Cô đầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ba bức tranh vẽ Cô đầu (kỹ nữ) thời Pháp thuộc

Cô đầu (chữ Nôm: 姑姚), cũng gọi là Ả Đào (妸陶), Đào nương (陶娘) hay Ca nương (歌娘) là thuật ngữ ở Việt Nam thường dùng để gọi một dạng kỹ nữ trong thời đại cổ. Theo Từ điển tiếng Việt, cô đầu là một danh từ thuộc loại từ cũ, khẩu ngữ để chỉ các Á đào. Khái Hưng từng viết: "Hạc từ chối không biết cầm trống chầu, người ta liền bảo cô đầu hát chúc mừng chàng bằng những câu hãm rượu ngọng líu (...)".

Từ kỹ nữ vốn được hiểu là những cô gái có trò tạp kỹ như ca hát, nhảy múa,... phục vụ các khách quan chủ yếu là nam giới trong các không gian kín đáo, hình thức rất giống Geisha của Nhật Bản. Tuy nhiên, từ kỹ nữ ngày nay bị đánh đồng với một dạng gái bán dâm, mà ngày xưa người ta gọi là Hoa nương.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Về kỹ nữ nói chung, loại hình phục vụ cho nam giới này đã có từ thời rất xa xưa tại Trung Quốc cũng như Việt Nam. Vào thời nhà Lý, có ca kỹ họ Đào, rất vừa ý Lý Thái Tổ nên thường ban thưởng, từ đó các con hát hay được gọi là Đào nương[1]. Tuy nhiên theo Công dư tiệp kí, "Cuối đời nhà Hồ (1400 – 1407), có người con hát họ Đào quê ở làng Đào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết, dân nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng ở là thôn Ả Đào. Từ đấy những người đi hát được gọi là ả đào".

Sang thời nhà Lê, nghề con hát trở thành một dạng nghề hèn mạt, đánh đồng với nô lệ, ai xuất thân từ nhà con hát đều không thể làm quan (như Đào Duy Từ). Cứ theo Việt sử tiêu án, khi ấy các con hát ngoài gọi là Ả đào, còn được gọi là Náo nương (鬧娘) hay Cô Náo (姑鬧), Náo Hát (鬧歌)... các danh xưng. Các con hát không biểu diễn ở cung đình vì thân phận thấp hèn, họ chỉ quanh quẩn ở các đình làng hay ca quán tại địa phương.

Vào thời nhà Nguyễn, những ghi chép chi tiết về thú chơi cô đầu là vào những năm Pháp thuộc và ở phía Bắc, với địa danh nổi nhất là phố Khâm Thiên. Cô đầu sống thành từng nhóm, trong các nhà chứa khách đến hát ả đào. Thú chơi này mang nhiều tính tao nhã hơn là trò chơi thân xác, mua vui thông thường.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh Cô đầu thế kỉ 20.

Từ Cô đầu là một từ địa phương hóa của từ Ả đào. Theo Hữu Trịnh[2], khi các ả đào (học trò) đi hát ở các đình đám kiếm được tiền, họ thường trích ra một khoản nhỏ cho các người thầy đã có công dạy dỗ mình, số tiền đó gọi là tiền "đầu". Người ta dùng chữ "cô" thay cho "ả" ("ả", tiếng địa phương ở Nghệ Tĩnh cũng có nghĩa là "chị, cô") và chữ "đầu" thay cho "đào", vì vậy Ả đào nghĩa là Cô đầu.

Cô đầu và kép mỗi vùng có một họ riêng như: Tam, Ngân, Thông, Thiên... Tên của cô đầu là họ của giáo phường cộng với tên của mình. Ví dụ tên Thuận, họ Tam, được gọi là Tam Thuận. Họ này được xem như là họ truyền thống trong nghề. Những cô đầu thuộc những họ truyền thống gọi là cô đầu nòi. Còn các cô đầu mới vào nghề, khi còn học nghề được gọi là Xướng nhi, khi học xong mới được gọi là Ả đào hay Cô đầu. Trước khi Xướng nhi bái Cô đầu làm thầy, thường có một tục lệ gọi là lễ nhận trò, ấy là hai bên sẽ xướng với nhau 1 câu đoạn hát nào đó, tiền bối cô đầu được xướng nhi gọi là Tin nữ.

