp, thường dài từ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người. Nhà Ê Đê có những đặc trưng riêng không giống nhà của các cư dân khác ở Tây Nguyên. Là nhà của gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ. Bộ khung kết cấu đơn giản. Cái được coi là đặt trưng của nhà Ê Đê là: hình thức của cầu thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt. Đặc biệt là ở hai phần. Nửa đằng cửa chính gọi là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan) (tới 20 m), chiếng ché,... nửa còn lại gọi là Ôk là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ. Phần về bên phải là hàng lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp.

Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu nhi người Ê Đê

Có đầy đủ các thành phần, chủng loại trang phục và phong cách thẩm mỹ khá tiêu biểu cho các dân tộc khu vực Tây Nguyên. Y phục cổ truyền của người Êđê là màu đen, có điểm những hoa văn sặc sỡ. Đàn bà mặc áo, quấn váy (Ieng). Đàn ông đóng khố (Kpin), mặc áo. Người Ê Đê ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng, hạt cườm. Trước kia, tục cà răng qui định mọi người đều cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên, nhưng lớp trẻ ngày nay không cà răng nữa.

Trang phục nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nam để tóc ngắn quấn khăn màu đen nhiều vòng trên đầu. Y phục truyền thống gồm áo và khố.

Áo có hai loại cơ bản:

  • Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu cho người Ê Đê qua trang phục nam, có tay áo dài, thân áo cũng dài trùm mông, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng. Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục hình chữ nhật tạo vẻ đẹp, khỏe.lực lãm
  • Loại áo dài quá gối: Đây là loại áo dài quá ngối, có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông nói trên,...
  • Khố: Khố có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Áo thường ngày ít có hoa văn, bên cạnh các loại áo trên còn có loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay. Áo có giá trị nhất là loại áo Ktêh của những người quyền quý có dải hoa văn "đại bàng dang cánh", ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau lưng có đính hạt cườm. Nam giới cũng mang hoa tai và vòng cổ.

Trang phục nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ nữ Ê Đê để tóc dài buộc ra sau gáy. Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật. Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng. Vòng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân.

  • Áo: Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Trên nền áo màu chàm thẫm các bộ phận được trang trí là: cổ áo lan sang hai bên bả vai xuống giữa cánh tay, cửa tay áo, gấu áo. Đó là các đường viền kết hợp với các dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng. Cái khác của trang phục áo nữ Ê Đê khác Gia rai về phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân áo. Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm).
  • Váy: Đi cùng với áo của phụ nữ Ê đê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí các sọc nằm ngang ở mép trên, mép dưới và giữa thân bằng chỉ các màu tương tự như áo. Đồ án trang trí tập trung hơn ở mép trên và dưới thân váy. Có thể đây cũng là phong cách hơi khác với váy của dân tộc Gia Rai. Váy có nhiều loại phân biệt ở các dải hoa văn gia công nhiều hay ít. Váy loại tốt là myêng đếch, rồi đến myêng đrai, myêng piêk. Loại bình thường mặc đi làm rẫy là bong. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Cây thập tự màu huyết biểu tượng chính trong đạo Tin Lành truyền thống của người Ê Đê

