Lâm Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Lâm Bình

Huyện
Hành chính
VùngĐông Bắc Bộ
TỉnhTuyên Quang
Huyện lỵLăng Can
Phân chia hành chính8 xã
Thành lập2011[1]
Địa lý
Tọa độ: 22°27′10″B 105°13′18″Đ / 22,45278°B 105,22167°Đ / 22.45278; 105.22167Tọa độ: 22°27′10″B 105°13′18″Đ / 22,45278°B 105,22167°Đ / 22.45278; 105.22167
Diện tích781,52 km²
Dân số (2013)
Tổng cộng31.468 người
Mật độ40 người/km²
Dân tộcTày, Dao, Kinh, H'Mông, Pà Thẻn
Khác
Mã hành chính071
WebsiteHuyện Lâm Bình

Lâm Bình là một huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Bình là một huyện miền núi nằm ở phía bắc tỉnh Tuyên Quang, có vị trí địa lý:

  • Phía đông giáp huyện Na Hang
  • Phía tây giáp tỉnh Hà Giang
  • Phía nam giáp huyện Chiêm Hóa
  • Phía bắc giáp tỉnh Hà Giang.

Huyện Lâm Bình có diện tích 78.152,17 ha, dân số năm 2013 là 31.468 người.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Đến 2013, huyện có 6.990 hộ, với 31.468 nhân khẩu. Trong đó, nam 15.855 người; nữ 15.613 người. Dân số nông thôn: 31.468 người

Cư dân sinh sống trên địa bàn huyện gồm 14 dân tộc, trong đó: Tày 19.354 người, Dao 8.438 người, Kinh 1.016 người, H Mông 2.135 người, Pà Thẻn 419 người còn lại là các dân tộc khác.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Bình có địa hình hiểm trở, có nhiều núi đá vôi, thấp dần từ bắc xuống nam; bị chia cắt rất lớn, nhiều vùng gần như biệt lập, sự gắn kết giữa các vùng dân cư, các điểm kinh tế - xã hội hạn chế. Nằm trên vòng cung sông Gâm, Lâm Bình có nhiều dãy núi lớn. Núi đất và núi đá xen kẽ lẫn nhau, tạo thành nhiều thung lũng lớn, nhỏ. Huyện có nhiều đỉnh núi cao trên 1.000m, tập trung chủ yếu ở các xã Lăng Can, Xuân Lập, Phúc Yên, dãy núi có đỉnh cao nhất là núi Phia Choóng (thuộc địa phận xã Bình An, cao 1.229m).

Đây cũng là những nơi có địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh, giao thông khó khăn, độ che phủ của rừng còn khá lớn, đó cũng là vùng giàu tài nguyên nhất của huyện.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Do ảnh hưởng của địa hình, khí hậu của Lâm Bình phụ thuộc vào độ cao và đặc điểm của núi. Vùng cao trên 800m mang sắc thái khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ cao nhất trong năm khoảng trên 30°. Vùng thấp dưới 800m mang sắc thái khí hậu á nhiệt đới, nóng, ẩm. Khí hậu trong năm chia làm 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình trong năm là 22độ, độ ẩm không khí khoảng 85%, lượng mưa trung bình 1.800mm.

Nằm sâu trong nội địa, được che chắn bởi nhiều dãy núi cao, Lâm Bình thường hay có gió xoáy, gió lốc thất thường, không theo chu kỳ. Mùa lạnh nhiều sương, đầu mùa hè hay có mưa đá, mùa mưa thường có các trận lũ ngắn đột ngột.

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Sông, suối có tốc độ dòng chảy lớn, nhiều thác ghềnh, thường lũ trong mùa mưa; tuy có gây một số khó khăn trong phát triển KT-XH, song cũng có những tiềm năng kinh tế. Đặc biệt, huyện có diện tích mặt nước lòng hồ thủy điện Na Hang trên 3.500ha, ngoài cung cấp nước phục vụ đời sống, sản xuất, sông suối còn có nguồn thuỷ sản khá phong phú với nhiều loại cá ngon và thuận lợi trong phát triển du lịch, là đường giao thông quan trọng giữa các vùng, đồng thời có thể phát triển thuỷ điện nhỏ và các công trình thuỷ điện lớn. Nhiều thác nước tạo nên những thắng cảnh hấp dẫn.

