Khố

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một người đàn ông Korneo đóng khố

Khố là một trong những loại trang phục cổ xưa nhất của nhân loại. Nó bao phủ bộ phận sinh dục và ít nhất một phần mông bằng cách quấn tựa vào vòng thắt lưng.[1][2]

Trước đây nhiều vùng sử dụng nó, hiện tại vẫn còn được sử dụng hạn chế như ở vùng cao, vùng xa nơi còn lạc hậu, ngoài ra một số nước giữ gìn nó như bản sắc văn hóa khi có hội hè.

Nam thanh niên dân tộc Igorot, Phillipines đóng khố

Lịch sử và các loại[sửa | sửa mã nguồn]

Một hình thức của cái khố mặc cùng với một chiếc áo choàng của người Aztec,

Đóng khố được mặc trong các xã hội không có quần áo như là một đồ lót hoặc áo tắm bởi đô vật và nông dân. Ở Sri LankaẤn Độ nó được gọi là kaupinam hoặc khố ở Việt Nam. Khố là một hình thức cơ bản của trang phục. Đàn ông mặc khố như một phần của quần áo để che bộ phận sinh dục của họ chứ không phải là mông ở hầu hết các xã hội trong suốt lịch sử của con người.[3]

Hai người đàn ông dân tộc Mojave đóng khố

Một cái khố là một dải vật liệu (vỏ cây, vải, da) được thông qua giữa hai đùi và được gắn vào thân người bằng một vành đai bao quanh thắt lưng. Thông thường nam giới chủ yếu đóng khố, dùng để che giữ bộ phận sinh dục. Khố là phục trang thể hiện nhân phẩm của những người theo truyền thống mặc chúng. Có nhiều cách đóng khố. Cả khố của các dân tộc vùng Borneo thuộc Indonesia và khố kaupinam Ấn Độ dùng vải luồn giữa hai chân để che bộ phận sinh dục của một người đàn ông. Khố của các dân tộc bản địa châu Mỹ cũng không ngoại lệ. Trong thời tiền Colombus, tại Nam Mỹ, đàn ông người Inca mặc một mảnh vải ở giữa hai chân của họ được giữ bằng dây hoặc băng như một vành đai. Vải phủ phía trước và sau như một chiếc tạp dề và luôn được trang trí. Cái khố tại Nhật Bản được gọi là etchu fundoshi. Một số nền văn hóa tại Amazon vẫn mặc một kiểu khố nguyên thủy. Đàn ông Nhật Bản cho đến gần đây mặc khố được biết đến là fundoshi. Các fundoshi là miếng vải (bông hoặc lụa) rộng 35 cm (14 in.) được luồn qua giữa hai đùi và để che dương vật. Nam giới dân tộc YamiĐài Loan cũng mặc khố tương tự fundoshi Nhật Bản

Một cái khố là một dải vật liệu - thường là hẹp hình chữ nhật - qua lại giữa hai đùi và bao quanh người bởi một vành đai hoặc chuỗi. Thông thường, các cánh tà rủ xuống ở mặt trước và sau, như khố sirat của dân tộc Dayak và Murut - Malaysia, khố bahag của dân tộc Igorot - Philippines và khố của các dân tộc Tây Nguyên - Việt Nam, dân tộc Anak Dalam ở Indonesia, dân tộc Tampuan ở Campuchia hay các dân tộc thiểu số thuộc ngữ hệ Nam Đảo như người Māori, người Rapa Nui,... Xưa kia nam giới các dân tộc ở Thái Lan hay Myanmar cũng đều đóng khố và có tục xăm mình, riêng người Lan Na xăm từ phần đùi xuống cổ chân. Khố của nam giới Thái gọi là nung tiểu (tiếng Thái: นุ่งเตี่ยว, Phát âm tiếng Thái: [Nùng teī̀yw]).

Một nhóm võ sĩ sumo mặc khố

Trong sumo, mawashi (廻し) là chiếc khố mà rikishi (đô vật sumo) mặc khi tập luyện hoặc thi đấu. Các đô vật chuyên nghiệp xếp hạng trên mặc keshō-mawashi như một phần của lễ nhập võ đài hoặc dohyō-iri.