Phần lớn người Ê Đê theo đạo Tin Lành được các nhà truyền giáo phương Tây truyền vào những năm đầu của thế kỷ XX. Đắc Lắc nơi tập trung đông người Ê Đê nhất cũng là nơi có tín đồ Tin Lành nhiều nhất Việt Nam, đây được coi một trong những trung tâm đạo Tin Lành lớn nhất khu vực Đông Dương. Họ thường đọc kinh cầu nguyện tại các nhà riêng của mục sư, hiện tại các nhà thờ Tin lành vẫn chưa nhiều. Công giáo Rôma được truyền bá thông qua các nhà truyền giáo sau này là người Pháp.Tỉ lệ người Ê đê theo Công Giáo Rôma rất thấp, do yếu tố tấm lý và nguyên nhân lịch sử, Sau Hiệp định Genève, Ngô Đình Diệm cho hủy bỏ quy chế Hoàng triều Cương thổ, tức chấm dứt đặc quyền của Quốc trưởng Bảo Đại trên vùng Cao nguyên và gom vùng đất này vào lãnh thổ chung của Quốc gia Việt Nam. Về mặt kinh tế có khoản mở rộng đất đai canh tác và lập các khu dinh điền, định cư hàng trăm nghìn người Công Giáo từ miền Bắc di cư vào Nam. Một số được đưa lên vùng Tây Nguyên chiếm một số đất người Thượng làm các khu dinh điến, sự xuất hiện đông đột ngột người Kinh Công Giáo, cùng với sự kỳ thị chủng tộc, mất đất đai, văn hóa bị xâm phạm, đã để lại vết đau trong tâm lý của người Ê đê, trừ những người Ê đê Công giáo thời Pháp thuộc, thì hầu như người Ê đê còn lại đa phần chọn Tin Lành như là một tôn giáo để có thể đối chọi lại từ sự đồng hóa của người công giáo mà chính quyền Ngô Đình Diệm ủng hộ lúc đó. Những người Ê đê theo Công giáo Rôma thì thường đến các nhà nhờ tại địa phương vào ngày chủ nhật. Một số rất ít theo Phật giáo tại các vùng đô thị. Số còn lại vẫn theo nét tín ngưỡng cổ truyền, thờ cúng các thần hộ thân cho mình.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng nói[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia (ngữ hệ Nam Ðảo). Tiếng Ê Đê có quan hệ gần gũi với Tiếng Gia rai, Chăm, Bahasa Malayu, Bahasa Indonesia, các ngôn ngữ của Philippin... Ngoài vốn từ vựng có nguồn gốc Mã Lai- Đa Đảo, Sanscrit của Ấn Độ, tiếng Ê Đê còn vay mượn vốn từ vựng có nguồn gốc từ Môn -Khmer và một số từ vựng tiếng Pháp.

So sánh một số từ vựng trong tiếng Ê Đê với các ngôn ngữ Nam Đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt Tiếng Ê Đê Tiếng Jarai Tiếng Chăm Tiếng Malay Ghi chú
Một Sa Sa Sa (Tha) Satu
Hai Dua Dua Dua Dua
Mười Pluh Pluh Pluh Puluh
Một trăm Saêtuh Sa rơtuh Satuh Se rituh
Hai nghìn Dua êbâo Dua rơbâo Dua bâo Dua ribu
Tôi Kâo Kâo Kâo Ku
Chúng ta Drei Ta Drei Kita
Mắt Mta Mơta Mưta Mata
Tay Kngan Tơngan Tangan Tangan
Mưa Hjan Hơjan Hujan Hujan
Nước Êa Ia Ya Air
Uống Mnăm Mnhum Nhum Minum
Cơm Êsei Rơsơi Sei Nasi
Chua Msăm Msăm Mưsam Masam
Đêm Mlam Mlam Mưlam Malam
Con đường Êlan Jơlan Jưlan Jalan
Trong (cái gì đó) Hlăm Hrom Dalam Dalam
Người (chỉ người) Arăng Arăng Urang Orang
Con Anak Ană Anưk Anak
Sống Hdip Hơdip Hadiip Hidup

Tên người Ê Đê[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tên người Ê Đê

Nguyên thủy xa xưa, người Ê Đê cũng như nhiều tộc người khác trên thế giới, không có họ riêng. Thông thường họ dùng từ Dam (nghĩa là Chàng) để đệm cho Nam giới như Dam Sam, Dam Điêt, Dam Yi… và Hơbia (nghĩa là Nàng) để đệm cho Nữ giới như HơBia Blao, HơBia Ju, HơBia Jrah Jan.