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 78.495,51ha; trong đó: Đất nông nghiệp: 71.214,65 ha, chiếm 90,72%, trong đó đất lâm nghiệp: 68.969,78 ha, chiếm 87,86%; đất sản xuất nông nghiệp 2.180,47ha, chiếm 2,78%; Các loại đất khác: 7.280,86 ha, chiếm 9,28%. Diện tích đất nông nghiệp của huyện không lớn, thích hợp với việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp. Có thảm thực vật phong phú để phát triển chăn nuôi đại gia súc. Đất đai, khí hậu một vài nơi cho phép trồng các loại cây ăn quả ôn đới và phát triển nghề rừng.

Tài nguyên rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Rừng Lâm Bình có nhiều loại gỗ, dược thảo và muông thú quý, hiếm; đó là thế mạnh kinh tế cơ bản của huyện. Nằm ở thượng nguồn sông Gâm, rừng có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ nguồn nước, hạn chế tác dụng của lũ, lụt đối với vùng hạ lưu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Địa bàn huyện Lâm Bình trước đây vốn thuộc hai huyện Na Hang và Chiêm Hóa. Theo Đại Nam nhất thống chí và các sách địa lý học lịch sử khác: Các đời Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009), Lý (1010 - 1225), Trần (1225 - 1400) địa bàn các huyện trên thuộc châu Vị Long. Thời thuộc Minh (1414 - 1427) là châu Đại Man. Từ thời Lê đến đầu thời Nguyễn, châu Đại Man thuộc phủ Yên Bình. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) đổi gọi châu Đại Man là châu Chiêm Hóa, thuộc phủ Yên Ninh (sau đổi là phủ Tương Yên).

Trong thời kỳ Pháp thống trị, châu Chiêm Hóa thuộc Tiểu quân khu Hà Giang (1891 - 1895), rồi thuộc Tiểu quân khu Tuyên Quang (1895 - 1900) nằm trong Đạo quan binh 3, rồi thuộc tỉnh Tuyên Quang tái lập ngày 11 tháng 4 năm 1900.

Tháng 11 năm 1944, châu Chiêm Hóa được chia làm hai châu Chiêm Hóa và Nà Hang:

  • Châu Chiêm Hóa gồm 4 tổng: Cổ Linh, Đài Quan, Vĩnh Gia và Thổ Bình
  • Châu Nà Hang gồm 3 tổng: Vĩnh Yên, Thượng Lâm và Côn Lôn.

Ngày 26 tháng 2 năm 2011, tại xã Lăng Can, huyện Nà Hang, Tỉnh ủy và UBND Tuyên Quang tổ chức lễ công bố Nghị quyết số 07/NQ-CP của Chính phủ[1] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Nà Hang và huyện Chiêm Hóa để thành lập huyện Lâm Bình thuộc tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở tách 5 xã: Lăng Can, Thượng Lâm, Khuôn Hà, Phúc Yên, Xuân Lập thuộc huyện Na Hang và 3 xã: Bình An, Thổ Bình, Hồng Quang thuộc huyện Chiêm Hóa.

Sau khi thành lập, huyện Lâm Bình có 8 xã trực thuộc. Huyện lỵ đặt tại xã Lăng Can.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Lâm Bình có 8 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 8 xã: Bình An, Hồng Quang, Khuôn Hà, Lăng Can (huyện lỵ), Phúc Yên, Thổ Bình, Thượng Lâm, Xuân Lập.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 2.180,47 ha, các cánh đồng phần lớn nhỏ, hẹp, phân tán dọc các triền đồi, một số cánh đồng rộng nằm ở các xã: Thượng Lâm, Thổ Bình,... Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện tuy không lớn song mầu mỡ, thích hợp với việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng các loại cây ăn quả ôn đới.

Tổng sản lượng lương thực năm 2013 đạt 17.375 tấn. Năng suất lúa 56,2 tạ/ha, năng suất ngô 38,7 tạ/ha. Hệ số sử dụng đất 2,1 lần. Diện tích cây chè đạt 247,3 ha,.. Đang triển khai một số cây trồng mới, như: Lúa lai, ngô lai; cây bông được trồng ở các xã: Thượng Lâm, Lăng Can, Phúc Yên, Khuôn Hà,... Trong thời gian tới, chú trọng phát triển cây công nghiệp hàng hoá: Lạc, chè, mía và một số cây dược liệu.

Lâm nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện có 68.969,78 ha đất lâm nghiệp. Rừng có nhiều loại gỗ, thảo dược và muông thú quý, hiếm.

