Nghệ Tĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Nghệ Tĩnh là tên một tỉnh cũ từ năm 1976 đến 1991, từ năm 1991 tách ra thành 2 tỉnh là Nghệ AnHà Tĩnh.

Tỉnh Nghệ Tĩnh trên bản đồ hành chính Việt Nam năm 1976

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Nghệ Tĩnh có vị trí địa lý:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu.

Thời nhà Lý, năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An.

Thời nhà Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn.

Thời nhà Nguyễn, Gia Long lại đặt làm Nghệ An trấn.

Năm 1831, vua Minh Mạng chia Nghệ An trấn thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam).

Từ năm 1976 đến năm 1991, sáp nhập Nghệ An và Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh, đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Vinh, thị xã Hà Tĩnh và 25 huyện: Anh Sơn, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Con Cuông, Diễn Châu, Đô Lương, Đức Thọ, Hưng Nguyên, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Kỳ Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghi Xuân, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Thạch Hà, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Nghệ Tĩnh để tái lập tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]