Như hầu hết dân tộc trên thế giới, họ của người Ê Đê cũng hình thành từ sự phân rã các bộ tộc. Ở thời kỳ hiện đại, họ của người Ê Đê có liên quan mật thiết với họ của người Gia Rai do quá trình gắn bó mật thiết lâu đời của 2 dân tộc này như Niê (Nai, Nay), Buôn Yă, B.Yă (Kpă), Mlô (R’ô), Êban (Rhlan, Rbăm), K’sơr (Ksor), Êčăm (Rčăm, Rčom), Kbuôr (Puih, Kpuih, Kbor), Adrong (Ajrong)… Ngày nay, người Ê Đê đã hình thành rất nhiều họ khác nhau, tuy nhiên, có 2 dòng họ chính là Niê và Mlô, cùng nhiều phân họ kép hình thành từ 2 dòng họ này. Người Ê Đê cũng là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc Tên trước Họ sau, có thể là kết quả ảnh hưởng của văn hóa Pháp.

Chữ viết[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh Thánh Tân Ước Song Ngữ Êđê - Việt bằng mẫu tự Latin
Chữ viết Ê đê cổ xưa thường viết trên giấy da, nay đã thất truyền

Trước khi người Pháp đặt chân lên Tây Nguyên, người Ê đê đã có chữ viết riêng theo lối văn tự Pali- Sancrit của Ấn Độ mà người Ê đê gọi là " Boh h'ră", có thể là một trong những loại dạng kiểu chữ viết cong của người Champa, loại chữ Sancrit này được viết trên giấy da " m'ar klit", hay trên lá cọ khô "Hla guôl", loại chữ này hoàn toàn thất truyền sau khi Thiên Chúa giáo du nhập vào, những văn bản bằng chữ Ê đê cổ cuối cùng bị chính quyền Ngô Đình Diêm thiêu huỷ hoàn toàn. Trong thời gian cai trị của người Pháp, chính quyền thuộc địa đã cổ vũ sử dụng chữ viết theo mẫu tự Latin do 2 thầy giáo Y-Ut và Y-Jut sáng tạo ra vào khoảng những năm đầu thế kỷ 20. Mục đích chủ yếu là nhằm phục vụ giáo dục. Trong khi người theo Công giáo và Tin Lành dùng nó để ghi chép Kinh Thánh và Gia Phả. So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Ê Đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá sớm, người Ê Đê có chữ viết từ thập niên 1920. Các nhà truyền giáo Tin Lành đã phối hợp với các chuyên viên ngôn ngữ học tại Viện Ngôn ngữ học Mùa hè đặt chữ viết cho người Ê Đê để dịch Kinh Thánh cho dân tộc này[5]. Năm 1971, các chuyên viên này phối hợp với Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa phát hành sách dạy tiếng Ê Đê[6]. Năm 1979, sách dạy ngữ vựng Ê Đê được xuất bản tại Hoa Kỳ[7]. Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê-Việt phát hành năm 2001[8]. Năm 2006, Nhà xuất bản Tôn giáo của chính phủ Việt Nam, với sự hỗ trợ của United Bible Societies, đã phát hành 20 ngàn cuốn Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê-Việt tại Việt Nam[9]. Đây là cuốn sách có số lượng phát hành nhiều nhất trong tiếng Ê Đê từ trước đến nay.

Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Người Ê Đê là một trong những tộc người có lịch sử lâu đời trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Thông qua các thư tịch cổ của Trung Hoa, Đại Việt, các bia ký của Chăm Pa, Đế Chế Khmer, và cả những ghi chép của các nhà truyền giáo mà ít nhiều nhắc đến các nhân vật trong lịch sử của người Ê Đê xưa. Trong các tác phẩm sử thi dân gian của người Ê Đê thường nhắc đến các nhân vật anh hùng. Sử Thi Ê Đê là một pho tài liệu quý giá chứa đựng thông tin lịch sử về tộc người này.Trong phần lịch sử, Pièrre Bernard Lafont đã tiến hành chia lịch sử Champa ra làm 3 thời kỳ chính: Thời kì Ấn Độ hóa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471), thời kì bản địa (1471-1832) và thời kỳ sau ngày sụp đổ (1832-thế kỉ XX, thông qua ba giai đoạn này thì thời kỳ Ấn Độ hoá ChamPa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471)đã tác động mạnh đến một phần văn hoá và tín ngưỡng của người Ê Đê cổ, giai đoạn sau sụp đổ vương triều Vijaya 1471),yếu tố văn hoá Ấn từ các triều đại Champa đã khồng đủ sức ảnh hưởng trước sự phát triển trở lại của yếu tố văn hoá bản địa ở người Ê Đê, trong giai đoạn thế kỷ XV đến thế kỷ XVII này nhiều tác phẩm trường ca, sử thi cổ bắt phát triển nảy nở lại: Dam San, Dam Yi, Xinh Nhã, Dam kteh Mlan.. và chấm dứt khi các nhà truyền giáo Phương Tây và người Việt xâm nhập vùng cao nguyên.
  • Vancaraya (1125- 1169) Vancaraya là tên gọi bằng tiếng Pali Sanskrit của Ấn Độ, tiếng Ê Đê thường gọi là Dam Khing Jŭ có nghĩa là thủ lĩnh da nâu, sử liệu Trung Quốc gọi là Ying-Ming-Ye (Ưng Minh Diệp), là một thủ lĩnh người Rang Đê, cũng là một Thái tử thuộc hoàng gia Vịjaya miền bắc Champa, giai đoạn lịch sử này, người Ê ĐêJarai chưa phân li thành hai tộc người riêng như ngày nay. Sự kiện lịch sử theo bia ký Champa ghi lại rằng: Đó là vào giữa thế kỷ thứ 12, vương quốc Champa bị phân chia làm hai miền. Miền nam, tức là tiểu vương quốc Panduranga (thuộc vùng Ninh Thuận ngày nay), đặt dưới quyền lãnh đạo của vua Jaya Harivarman I. Ngược lại, tiểu vương quốc Vijaya (Ngày nay thuộc địa bàn huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định) ở miền bắc đặt dưới quyền đô hộ Đế chế Khmer. Vì không thể chấp nhận sự thống trị của người dị chủng Campuchia, vua Jaya Harivarma I ở miền nam tiến quân ra bắc giải phóng kinh đô Vijaya vào năm 1149, giết được hoàng tử Harideva, lãnh đạo đoàn quân viễn chinh Campuchia. Sau ngày thắng trận, thay vì Jaya Harivarman I phải rút quân trở về Panduranga, ông ta lại lợi dụng tình thế, tự xưng vương ở Vijaya, mặc dù ông ta biết rằng quyền nối ngôi ở Vijaya phải thuộc về hoàng tử Vancaraya, chính là em ruột của vợ ông (Vua Jaya Harivarnann I có một người vợ gốc Rang Đê). Nhằm phản đối lại sự đoạt ngôi này, các bộ tộc Rang Đê mà bia đá gọi là Kiratas phất cờ vùng dậy đưa hoàng tử Vancaraya lên làm vua ở Vijaya. Vua Jaya Harivarman I không còn giải pháp khác để giải quyết sự khủng hoảng chính trị này, quyết định vào năm1151 tấn công đoàn quân người Rang Đê mà bia ký chữ Phạn Ân Độ gọi là Radaya, và nhóm quân Kiratas khác do hoàng tử Vancaraya lãnh đạo. Thất trận, hoàng tử Vancaraya chạy sang Đại Việt cầu cứu viện trợ. Vua Lý Anh Tông sai tướng Nguyễn Mông cùng 5.000 binh sĩ từ Thanh Hóa vào tiếp cứu nhưng bị đánh bại, Nguyễn MôngVancaraya đều bị tử trận. Toàn bộ các thung lũng ven núi như Ea Drang, Ea Pa, Ea Ryu nơi người Rang Đê cư trú đều đặt dưới sự kiểm soát trở lại của Vua Jaya Harivarman I gốc người miền nam Champa. Đây có thể là mối liên hệ sớm nhất giữa bộ lạc Tây Nguyên với người Việt.
  • H Drah Jan Kpă (1630-1654) là con gái của một tù trưởng Ê Đê, H' Drah Jan tiếng Êđê nghĩa là Công chúa Hạt Mưa sau này trở thành hoàng hậu thứ của Vương Triều Champa suy tàn trước sức ép của nam tiến của người Việt. Khi quân Nguyễn của nước Đại Việt tấn công Panduranga. Nhà vua bị bắt và bị giết. Theo tục lệ Chăm, người ta hỏa thiêu xác vua, khi đó chỉ có bà hoàng hậu Ê Đê là H'Bia Drạh Jan nhảy vào lửa chết theo chồng, để tưởng nhớ đến một vị hoàng hậu cuối cùng của Vương Triều Champa này nên được nhân dân thờ trong một ngôi tháp phụ, rồi khi ngôi tháp sụp đổ, tượng của bà được đưa vào tháp chính phía bên phải tượng Vua là người chồng của mình. Đây có thể là mối liên hệ cuối cùng về hôn nhân giữa các triều đại Champa với người Rangđêy. Người Chăm đã có những câu ca rằng:

"Ba hoàng hậu Drah Jan, Drah Jih, Drah yang, Làm náo động sân đình chỉ vì thần Po Rame đẹp trai Ba hoàng hậu Drah jan, drah Jih, drah Yang, Sắc đẹp toả sáng như thần mặt trời mọc lên "

Tháp Pô Reme tại Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận thờ Vua Pô Remê và hoàng Hậu Drah Jan người Ê đê
  • Y Bhăm Ênuôl (1923-1975) thường được viết là Y- Bhăm Êñuôl Lãnh tụ của dân tộc Đê-Ga thành lập BAJARAKA tiền thân của Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức (FULRO). Chủ trương chấm dứt phân biệt đối xử các dân tộc thiểu số.
  • Y Blok Eban (1921-), Thiếu tướng, nguyên Chủ tịch UBND đầu tiên của tỉnh Đăk Lăk;
  • Y Bih Aliö, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Giải phóng miền Nam;
  • Y Ngông Niê Kdăm (1922-2001), nguyên Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội Việt Nam;
  • Y Ly Niê Kdăm (s. 1944), Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đăk Lăk;
  • Y Jut Hwing (1888-1934), là một nhân sỹ người Êđê. Lúc nhỏ, là học sinh Trường Tiểu học Pháp – Êđê Buôn Ma Thuột, sau đó ra Huế học. Là một học sinh xuất sắc, tốt nghiệp trở về quê hương dạy cho đồng bào. Ông giỏi tiếng Pháp, kết hợp với bạn bè như Y Ut, Y BLul tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Êđê đặt ra bộ chữ viết Êđê ngày nay. Sau đó bộ chữ này được đốc học Angtoamaki và Sabatier tu chỉnh lại vào năm 1920. Bộ chữ sớm đã được phổ cập rộng rãi trong cộng đồng người Ê đê. Đây là mẫu tự có tính khoa học rất cao, có những kí tự mà Ông sáng tạo ra không có trong hệ thống bảng chữ cái Tiếng Việt. Ngày nay các dân tộc Tây Nguyên đều sử dụng kí tự mà Thầy Y Jút đã sáng tạo ra trong việc ghi Họ Tên, gia phả dòng họ và trong Kinh sách Tôn giáo.
  • Y Wang Mlô Aduôn Du, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam.
  • H'Ngăm Niê Kdăm, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
  • Y Moan Ênuôl thường được viết Y- Moan Êñuôl (1957-2010), nhạc sỹ, ca sĩ.
  • Ama Kông (1910-2012) có tên khai sinh là Y Prông Êban, tên Lào là Khăm Proong, vì có con đầu lòng tên Kông nên theo luật tục gọi là Ama Kông có nghĩa là cha thằng Kông. Ama Kông là người dân tộc M’Nông Ê đê Lào, sinh năm 1910 (theo lời gia đình hoặc sinh năm 1917 theo khai sinh), tại bản Đôn, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, nơi săn bắt và thuần dưỡng voi rừng nổi tiếng của Việt Nam.

Ama Kông là người săn được nhiều voi nhất ở Việt Nam (298 con).