Song song với khai thác, huyện thực hiện việc trồng, khoanh nuôi, tái sinh rừng, tập trung vào các loại cây chủ yếu: Quế, lát, mỡ, keo,... Sau khi thực hiện giao đất, giao rừng, toàn huyện có 68,985 ha rừng. Độ che phủ rừng đạt trên 70%.

Nông lâm nghiệp thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

Điều kiện tự nhiên của huyện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp như: Bông, chè Shan, lạc... Chăn nuôi đại gia súc như: Trâu, bò, ngựa, dê ...Các loại cá có giá trị kinh tế cao như: Dầm xanh, Anh vũ, cá lăng, cá Chiên; nuôi cá Tầm trên khu vực lòng hồ thủy điện Tuyên Quang. Độ che phủ rừng đạt trên 70%, có nhiều loài cây quý hiếm như: Đinh hương, nghiến, trai, sến...

Đàn trâu có 8.312 con, đàn bò 1.345 con, đàn lợn có 23.476 con. Thực hiện Dự án ương nuôi cá giống thả hồ chứa nước thủy điện Tuyên Quang. Đang triển khai những vật nuôi mới như: Cá tấm, cá lăng, cá rô phi đơn tính, phát triển 56 lồng cá trên hồ thủy điện, tổng sản lượng nuôi trồng, khai thác thủy sản năm 2013 đạt 331 tấn.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Công nghiệp khai khoáng, chế biến nông, lâm sản,...

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định năm 1994) đạt 10.140 triệu đồng.

Thủ công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống:

  1. Nghề trồng bông chủ yếu ở các xã: Thượng Lâm, Lăng Can, Phúc Yên, Khuôn Hà, sản phẩm là bông, vải sợi.
  2. Nghề dệt thổ cẩm ở các xã: Thượng Lâm, Lăng Can, Phúc Yên, Khuôn Hà, sản phẩm là chăn, gối, địu, quần áo, khăn, túi thổ cẩm.
  3. Nghề đan lát mây, tre, giang ở xã Lăng Can, sản phẩm là: Mành cọ, khay, giỏ, đĩa,...
  4. Nghề gò, hàn, rèn ở các xã Thượng Lâm, Xuân Lập, Bình An với sản phẩm là dao, cuốc, xẻng, cày, bừa và các sản phẩm khác..
  5. Nghề mộc ở các xã Thượng Lâm, Lăng Can, Thổ Bình với sản phẩm là gỗ, ván, tủ, giường, bàn ghế...
  6. Các ngành nghề mới: Khai thác sỏi, cát ở xã Lăng Can, khai thác đá ở Thượng Lâm, Lăng Can; sản xuất gạch không nung chỉ ở các xã Lăng Can, Thổ Bình...

Dịch vụ, thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có 3 chợ để trao đổi, mua bán các mặt hàng tiêu dùng và 16 điểm bán hàng chính sách xã hội. Các chợ tiêu biểu là:

  1. Chợ Thượng Lâm (trung tâm xã Thượng Lâm) họp vào thứ 5 và chủ nhật hàng tuần. Hàng hoá tiêu biểu bán tại chợ là quần áo, giầy, dép, hàng nông sản, lương thực, thực phẩm.
  2. Chợ Lăng Can (trung tâm xã Lăng Can) họp vào thứ 7 hàng tuần.
  3. Chợ Hồng Quang (trung tâm xã Hồng Quang) họp vào thứ 5 hàng tuần.

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm học 2013 - 2014: Toàn huyện có 26 trường học, trong đó:

  • Mầm non: 8 trường
  • Tiểu học: 8 trường
  • THCS: 8 trường
  • THPT: 2 trường.

Số lớp học của từng cấp học:

  • Mầm non: 120 nhóm lớp với 2.280 học sinh
  • Tiểu học 178 lớp với 2.548 học sinh
  • Trung học cơ sở 62 lớp với 1.790 học sinh
  • THPT: 21 lớp, với 837 học sinh.

Giáo viên:

  • Mầm non: 199 (cán bộ quản lý: 21, giáo viên: 170, nhân viên: 8)
  • Tiểu học: 251 (cán bộ quản lý: 22, giáo viên: 220, nhân viên: 9)
  • THCS: 155 (cán bộ quản lý: 16, giáo viên: 128, nhân viên: 11)
  • THPT: 53 (cán bộ quản lý: 4, giáo viên: 47, nhân viên: 2).

