Các dân tộc Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Dân tộc Việt Nam)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Loạt bài
Văn hóa Việt Nam
Cố đô Huế
Các khía cạnh văn hóa Việt Nam
Các vùng văn hoá Việt Nam
   Văn hóa vùng Tây bắc
   Văn hóa vùng Đông bắc
   Đồng bằng Bắc Bộ
   Văn hóa Bắc Trung Bộ
   Văn hóa Nam Trung Bộ
   Văn hóa Tây Nguyên
   Văn hóa Đông Nam Bộ
   Văn hóa Tây Nam Bộ
sửa

Các Dân tộc Việt Nam hay người Việt Nam, đôi khi ngắn gọn người Việt là một danh từ chung để chỉ các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.

Hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc và 1 nhóm "người nước ngoài", nêu trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 của Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Nguồn gốc tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tài liệu phổ biến trong thế kỷ 20 thì quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:[a]

  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa khoảng 10-20 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp: Indonésien).
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng khoảng 5 Ka BP. Tại khu vực mà ngày nay là miền bắc Việt Nam, miền nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống), có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới là chủng Nam Á (tiếng Pháp: austro-asiatique).
  3. Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, H'Mông-Dao,... Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm.

Biến động dân tộc từ khi giành độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngừng lại! Phần này có độ chính xác chưa xác định. Xem trang thảo luận để biết thêm về điều này.

Người Việt Nam đang sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay là tập hợp các cộng đồng người Kinh chiếm đa số (82%) và 53 cộng đồng người thuộc sắc tộc thiểu số. Người Kinh không phải là một cộng đồng dân tộc thuần nhất, mà là tập hợp của hàng chục sắc tộc đã từng lai tạp đồng hóa với nhau trong quá khứ của ba cộng đồng chánh, nhưng ngày nay đều có chung một đặc tính thống nhất về phong tục tập quán và sử dụng hoàn toàn Việt ngữ. Nghiên cứu di truyền nhân chủng học chỉ ra rằng cả 3 cộng đồng người Việt khá thuần nhất và khoảng cách di truyền gần với những người nói tiếng Tày-Thái (bao gồm những người Tày Nùng ở Việt Nam và Choang ở Trung Quốc) hơn là những người Chăm hay Khmer[1].

- Người Việt miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ:[cần dẫn nguồn] là cộng đồng người Việt cổ thuộc tiểu chủng Mongloid phương Nam, cư trú từ xa xưa trên châu thổ sông Hồng, sông Mã và sông Cả (đồng bằng sông Hồng và Thanh Nghệ Tĩnh) thuộc nền văn minh Đông Sơn, lai tạp với thiểu số các sắc dân Tây Âu (nói tiếng Tày Thái), cũng như các sắc dân Bách Việt (Mân Việt, Đông Âu) và người Hán phương Bắc.

- Người Việt miền Nam Trung Bộ:[cần dẫn nguồn] là cộng đồng người thuộc tiểu chủng Mongloid phương Nam, cư trú trên lãnh thổ thuộc các triều đại Champa từng tồn tại trên lãnh thổ miền Trung Việt từ Quảng Bình đến Bình Thuận ngày nay, thuộc nền văn minh di chỉ Sa Huỳnh. Những sắc dân cổ ở đây bị lai tạp với một lượng đa số người Việt miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (phần lớn là lưu dân Thanh Nghệ Tĩnh) và thiểu số Trung Hoa từ phía bắc di cư xuống, với người Khmer và Ấn Độ từ phía tây di cư sang, sau đó chấp nhận chánh sách cưỡng bức đồng hóa của triều đình Đại Việt, hoàn toàn trở thành người Kinh, sử dụng Việt ngữ và theo phong tục tập quán của người Việt chiếm đa số đến từ miền Bắc.