Các tiểu quốc Orang Đê trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê đê và người Gia Rai vốn cùng nguồn gốc từ một tộc người Orang Đê cổ được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Champa, Khmer,...Orang Đê có thể là nhóm mà người Ê đê và Gia Rai gọi là Mdhur, trong văn hóa Mdhur có chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá trung gian giữa người Ê đê và Gia Rai. Trong văn hóa Mdhur trước kia còn tồn tại tục hỏa táng người chết và bỏ tro trong chum, ché sau đó mới mang chôn cất trong nhà mồ, đây có thể là ảnh hưởng của đạo Hin-đu từ người Chăm. Xét về phương diện người Mdhur là cội nguồn xuất phát của người Ê đê và Gia Rai hiện đại. Trong lịch sử Orang Đê đã từng tồn tại các tiểu quốc sơ khai, với sự cai trị của các Mtao, Pơ Tao có thế lực trên một khu vực rộng lớn ở vùng người Gia Rai và Ê đê. Sự hình thành các tiểu quốc nhỏ là đặc điểm thường thấy ở các tộc người Đông Nam á:

  • Mtao Pui- Mtao Êa (Thủy Vương - Hỏa Vương,Tiếng Campuchia là Sadet Tok - Sadet Phlong, là tên gọi của hai vị tiểu vương cai trị tiểu quốc Orang Đê của bộ tộc người Jarai Chor,Jarai Hdrung, Ê đê Krung, Mdhur và một bộ phận Ê đê Adham trên cao nguyên Pleiku,thung lũng Cheoreo, Buôn Hồ,Ea sup, Krông Pa, Mdrak, Krông Hing từ thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19. Sang cuối thế kỷ 18 đầu 19, nhóm Ê đê Adham vùng Krông Buk, Buôn Hồ, Cư Mgar lớn mạnh nhờ giao lưu buôn bán được với người Lào, Khmer, Siêm thông qua vùng Bản Đon ngày nay, Yă Wam là một nữ tù trưởng đã từng dựa vào người Siêm và Lào để đưa người Adham thoát khỏi ảnh hưởng của các Mtao-Ptao vùng Jarai.
Mộ tháp Khun-Su Nốp tại Buôn Trí, là khu vực được Mtao (thủ lĩnh)Yă-Wam vua tiểu quốc Adham cắt tặng đất cho người tình mình là Y-Thu Knul, nhằm chấm dứt những cuộc Nam tiến, Đông tiến của người Lào- Thái
  • Tiểu quốc Adham (TK 18 -TK 19)

Adham hay Dham, hoặc Atham, là một nhóm địa phương của người Ê đê. Người Adham cư trú ở phía tây bắc Đăk Lăk, chủ yếu ở vùng Buôn Hồ, Cư Mgar, Krông Buk và Êa Hleo. Đây là nhóm địa phương đông dân số nhất của người Ê Đê. Khoảng giữa thế kỷ 18 vào đầu thế kỷ 19, người Ê đê Adham đã từng di cư ồ ạt xuống phía tây nam của Dak Lak và dừng lại cộng cư với người Ê đê Kpă vùng Buôn Ma Thuột ngày nay để tránh những cuộc tấn công từ các Mtao Ea- Mtao Pui của tiểu quốc Jarai. Nhờ con đường buôn bán với người Lào, Siêm, Khmer tại các cửa sông Bản Đon ngày nay, thế kỷ 18- 19 được coi thời kỳ phát triển mạnh của Ê đê Adham với sự cai quản của nữ thủ lĩnh Yă Wam được người E đê gọi Mtao Mniê (Vua Bà), Yawam cai trị một khu vực rộng lớn từ Krông Năng, Buôn Hồ, Ea Sup, Cư Mgar, Buôn Đôn. Do vậy, bà được người Lào, người Xiêm kính nể và so sánh ngang với thế lực Mtao Pui, Mtao Êa. Cho đến đầu thế kỉ 20, người Adham là nhóm hùng mạnh và thịnh vượng nhất so với các nhóm Ê đê khác như người Kpă. Địa bàn của người Adham gồm '"...Nam phần Đăk Lăk cho tới lưu vực sông Ya Liau, phía Đông Bắc, họ vượt qua sông Krong Bouk và lan tới tận thượng nguồn sông Nang". Việc bà Yawam cắt đất Buôn Đôn cho Y-Thu Knul để định cư cho một số dân người gốc Lào, Thái Lan lập ra Bản Đôn, chấm dứt cuộc nam tiến của người Lào theo dọc các nhánh sống Mekong, cùng với câu chuyện tình ái giữa Nữ thủ lĩnh danh tiếng và thủ lĩnh săn voi tài giỏi này, là nguyên nhân để tiểu vương quốc Ê đê Adham suy tàn sau khi người Pháp đặt chân đến Bản Đon. Lúc này thế lực Ê đê Kpă vùng Buôn Ma Thuột bắt đầu lớn mạnh nhờ dựa vào thế lực người Pháp thay thế hẳn vai trò của người Ê đê Adham.