Đối với rishiki (力士) hay sumōtori (相撲取り) hoặc osumōsan (お相撲さん) chuyên nghiệp được xếp hạng hàng đầu , nó được làm bằng lụa và có nhiều màu sắc. Nó có chiều dài khoảng 9,1 m khi chưa gói, rộng khoảng hai feet và nặng khoảng 8 đến 11 lb (3,6 đến 5,0 kg). Nó được quấn nhiều lần quanh rikishi và buộc chặt ở phía sau bằng một nút lớn. Một loạt các dải lụa cứng có màu sắc phù hợp gọi là sagari được đưa vào mặt trước của mawashi. Số của chúng thay đổi từ 13 đến 25 và luôn là số lẻ. Họ đánh dấu phần duy nhất của mawashi mà việc lấy vào là bất hợp pháp: phần dọc bao phủ món sumotoriháng, và nếu họ ngã ra trong khi thi đấu, gyōji (trọng tài) sẽ ném họ khỏi võ đài ngay cơ hội đầu tiên.

Đôi khi một rikishi có thể mặc mawashi của mình theo cách để tạo cho anh ta một số lợi thế trước đối thủ của mình. Anh ta có thể mặc nó lỏng lẻo để khó bị ném hơn, hoặc anh ta có thể quấn chặt nó và vẩy một ít nước lên nó để giúp đối thủ của mình không thể nắm chặt nó. Sự lựa chọn của anh ta sẽ phụ thuộc vào loại kỹ thuật mà anh ta muốn sử dụng trong các cuộc đấu của mình. Vì vậy, một đô vật sumo đai thường sẽ mặc nó lỏng hơn, trong khi những người thích kỹ thuật đẩy sẽ có xu hướng đeo mawashi chặt hơn.

Nhiều rikishi rất mê tín và sẽ thay đổi màu sắc của mawashi để thay đổi vận may. Đôi khi, một màn trình diễn kém cỏi sẽ khiến họ phải đổi màu cho giải đấu tiếp theo, hoặc thậm chí trong một giải đấu, nhằm thay đổi vận may của họ để tốt hơn. Một ví dụ về điều này đã được thực hiện bởi Ōnoshō trong giải đấu tháng 7 năm 2020, khi sau nhiều lần thua liên tiếp, anh ấy quyết định đổi từ màu đỏ thẫm sang màu xám đen.

Rikishi chỉ mặc mawashi lụa trong các trận đấu cạnh tranh hoặc trong các giải đấu xếp hạng hoặc các trận đấu toàn Nhật Bản. Trong quá trình huấn luyện, một mawashi bằng vải bông nặng được đeo. Đối với rikishi cao cấp ở hai bộ phận cao nhất (cái gọi là sekitori), chiếc thắt lưng này có màu trắng, và nó được đeo với một đầu vòng ra phía trước. Sagari không được mặc trong quá trình tập luyện.

Rikishi được xếp hạng ở các hạng đấu thấp hơn mặc mawashi cotton màu đen cả khi tập luyện và thi đấu. Trong thi đấu, bông sagari được chèn vào dây đai, nhưng chúng không bị cứng lại.

Các đô vật sumo nghiệp dư dự kiến ​​sẽ mặc một chiếc áo mawashi bằng vải bông màu trắng mà không có dây buộc theo trang phục huấn luyện của chuyên gia cao cấp.

Ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày xưa cũng được sử dụng rộng rãi, có thể thấy điều này qua các hoa văn trên trống đồng hay dấu ấn trong những câu truyện cổ tích, truyền thuyết (như truyền thuyết về Chử Đồng Tử...), đến thời kì Pháp thuộc thì có lính khố xanh, lính khố đỏ tuy họ không mặc khố nhưng có đeo thắt lưng buông thõng tương tự như cái khố. Tại miền Bắc Việt Nam, đến đầu thế kỷ XX, tại một số địa phương dân chúng vẫn còn sử dụng khố.

Việt Nam, hiện nay, có lẽ chỉ còn duy nhất vùng Tây Nguyên là còn loại trang phục truyền thống này nhưng cũng chỉ người già mới hay sử dụng. Nó cũng chỉ còn được dùng rộng rãi trong các ngày lễ hội. Ở Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk còn lưu giữ được và trưng bày chiếc khố làm từ vỏ cây.

Phân loại khố tại Việt Nam như sau:

  • Theo chất liệu cấu thành: như khố dây (hay khố rợ), khố mo, khố gai, khố vải...
  • Theo biện pháp kĩ thuật chế tác: như khố bện (đan thô sơ), khố dệt...
  • Theo môtip dân tộc: trang trí hoa văn kĩ thuật "kteh" của Gia Rai, khố dệt bằng hoa văn mang tên "kru-êch" - khố Kru-êch của người Ê Đê...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ U.S. National Park Service. Retrieved on 2009-12-22.
  2. ^ Native Languages Lưu trữ 2009-07-02 tại Wayback Machine. Retrieved on 2009-12-22.
  3. ^ Raman Das Mahatyagi (2007). Yatan Yoga: A Natural Guide to Health and Harmony. Yatan Ayurvedics. tr. 33–. ISBN 978-0-9803761-0-4.