- Người Việt miền Nam Bộ:[cần dẫn nguồn] là cộng đồng người thuộc tiểu chủng Mongloid phương Nam, cư trú trên lãnh thổ thuộc các triều đại Phù Nam từng tồn tại trên châu thổ sông Cửu Long ngày nay, thuộc nền văn minh di chỉ Óc Eo. Những sắc dân cổ này lại lai tạp với một thiểu số người Khmer từ phía bắc di cư xuống sau khi Vương quốc Phù Nam bị người Khmer thôn tính, rồi lại tiếp tục lai tạp với một đa số người Việt miền Nam Trung Bộ, một số nhỏ người Việt miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ và sắc dân Nam Trung Hoa từ phía đông bắc di cư xuống, chấp nhận chính sách cưỡng bức đồng hóa của triều đình Đàng Trong-Việt Nam-Đại Nam, hoàn toàn trở thành người Kinh, sử dụng Việt ngữ và theo phong tục tập quán thống nhất của người Việt miền Bắc và miền Trung.

Mỗi khi bộ phận người này bị hoạn nạn, như thiên tai bão lụt hạn hán thì kêu gọi: ‘Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’. Lập tức người trong nước đều cùng nhau quyên góp cưu mang đùm bọc.

Dưới thời vua Minh Mạng áp dụng chính sách thống nhất dân tộc để dễ cai trị, gọi chung ba cộng đồng cùng sử dụng Việt ngữ (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) là người Kinh, tức người do Kinh đô Huế trực trị và đã hoàn toàn thuần phục, để phân biệt với các sắc dân mà triều đình Huế gọi là “man di” chưa được hoàn toàn giáo hóa, thường sống tự trị và tập trung ở vùng rừng núi, thường gọi là người Thượng,...

Các dân tộc Việt Nam hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.846.997 người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước.

54 dân tộc sống trên đất Việt Nam chia theo ngôn ngữ thì có 8 nhóm.[b]. Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 86,2% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái (Chữ Thái Đen: ꪼꪕ), Mường, Khmer, Hoa, Nùng, H'Mông, người Dao, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Sán Dìu, Ra Glai. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền trungđồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đuRơ Măm chỉ có trên 300 người.

Số liệu dân số theo Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009.[2]

Số liệu 2014 để tham khảo, không có chi tiết cho các dân tộc.

