Váy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Váy đàn ông Scotland.

Váy là đồ mặc che thân từ thắt lưng trở xuống, trước đây đa số phụ nữ đều mặc. Một số nước nam giới cũng mặc váy.

Lịch sự hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Váy là một trong những loại trang phục có tuổi đời lâu nhất trong lịch sử loài người. Ở thời kỳ đầu, những chiếc váy có hình dạng là những chiếc khố (được làm từ da động vật hoặc lá cây), được quấn quanh bụng người mặc. Theo những gì được vẽ trên các bức tranh cổ thì người ta còn nhận ra hình ảnh của những người đàn ông mặc váy. Điều này nói lên rằng trang phục này trước kia là giành cho cả nam lẫn nũ.

Thế kỷ 19 đánh dấu sự thống trì của những kiểu đầm dài có thiết kế khá "cồng kềnh". Các trang phục này ôm lấy thắt lưng và phần thân váy xòe rộng xuống dưới hông người mặc. Những năm 1960 của thế kỷ 20, chiến tranh nổ ra khiến phụ nữ phải thay đổi cách ăn mặc của mình để thích nghi với tình hình chiến sự. Kết quả là, váy được thiết kế ngắn hơn. Đây là lý do đánh dấu sự xuất hiện của những mẫu váy ngắn, có chiều dài chấm mắt cá, chấm bắp chân hoặc dài hơn.

Những năm 1965, làng thời trang chịu ảnh hưởng bởi những mẫu váy ngắn của André Courrèges, Mary Quant. Kể từ đó, người ta dần quen thuộc với một khái niệm mới, đó là váy ngắn (hay Mini Skirt). Các thiết kế của Quant không những mang lại một "làn gió mới" cho làng thời trang thời bấy giờ, mà còn giúp phụ nữ có cơ hội tự quyết định được chiều dài cho chiếc váy mình yêu thích. Chính điều này đã sản sinh ra những chiếc váy ngắn micro-mini tồn tại cho đến ngày nay.

Có nhiều loại váy may theo nhiều kiểu cách khách nhau, tùy theo từng dân tộc văn hóa ở đó. Có ba loại chính:

  • Váy quấn (váy mở)
  • Váy kin (váy chui)
  • Váy lá

Váy người Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình chiếc váy đã được tìm thấy trên một số di vật khảo cổ thời kì Đông Sơn và phụ nữ Việt Nam vốn có truyền thống mặc váy. Thế kỷ 15, quân Minh cấm phụ nữ Việt Nam mặc váy, nhằm thực hiện âm mưu đồng hoá trang phục

Nhà Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) cũng cấm "quần không đáy".

Ngày nay, váy đã trở thành một trong hai trang phục chủ yếu của cô dâu (cùng với áo dài) trong ngày cưới.

Váy cưới[sửa | sửa mã nguồn]

Váy của người phụ nữ Êđê[sửa | sửa mã nguồn]

Váy mở quấn quanh thân mình. Nền chàm mềm mại được thêu chỉ đỏ sọc ngang ở trên, giữa và gấu dưới. Có loại váy thường mặc khi lên nương rẫy, có váy mặc ở nhà và những váy được trang trí công phu, nhiều màu sắc sặc sỡ dành cho những ngày hội ngày lễ, tết. Ngày nay thiếu nữ Ê Đê thường mặc váy kín.

Váy của phụ nữ người Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Váy áo phụ nữ Thái trắng

Phụ nữ Thái váy trên nền áo cóm trắng - thân váy đen, cạp váy là cả một nghệ thuật thẩm mỹ của bàn tay người dệt. Cạp váy có hai phần: nửa trên (lang tênh), dệt hai màu đen trắng, hoa văn giản đơn; nửa dưới (lang tớ) gắn với thân váy, dệt bằng tơ tằm xen vài màu (4 đến 6 màu), có hoa văn hình rồng, phượng, hoa sen.

Váy của người phụ nữ Khmer[sửa | sửa mã nguồn]

Làm bằng tơ tằm, hình ống (kín), điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân nhưng khác nhiều tộc người khác cũng có loại váy này là cách mang váy vào thân. Đó là cách mang luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên dắt cạnh hông tạo thành như chiếc quần ngắn và rộng. Hoa văn trên váy có thể có sự tiếp xúc với các tộc người khác thì cách mặc váy này có thể xem là đặc trưng độc đáo của Khmer Nam Bộ. Họ thường mặc váy trong những ngày lễ lớn, mỗi ngày mặc một màu khác nhau trong suốt tuần lễ đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]