Áo giao lãnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thói quen ăn mặc ở An Nam theo Vạn quốc nhân vật đồ do người Nhật Bản khắc in năm 1645: Đàn bà mặc áo cổ tròn, còn đàn ông mặc áo cổ chéo.

Áo tràng vạt, giao lĩnh[1] (chữ Hán: 交領衣 / Giao lĩnh y) tức áo cổ chéo là cách gọi một trong những lối y phục lâu đời nhất trong tập quán Việt Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kiểu áo này phổ biến vào thời Lý - Trần - . Đối với văn hóa Việt, mặc áo giao lĩnh hoặc đối khâm hở yếm thêu trong (có hoa văn hoặc nhiều màu sắc), áo giao lĩnh là 1 dạng của áo trực lĩnh

Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có ghi chép về sự kiện triều đình chúa Trịnh quy định y phục cho vùng Thuận Hóa (Mới chiếm được của chúa Nguyễn từ năm 1774) :" Mùa xuân năm Bính Dần, đặt trấn phủ Nha môn ở Thuận Hóa. Bắt đầu từ tháng 7, tuyên dụ rõ rằng: Y phục bản quốc (Y phục tiều Lê - Trịnh) có chế độ riêng, địa phương này trước đây cũng tuân theo quốc tục. Nay cung vâng Thượng đức, dẹp yên biên phương, trong ngoài thống nhất, chính trị và phong tục cũng nê như một. Các loại quần áo kiểu Khách (kiểu Trung Quốc) còn thấy phải đôi theo quy chế quốc tục (...) Đàn ông, đàn bà mặc áo trực lĩnh ngắn tay (tức áo giao lĩnh với chiều dài ống tay áo châm đến cổ tay), ống tay áo rộng hẹp cho được tùy tiện . Áo thì từ hai bên nách trở xuống đều nên may khép lại, không được để mở, không được chiết eo. Riêng đàn ông nếu muốn mặc áo cổ tròn hẹp tay để tiện làm việc cũng được. Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài, hoặc may bằng vải Thanh Cát, hoặc vải thâm, hoặc vải trắng tùy nghi"

Trong Gia Định thành thông chí , Trịnh Hoài Đức cho biết trước năm 1744 khi chúa Nguyễn Phúc Khoát ra lệnh cải cách y phục thì người Việt tại Gia Định :" vẫn tuân theo tập tục cũ của Giao Chỉ, người dân xõa tóc đi chân đất, nam nữ đều dùng áo trực lĩnh ngắn tay, áo may khép lại hai bên nách, không có quần, đàn ông dùng một khổ vải quấn quanh eo, đến dưới mông thì bó lại thắt vào vùng rốn, gọi là cái khố, đàn bà có loại váy quây không gấp nếp, đội nón lớn"

Thời kỳ đầu nhà Lê Trung Hưng, trước năm 1744, người dân Đàng Ngoài và Đàng Trong đều mặc áo trực lĩnh. Các dạng áo trực lĩnh có 2 cách mặc là để buông vạt song song, cách 2 là 1 vạt cài vào hông để lộ yếm trong.

Sang đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1744[2] thì có lệnh sửa đổi cách ăn mặc của người Đàng Trong, dùng áo cài khuy lập lĩnh (cổ đứng), bỏ váy mặc quần (quý tộc mặc thêm xiêm thường phủ ngoài quần).Ở Đàng Ngoài áo trực lĩnh tiếp tục có mặt cho đến khi nhà Nguyễn dẹp nhà Tây Sơn, thống nhất sơn hà.