Những Câu nói của nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

"Chúng ta phải có chữ của người Êđê, chúng ta cũng cần học tiếng Pháp thật giỏi để người Pháp không dám gọi chúng ta là dân Mọi”.-(Thầy giáo Y-Jut Hwing (1885-1934), người đã sáng tạo ra chữ Ê-đê)

“Đất là lưng ông bà ta, rừng cây, khe suối là của ông bà ta, sao ta lại chịu bỏ nhà, bỏ buôn làng mà đi để bọn giặc chúng giẫm lên lưng ông bà ta, phá phách rừng núi của ông bà ta”. - Tù trưởng Ama Jhao (1840-1905)

"Cuộc đời tôi vừa được ca hát, vừa trồng cà phê, vừa được sống giữa núi rừng, sống với thiên nhiên. Người ta vẫn hỏi tôi, tại sao không dời nhà về thành phố, tại sao không đi diễn nhiều, tại sao không làm kinh tế, câu trả lời của tôi rất giản dị, tôi yêu cuộc sống ở cao nguyên, tôi yêu thiên nhiên quê mình, tôi thích cách sống như vậy, và dù không biết đó có phải là lựa chọn đúng hay không, nhưng tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình. ”—Y Moan Ênuôl

“Ta không sợ nghèo vì ta quen nghèo rồi, ta cũng không sợ chết, nhưng sau ta, ai xứng đáng là sứ giả văn hóa...…”- Y Moan Enuol

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều ra dân số 1999, bảng tính 28.DS99.xls
  2. ^ http://www.joshuaproject.net/peopctry.php?rop3=110776&rog3=CB
  3. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Table 5, page 134
  4. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011
  5. ^ “Thomas Dorothy M. 1963. "Proto-Malayo-Polynesian reflexes in Rade, Jorai and Chru"‭. Studies in Linguistics 17: 59-75.”. 
  6. ^ “Y-Chang Niê Siêng và Kenneth Swain. 1971. Bài học tiếng Ra-đê.‭ Tủ sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam, 7, pt.2. Sài Gòn: Bộ Giáo dục.”. 
  7. ^ “Y-Chang Niê Siêng. 1979. Klei hriăm boh blŭ Êđê - Rade Vocabulary.‭ Tủ sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam, 7. Manila: Viện Ngôn ngữ Summer. xiv, 345 trang.”. 
  8. ^ United Bible Societies. Bilingual New Testament Rade-Vietnamese, 2001 - ISBN 978-1-920714-32-1.
  9. ^ Nhà Xuất bản Tôn giáo, Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê-Việt, Hà Nội, 2006 - Số xuất bản 117-2006 CXB/203-10TG.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anne de Hautecloque - Howe, Nguyên Ngọc và Phùng Ngọc Cửu (dịch) (2004). Người Ê Đê - một xã hội mẫu quyền (bằng tiếng Việt). Hà Nội: NXB Văn hóa dân tộc. 
  • Henri Maître, Lưu Đình Tuân, Nguyên Ngọc (dịch) (2008). Rừng người Thượng (bằng tiếng Việt). Hà Nội: NXB Tri Thức. 
  • Nguyễn Hữu Thấu - Khan Đăm san và Khan Đam kteh Mlan
  • Luật tục Ê đê

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]