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2014, huyện có 1 bệnh viện đa khoa, với 50 giường bệnh và 8 trạm y tế xã với 40 giường bệnh.

Huyện có 12 bác sĩ; 52 Y sĩ ; 23 điều dưỡng, nữ hộ sinh; 5 dược sỹ.

Bưu chính viễn thông[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có 2 Bưu cục cấp III:

  • Bưu cục Lăng Can phụ trách quản lý mạng bưu chính trên toàn huyện
  • Bưu cục Thượng Lâm.

Với 5 điểm bưu điện văn hoá xã gồm: Khuôn Hà, Xuân Lập, Bình An, Thổ Bình, Hồng Quang.

Đường thư vận chuyển đi Tỉnh lỵ mỗi ngày 1 chuyến. Duy trì phát công văn, thư báo đến 100% các xã, các cơ quan, đơn vị trong huyện hàng ngày.

Huyện có 1 Đài truyền thanh - Truyền hình, 1 trạm thu phát sóng truyền hình ở xã Thượng Lâm. Đã lắp đặt và đưa vào sử dụng các trạm truyền thanh không dây ở 8/8 xã.

Điện khí hoá nông thôn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1996, mạng lưới điện quốc gia được đưa vào sử dụng và hoạt động ổn định. Đến nay, đường điện đã đến 100% xã với 100 km đường dây 35 kV; 108 km đường dây 0,4 kV và có 44 trạm biến áp.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tên địa bàn huyện có 7 di tích, danh thắng được xếp hạng cấp Quốc gia: Chùa Phúc Lâm, xưởng Quân khí H52, hang Phia Vài, động Song Long, thác Nặm Me, thắng cảnh Thượng Lâm, Đền Pú Bảo.

  • Du lịch tâm linh: di tích chùa Phúc Lâm, đền Pú Bảo,...
  • Du lịch sinh thái: Lâm Bình có rừng nguyên sinh với thảm thực vật phong phú, bảo tồn được nhiều loại động vật quý hiếm; danh thắng 99 ngọn núi, thác Nặm Me,... là tiềm năng để phát triển. Vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang: Hòn Cọc Vài, thác Khuổi Slung, động Song Long, hang Phia Vài, xưởng Quân khí H52.
  • Du lịch văn hóa: Hàng năm, vào tháng Giêng có lễ hội Lồng tông ở Thượng Lâm, Lăng Can với các hoạt động: Lễ xuống đồng, hội tung còn, đánh pàm, đánh yến, đẩy gậy, kéo co; biểu diễn then, cọi, quan làng của người Tày; hát páo dung của người Dao; thổi khèn lá, múa khèn của người Mông, lễ nhảy lửa huyền bí của người Pà Thẻn ở Hồng Quang, lễ giã cốm của dân tộc Tày. Năm 2012, lễ hội Lồng tông của dân tộc Tày được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.
  • Du lịch danh lam thắng cảnh: Lâm Bình có danh thắng 99 ngọn núi, Cầu Da (xã Thượng Lâm).

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tỉnh lỵ Tuyên Quang đến trung tâm huyện đi theo hai tuyến:

Giao thông đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc lộ 279
  • Đường tỉnh 185
  • Đường tỉnh 188
  • Thượng Lâm đến Bến Thủy (ĐH. 01)
  • Thượng Lâm - Phúc Yên (ĐH. 02)
  • Nà Nghè – Thượng Minh, xã Hồng Quang (ĐH. 03).

Đường đô thị

  • Nà Mèn - Tràn Nặm Đíp (ĐT. 01)
  • Tràn UBND xã Lăng Can - Sân vận động Bản Kè
  • Sân vận động Bản Kè – Bản Khiển (ĐT. 03).

Tổng số phương tiện hoạt động đón, trả khách tại bến xe có 6 xe khách, trong đó:

  • Vận tải khách các tuyến liên tỉnh 6 xe
  • Vận tải khách các tuyến liên tỉnh liền kề 1 xe
  • Vận tải khách các tuyến nội tỉnh, nội huyện 6 xe
  • Tổng số xe xuất bến bình quân 07 chuyến/ngày, lượng khách xuất bến trung bình 200 khách/ ngày.

Đường thuỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Có 2 tuyến:

  • Tuyến 1: Bến Thủy (xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình) đi huyện Na Hang
  • Tuyến 2: Bến Thủy (xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình) đi huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]