Sách Minh Mạng chính yếu cho biết năm Đinh Hợi(1827)vua Minh Mệnh đã lệnh bắt phụ nữ từ sông Gianh trở ra miền Bắc phải theo trang phục như miền trong, nhưng mệnh lệnh đó không được thi hành nên đến năm Đinh Dậu (1837) vua lại ban dụ rằng:“Ngày trước, từ Linh Giang [sông Gianh] trở ra Bắc, dân vẫn mặc y phục như tục cũ. Đã ban dụ truyền lệnh sửa đổi theo y phục từ tỉnh Quảng Bình trở vào miền trong, để phong tục đồng nhất. Lại cho thời hạn rộng rãi, khiến dân được thong thả may sắm quần áo. Từ năm Minh Mệnh thứ 8 đến nay, đã mười năm rồi, vẫn nghe nói dân chưa sửa đổi. Vả lại, từ tỉnh Quảng Bình trở vào Nam, mũ khăn, quần áo đều theo cách của nhà Hán, nhà Minh, xem khá tề chỉnh. Theo phong tục cũ của người miền Bắc, con trai đóng khố, con gái mặc áo thắt vạt, dưới mặc váy. Đẹp xấu đã thấy rõ rệt. Có kẻ đã theo tục tốt, cũng có kẻ vẫn giữ nguyên thói cũ, phải chăng cố ý làm trái mệnh trên? Các tỉnh thần nên đem ý ấy mà chỉ bảo, khuyên dụ nhân dân. Hạn trong năm nay, phải nhất tề thay đổi. Nếu đầu năm sau còn giữ theo y phục cũ, sẽ bị tội”

Thói quen mặc áo trực lĩnh trong dân gian phai mờ dần, chỉ còn dùng như loại áo thụng mặc cùng phong cân trong lúc tế lễ.[1] Nam giới bắt đầu mặc lập lĩnh nhưng nữ lưu phía bắc sông Gianh vẫn nhất nhất theo lối cũ. Áo tứ thân được xem là cách tân của áo trực lĩnh, tiếp tục tồn tại đến đầu thế kỷ 20, chỉ khác ở chỗ tay áo tứ thân hẹp, không dài và rộng như áo trực lĩnh, yếm trong chỉ còn sắc trắng không thêu hoa văn, mặc váy đen (thời Lê gọi quần không đáy).Cách mặc của tứ thân có 2 cách là buông vạt(như trực lĩnh dạng đối khâm) và buộc vạt lộ yếm (như trực lĩnh buộc vạt giao lĩnh).Kéo theo đó là các phong tục thời Lê là mặc áo trực lĩnh (kiểu cổ chéo) kết hợp đinh tự cân, chu lạp đính mao, bức cân đều bị giản lược các chi tiết trên mũ theo cổ lệ (mục đích chống đối ngầm luật lệ triều Nguyễn) để kết hợp với áo lập lĩnh.Những loại áo mũ thời lê chỉ còn xuất hiện tại lễ hội Bắc Bộ để tưởng nhớ tiền triều

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một loại áo rộng, xẻ hai bên hông, dài tay, cổ tay cũng may rộng (32-36cm). Thân áo dài chấm gót chân và may bằng năm - sáu tấm vải, không phân biệt giới tính. Theo thư tịch cũ minh họa thì đàn bà mặc áo phủ ngoài,bên trong là yếm che ngực. Phía dưới bụng quấn váy,buộc bằng thắt lưng nhuộm màu,hai đầu buông thả,nếu thân phận là hoa nương hoặc quý tộc thì phủ ngoài váy còn 1 lớp xiêm thường thêu hoa văn(như tranh cụ Bùi Thị Giác)(có 2 loại là chấp quần và ghép từ 7 mảnh trong sách "Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa"),Hai vạt áo để mở. Đàn ông cũng mặc áo ra ngoài quần hay khố nhưng vạt bên trái được kéo chéo qua ngực và bụng rồi buộc vào bên phải. Hiện vật trong mộ Đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh (Hưng Yên) phát hiện áo trực lĩnh

Đến thế kỷ 19 thì áo giao lĩnh không phải là thường phục nữa mà là lễ phục.Trong dân gian thì là áo thụng. Trong triều thì gọi là "phổ phục" hay "bổ phục" để các quan mặc ra bên ngoài cùng khi có đại tế hay vào chầu vua. Khi mặc áo thì đính thêm bố tử ở ngực và lưng để rõ phẩm ngạch.[3].Đại để là Thời Nguyễn,từ "trực lĩnh"cũng biến mất hẳn vì chỉ còn dùng loại trực lĩnh buộc vạt gọi là "giao lĩnh"

Chất liệu[sửa | sửa mã nguồn]

lụa sống Mã Châu, Quảng Nam

Áo giao lĩnh xưa chủ yếu may từ tơ tằm: sa, gấm, đoạn... Mùa hè trời nóng thì dùng sa/the ,vải thanh cát(tơ thân cây chuối để dệt như cách sản xuất tại Philippin và tỉnh Okinawa-Nhật Bản do vị trí địa lý vùng nhiệt đới).Mùa đông thì dùng gấm, đoạn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]