Nhóm Dân tộc Dân số Tên gọi khác
 Việt Nam 04/2014 90.493.352 Số liệu dân số 04/2014[3]
 Việt Nam 04/2009 85.846.997 Trong đó có tính cả 2.134 người thành phần khác
1. Nhóm Việt - Mường
(Vietic)
Kinh 73.594.427 Việt
Chứt 6.022 Xá La Vàng, Chà Củi, Tắc Củi, Mày
Mường 1.268.963 Mol, Mual
Thổ 74.458
2. Nhóm Tày - Thái
(Tai–Kadai)
Bố Y 2.273 (Bouyei) Chủng Chá, Trung Gia, Pầu Y, Pủ Dí
Giáy 58.617 (Bouyei) Nhắng, Giắng, Sa Nhân, Pấu Thỉn, Chủng Chá, Pu Năm
Lào 14.928 Lào Bốc, Lào Nọi
Lự 5.601 Lừ, Duôn, Nhuồn
Nùng 968.800
Sán Chay 169.410 Mán, Cao Lan - Sán Chỉ, Hờn Bạn, Hờn Chùng, Sơn Tử
Tày 1.626.392 Thổ
Thái 1.550.423 Táy
3. Nhóm Kadai
(Kra)
Cờ Lao 2.636 (Gelao)
La Chí 13.158 (Lachi) Thổ Đen, Cù Tê, Xá, La Ti, Mán Chí
La Ha 8.177 Xá Khao, Xá Cha, Xá La Nga
Pu Péo 687 (Qabiao, Pubiao) Ka Bẻo, Pen Ti Lô Lô, La Quả, Mán
4. Nhóm Môn – Khmer
(Austroasiatic)
Ba Na 227.716 (Bahnar) Bơ Nâm, Roh, Kon Kde, Ala Công, Kpang Công
Brâu 397 Brao
Bru - Vân Kiều 74.506 (Bru)
Chơ Ro 26.855 Châu Ro, Dơ Ro
Co 33.817 (Cor) Trầu, Cùa, Col, Khùa
Cơ Ho 166.112 (Koho)
Cơ Tu 61.588 (Katu) Ca Tu, Ca Tang, Cao, Hạ
Giẻ Triêng 50.962 Giang Rẫy, Brila, Cà Tang, Doãn
Hrê 127.420 (H're) Chăm Rê, Thạch Bích
Kháng 13.840 Xá Khao, Xá Đón, Xá Tú Lăng
Khơ Me 1.260.640 Khmer
Khơ Mú 72.929 (Khmu) Xá Cẩu, Pu Thênh, Tày Hạy, Việt Cang, Khá Klậu, Tênh
Mạ 41.405
Mảng 3.700 Mảng Ư, Xá Lá Vàng, Niễng O, Xa Mãng, Xá Cang Lai
M’Nông 102.741 (Mnong)
Ơ Đu 376 Tày Hạt
Rơ Măm 436
Tà Ôi 43.886 (Ta Oi) Tôi Ôi, Ta Hoi, Ta Ôih, Tà Uất, A tuất, Pa Cô ?
Xinh Mun 23.278 Puộc, Pụa, Xá.
Xơ Đăng 169.501 (Sedang) Kmrâng, H'Đang, Con Lan, Brila
X’Tiêng 85.436 (Stieng) Xa Điêng, Tà Mun
5. Nhóm H'Mông - Dao
(Hmong–Mien)
Dao 751.067 (Yao) Mán, Động, Trại, Dìu, Miến, Kiêm, Kìm Mùn
H’Mông 1.068.189 (Hmong) Mông, Mèo, Mẹo, Mán, Miêu Tộc
Pà Thẻn 6.811 Pà Hưng, Mán Pa Teng, Tống
6. Nhóm Nam đảo
(Malayo-Polynesia)
Chăm 161.729 Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời, Chàm
Chu Ru 19.314 Chơ Ru, Kru
Ê Đê 331.194 (Rhade) Ra đê
Gia Rai 411.275 (Jarai) Chơ Rai
Ra Glai 122.245 (Roglai) O Rang, Glai, Rô Glai, Radlai
7. Nhóm Hán
(Sinitic)
Hoa 823.071 (Overseas Chinese) Tiều, Hán
Ngái 1.035 (Hakka Chinese) Sán Ngái
Sán Dìu 146.821 Trại, Trại Đát, Sán Rợ, Mán quần cộc, Mán váy xẻ
8. Nhóm Tạng-Miến
(Tibeto-Burma)
Cống 2.029 (Phunoi)
Hà Nhì 21.725 (Hani) U Ní, Xá U Ní, Hà Nhì Già
La Hủ 9.651 (Lahu)
Lô Lô 4.541 (Yi) Mùn Di, Ô Man, Lu Lọc Màn, Di, Qua La, La La, Ma Di
Phù Lá 10.944 Phú Lá (Xá Phó)
Si La 709 Cú Đề Xừ[4][5]

Có thể nhận thấy mỗi một dân tộc có thể có một hoặc nhiều tên gọi. Trong số các tên gọi đó có thể trùng nhau:

  • Dân tộc Mán có thể là: Sán Chay, Dao, H’Mông, Pu Péo, Sán Dìu (Mán quần cộc, Mán váy xẻ)
  • Dân tộc có thể là: Xinh Mun, La Chí.
  • Dân tộc Brila có thể là: Giẻ Triêng, Xơ Đăng.
  • Dân tộc Thổ có thể chỉ dân tộc Tày.

Phân bố lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Kinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, gần các con sông, và tại các khu đô thị.

Hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm) sống tại các vùng trung du và miền núi.

Người Mường sống chủ yếu trên các vùng đồi núi phía Tây đồng bằng sông Hồng, tập trung ở Hòa Bình và Thanh Hóa.

Người Thái (ꫛ ꪼꪕ) định cư ở bờ phải sông Hồng (Sơn La ꪹꪎꪷꪙ ꪨꪱ, Lai Châu ꪨꪱꪥ ꪹꪊꪱ). Người Tày sống ở bờ trái sông Hồng (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên), người Nùng sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng.

Các nhóm dân tộc thiểu số khác không có các lãnh thổ riêng biệt; nhiều nhóm sống hòa trộn với nhau. Một số nhóm dân tộc này đã di cư tới miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam trong các thời gian khác nhau: người Thái đến Việt Nam trong khoảng từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13; người Hà Nhì, Lô Lô đến vào thế kỉ 10; người Dao vào thế kỷ 11; các dân tộc H'Mông, Cao Lan, Sán Chỉ, và Giáy di cư đến Việt Nam từ khoảng 300 năm trước.