Ngày xưa, Hát cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ. Hát thẻ dùng để chỉ một hình thức ban thưởng cho những ả đào hát hay. Đoạn nào ả đào hát hay thì các khách nghe hát (gọi là quan viên) thưởng một thẻ. Mỗi thẻ qui định tương ứng với một số tiền, đến hết buổi hát, ả đào tổng cộng được bao nhiêu thẻ thì nhân lên mà nhận tiền thưởng. "Hát" tiếng Hán là "ca", thẻ là "trù", hát thẻ = ca trù. Hát ả đào được gọi là ca trù từ đó. Ngày xưa, con các quan phủ, huyện được gọi quan viên tử. Quan viên tử có đặc ân là được miễn làm tạp dịch trong làng, sống cuộc sống phong lưu, công tử. Nhân dân xem người nghe ca trù là hạng người phong lưu, ví như quan viên tử, nên gọi người nghe ca trù là quan viên. Khi đó, các cô đầu đều được tập trung ở các gánh phường, được gọi là Giáo phường.

Có 2 dạng cô đầu:

  • Cô đầu thực thụ: họ mua vui cho đàn ông bằng đàn hát, nghệ thuật lành mạnh (giống như ca sĩ phòng trà ngày nay). Họ không bán dâm như nhiều người vẫn tưởng.
  • Cô đầu trá hình: là một dạng gái mại dâm núp bóng cô đầu, đàn hát chỉ là để ngụy trang. Họ không biết ca hát mà chỉ hay rót rượu, thậm chí phục vụ tình dục, vì vậy họ còn được gọi là cô đầu rượu. Vì bộ phận trá hình này mà hát cô đầu mới bị nhiều người nghĩ oan, đánh đồng với mại dâm.

Trong văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh chụp Cô đầu đầu thế kỉ 20.

Sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt ca trù vốn tao nhã và sang trọng trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt ca trù ra khỏi đời sống văn hóa. Ca trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tự nhiên, không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi. Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch của mình[3].

Nhà văn Kim Lân cũng có cả một truyện ngắn liên quan đến cô đầu là "Đứa con người cô đầu". Nhà thơ Tú Xương chắc chắn là người rất hay đi hát cô đầu, có quan hệ và ân tình sâu nặng với các cô kỹ nữ này, ông còn có bài Tết tặng cô đầu:

Ngày xuân mừng quý khách
Khi vui, lọ đàn phách!
Chuyện nở như pháo rang
Chuyện dai như chão rách,
Đổ cả bốn chân giường
Xiêu cả một bức vách!

Nhà văn Anh Thơ từng có kỷ niệm cay đắng với cô đầu thế này: "Tôi mất lòng tin vào đàn ông một thời gian dài. Từ bỏ cuộc đính hôn với ông Cẩm Văn, chủ Nhà xuất bản Nguyễn Du vì mỗi lý do ông ấy mê cô đầu. Khi thấy Cẩm Văn nhìn cô đầu rất say đắm, tôi đã ngất đi vì nhục nhã. Tôi nhất quyết đoạn tình, ông ấy cứ chạy theo thanh minh rằng: "Anh chỉ yêu cái bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện qua cái áo tứ thân của cô ấy chứ không yêu gì cô ta. Anh chỉ yêu em thôi". Sau này nghĩ lại tôi cũng thấy thương ông ấy một chút nhưng rồi nghe tin là tôi bỏ đi, cô đầu ấy dọn luôn đến nhà Cẩm Văn ở, thế là tan một nhà xuất bản danh tiếng."[4]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thơ Tú Xương, Nhà xuất bản Văn học
  1. ^ Đại Việt Sử ký toàn thư: Mùa thu, [10a] tháng 8, định binh làm giáp, mỗi giáp 15 người, dùng một người quản giáp. Lại định các cấp bậc quản giáp (khi ấy có con hát là Đào thị, giỏi nghề hát, thường được ban thưởng. Người thời bấy giờ hâm mộ tiếng hát của Đào thị, phàm các con hát đều gọi là Đào nương).
  2. ^ Thuật ngữ Ả đào
  3. ^ Quan họ và Ca trù: Di sản văn hóa Việt Nam
  4. ^ “Nữ sĩ Anh Thơ - 80 tuổi vẫn viết thơ tình - VnExpress Giải Trí”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 4 tháng 10 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]