Các nhóm dân tộc thiểu số ở trung du và miền núi phía Nam chủ yếu là các dân tộc bản địa và thường sống tại các lãnh thổ riêng. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, trong đó có Ba Na, Bru, và Vân Kiều, sống ở cánh Bắc Trường Sơn. Người M’Nông, Xtiêng, và Mạ sống ở đầu phía Nam của dãy Trường Sơn.

Các dân tộc thuộc nhóm Nam Đảo gồm Êđê, ChămGia rai, đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên[6]. Trong các dân tộc này, người Chăm sinh sống ở đồng bằng ven biển miền Trung, các dân tộc khác sống rải rác dọc theo dãy Trường Sơn. Người Chăm cùng với người Kinh là những dân tộc có nền văn hóa phát triển nhất với nhiều công trình nghệ thuật, chùa, đình, đền, tháp... Ở Việt Nam là nơi rất nhiều dân tộc khác nhau, cách sống cũng rất khác nhau. Ở nhiều nơi trên dân tộc có rất nhiều đền thờ miếu,...

Dân tộc chưa được xác định rõ[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những dân tộc được nhắc đến trong hoạt động xã hội, nhưng lại không được nêu trong danh sách 54 dân tộc tại Việt Nam.

Người Pa Kô từng được nhắc đến trong văn hóa văn nghệ Việt Nam, như bài hát "Cô gái Pa Kô" của nhạc sĩ Huy Thục. Bà Hồ Kan Lịch là một trong những nữ anh hùng lực lượng vũ trang đầu tiên trên dải Trường Sơn, và "là người dân tộc Pa Kô", quê ở huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế. Theo cách diễn đạt ở trang wiki này và trang Người Bru - Vân Kiều thì có thể hiểu họ được coi là người Vân Kiều, đặc biệt là sự tích mang họ Hồ. Tuy nhiên trang wiki tiếng Việt Người Pa Kô cho thấy họ được coi là Người Tà Ôi và đang có đề nghị xét công nhận là dân tộc riêng. Các bản wiki tiếng Anh Pacoh peoplePacoh language, cũng như Ethnologue[7] xếp đó là đối tượng riêng, có quan hệ gần với người Tà Ôi và có vùng cư trú truyền thống là trung Việt Nam và hạ Lào.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Giả thuyết này chưa có cập nhật những thành tựu mới trong nghiên cứu tiến hóa loài người từ 1990 đến nay, cũng như không giải thích được sự ra đời và phân bố ngôn ngữ, nên đã nói lửng lơ "Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng..."
  2. ^ Không được dùng từ "Mọi" để chỉ các dân tộc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Min-Sheng Peng, Huy Ho Quang, Khoa Pham Dang, An Vu Trieu, Hua-Wei Wang, Yong-Gang Yao, Qing-Peng Kong, Ya-Ping Zhang, Tracing the Austronesian Footprint in Mainland Southeast Asia: A Perspective from Mitochondrial DNA, trang 2424, hình 4.
  2. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009. Phần I: Biểu Tổng hợp. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 18/08/2015.
  3. ^ Trang Web Thủ tướng. Dân số Việt Nam. Truy cập 22/08/2015.
  4. ^ Theo Non nước Việt Nam, Vũ Thế Bình, Sách hướng dẫn du lịch, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, 2012
  5. ^ Theo 500 câu Hỏi – Đáp lịch sử - Văn hóa Việt Nam, Hà Nguyễn – Phùng Nguyên, Nhà xuất bản Thông tấn, 2011
  6. ^ Mai Lý Quảng, tr. 91
  7. ^ Pacoh at Ethnologue. 18th ed., 2015. Truy cập 15/10/2015.
  8. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, eds. (2013). "Pacoh". Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
  • Nguyễn Đình Khoa, Nhân chủng học Đông Nam Á, Nhà xuất bản ĐH và THCN, 1983
  • Phạm Đức Dương, Văn hóa học đại cương và cơ sở VHVN, Nhà xuất bản KHXH 1996
  • Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc VHVN, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh 2001
  • Hà văn Thùy "Lời cáo chung cho thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt" [1]
  • Công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 [2]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]