Thanh Chương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thanh Chương
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 18°43′B 105°16′Đ / 18,72°B 105,27°Đ / 18.72; 105.27Tọa độ: 18°43′B 105°16′Đ / 18,72°B 105,27°Đ / 18.72; 105.27
Diện tích 1128,3106 [1]
Dân số  
 Tổng cộng 252.459 [cần dẫn nguồn]
Dân tộc Kinh; Thái; Mông; Đan Lai
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Vùng Bắc Trung Bộ
Tỉnh Nghệ An
Huyện lỵ Thị trấn Thanh Chương
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Hữu Vinh
 Bí thư Huyện ủy Nguyễn Hữu Vinh
Phân chia hành chính
Website [2]

Thanh Chương là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam thuộc tỉnh Nghệ An. phía tây nam giáp tỉnh Bolikhamxai của Lào; phía đông giáp huyện Đô LươngNam Đàn; phía tây bắc giáp huyện Anh Sơn; phía đông bắc giáp huyện Đô Lương; phía nam giáp huyện Hương Sơn. Huyện lỵ cách thành phố Vinh 50 km. Đây là huyện được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Có 40 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thị trấn Thanh Chương và 39 xã: Cát Văn, Đồng Văn, Hạnh Lâm, Ngọc Lâm, Ngọc Sơn, Phong Thịnh, Thanh An, Thanh Chi, Thanh Đồng, Thanh Đức, Thanh Dương, Thanh Giang, Thanh Hà, Thanh Hòa, Thanh Hưng, Thanh Hương, Thanh Khai, Thanh Khê, Thanh Lâm, Thanh Liên, Thanh Lĩnh, Thanh Long, Thanh Lương, Thanh Mai, Thanh Mỹ, Thanh Ngọc, Thanh Nho, Thanh Phong, Thanh Sơn, Thanh Thịnh, Thanh Thủy, Thanh Tiên, Thanh Tùng, Thanh Tường, Thanh Văn, Thanh Xuân, Thanh Yên, Võ Liệt, Xuân Tường.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thời thuộc nhà Minh, Thanh Chương là đất huyện Thổ Du phủ Nghệ An.
  • Thời nhà Lê huyện được gọi là Thanh Giang, sau đổi thành Thanh Chương. Trong danh sách phủ huyện thời Hồng Đức (1479-1497) được chép trong Thiên Nam dư hạ tập vẫn còn chép là Thanh Giang. Năm 1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 thì Thanh chương là một huyện thuộc phủ Đức Quang (cùng với Hương Sơn, La Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Chân Phúc), xứ Nghệ An.
  • Năm 1831, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12, xứ Nghệ An tách thành 2 tỉnh Nghệ AnHà Tĩnh. Lúc đó huyện Thanh Chương nhập vào phủ Anh Sơn (gồm các huyện: Lương Sơn, Nam Đàn, Thanh Chương và Hưng Nguyên) thuộc tỉnh Nghệ An.
  • Năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ, huyện Thanh Chương trực thuộc tỉnh Nghệ An. Các tổng cũ được phân chia thành 12 xã cụ thể như sau:
    • Tổng Cát Ngạn chia làm 3 xã: Cát Văn, Minh Sơn, Tam Đồng.
    • Tổng Võ Liệt: Đồng Thanh, Vịnh Thọ, Kim Bảng.
    • Tổng Bích Triều: Tân Dân, Xuân Triều.
    • Tổng Đại Đồng: Đại Đồng, Đồng Văn.
    • Tổng Xuân Lâm: Minh Tiến, Mai Lâm.
  • Đầu năm 1954, theo chủ trương phân chia lại cấp xã của UBKCHC Liên Khu IV thì huyện Thanh Chương trên cơ sở 12 xã cũ đã chia thành 14 xã mới như sau:
    • Xã Cát Văn chia thành 3 xã: Thanh Cát, Thanh Bài và Thanh Bình.
    • Xã Minh Sơn chia thành 4 xã là: Thanh Đức, Thanh Mỹ, Thanh Nho và Thanh Hòa.
    • Xã Tam Đồng chia thành 3 xã là: Thanh Tiên, Thanh Liên và Thanh Chung.
    • Xã Đồng Thanh chia thành 2 xã: Thanh Hương và Thanh Lĩnh.
    • Xã Vĩnh Thọ chia thành 4 xã: Thanh Thịnh, Thanh An, Thanh Chi, Thanh Khê.
    • Xã Kim Bảng chia thành 4 xã: Thanh Minh, Thanh Tân, Thanh Long, Thanh Hà.
    • Xã Thanh Dân chia thành 4 xã: Thanh Giang, Thanh Mai, Thanh Tùng và Thanh Bích.
    • Xã Xuân Triều chia thành 2 xã: Thanh Xuân và Thanh Lâm.
    • Xã Đại Đồng chia thành 5 xã: Thanh Hưng, Thanh Văn, Thanh Tường, Thanh Đồng và Thanh Phong
    • Xã Đồng Văn chia làm 3 xã: Thanh Ngọc, Thanh Luân, Thanh Tài.
    • Xã Mai Lâm chia làm 3 xã: Thanh Lam (Lam Sơn – Lam Hồng – Lam Thắng), Thanh Nam, Thanh Trường.
    • Xã Minh Tiến chia làm 4 xã là: Thanh Dương, Thanh Lương, Thanh Yên và Thanh Khai.
  • Ngày 15/04/1967 theo quyết định số 140/NV của Bộ trưởng bộ Nội vụ:
    • Giải thể Thanh Bích sát nhập vào hai xã Thanh Giang (thôn Bích Lam và xóm Thanh Lam) và xã Thanh Lâm (thôn Bích Sơn và HTX Bích Hào).
    • Chia xã Thanh Đức thành hai xã mới là Thanh Đức và Hạnh Lâm.
    • Lập thêm 2 xã mới là xã Thanh Thủy và Thanh Lạc (hai xã mới này do phong trào khai hoang mà có).
  • Ngày 24/03/1969 theo quyết định số 159 - NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, huyện Thanh Chương đã hình thành nên một số xã mới do hợp nhất từ xã cũ như sau:
    • Xã Bình Dương (Thanh Hưng & Thanh Văn hợp thành).
    • Xã Ngọc Sơn (Thanh Lam nhập với Thanh Nam).
    • Xã Đồng Văn (Thanh Luân nhập với Thanh Tài).
    • Xã Xuân Tường (Thanh Tường nhập với Thanh Dương).
    • Xã Phong Thịnh (Thanh Bình nhập với Thanh Chung).
    • Xã Thanh Mỹ (Thanh Mỹ nhập với Thanh Lạc).
    • Xã Thọ Lâm (Thanh Thịnh nhập với Thanh An).
    • Xã Quảng Xã (Thanh Long nhập với Thanh Hà).
    • Xã La Mạc (Thanh Nho nhập với Thanh Hòa).
    • Xã Thanh Quả (Thanh Chi nhập với Thanh Khê).
    • Xã Võ Liệt (Thanh Minh nhập với Thanh Tân).
    • Xã Hạnh Lâm (Thanh Đức nhập với Hạnh Lâm).
  • Ngày 21/04/1969, Bộ Nội vụ có quyết định số 201/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, huyện Thanh Chương tiếp tục hình thành nên một số xã mới do hợp nhất từ xã cũ như sau:
    • Hợp nhất hai xã Thanh Mai và Thanh Giang lấy tên là xã Thanh Giang.
    • Hợp nhất 2 xã Thanh Tường và Thanh Đồng lấy tên là xã Tường Đồng.
    • Hợp nhất 2 xã Thanh Cát và Thanh Bài lấy tên là xã Cát Văn.
  • Đến đầu năm 1971, các xã Bình Dương, Tường Đồng, Thọ Lâm... được tách ra thành các xã như cũ.
  • Từ 1976-1991, huyện Thanh Chương thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh.
  • Ngày 27-10-1984, thành lập thị trấn Thanh Chương - thị trấn huyện lị huyện Thanh Chương trên cơ sở 64 ha đất của xã Đồng Văn; 92 ha đất của xã Thanh Ngọc và 124 ha đất của xã Thanh Đồng.
  • Từ 1991 đến nay, huyện Thanh Chương thuộc tỉnh Nghệ An.
  • Ngày 10-4-2002, thành lập xã Thanh Đức trên cơ sở 17.000,76 ha diện tích tự nhiên và 4.870 nhân khẩu của xã Hạnh Lâm.
  • Ngày 9-2-2009, thành lập xã Thanh Sơn trên cơ sở điều chỉnh 6.739,46 ha diện tích tự nhiên của xã Hạnh Lâm và 647,63 ha diện tích tự nhiên của xã Thanh Mỹ; 3.650 nhân khẩu của xã Kim Đa (xã giải thể) và 1.598 nhân khẩu của xã Hữu Dương (xã giải thể) thuộc huyện Tương Dương; thành lập xã Ngọc Lâm trên cơ sở điều chỉnh 5.269,79 ha diện tích tự nhiên của xã Thanh Hương; 3.652,85 ha diện tích tự nhiên của xã Thanh Thịnh; 2.725 nhân khẩu của xã Kim Tiến (xã giải thể); 1.585 nhân khẩu của xã Luân Mai (xã giải thể); 1.073 nhân khẩu của xã Hữu Dương (xã giải thể) và 1.435 nhân khẩu của xã Hữu Khuông thuộc huyện Tương Dương.
  • Ngày 11-10-2011, mở rộng thị trấn Thanh Chương trên cơ sở sáp nhập 358,1 ha diện tích tự nhiên và 1.871 nhân khẩu của xã Thanh Ngọc, 13,23 ha diện tích tự nhiên và 357 nhân khẩu của xã Đồng Văn.
  • Từ đó đến nay, huyện Thanh Chương có 1 thị trấn và 39 xã.

Văn hiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quyển Nghệ An kí Đốc học Bùi Dương Lịch có ghi rằng:

"Thanh Chương phong tục địa phương khoáng đạt, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp; kẻ sĩ chăm chỉ đèn sách, trau dồi lễ nghĩa; dân làm nghề nông thì đàn ông chăm lo mùa vụ, đàn bà thì giữ gìn chính chuyên, hiền thục. Mọi người đều rất coi trọng lễ làng, phép nước, chuộng sự cần kiệm và đều coi trọng việc báo đáp công ơn đối với nhà vua cũng như cha mẹ là niềm vui".
Thời phong kiến có
Thời hiện đại có:
Các nhà hoạt động cách mạng: Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Sĩ Sách, Tôn Thị Quế...: Các vị lãnh đạo: Phó thủ tướng Nguyễn Côn; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Võ Thúc Đồng; Phó trưởng ban Tuyên giáo TƯ, Bí thư tỉnh uỷ Thái Nguyên Nguyễn Ngô Hai vụ Hồ Núi cốc
Các nhà tri thức: Giáo sư Đặng Thai Mai; Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Duy Quý nguyên Giám đốc TTKHXH và nhân văn quốc gia; Giáo sư Trần Đình Hượu; Giáo sư Bác sĩ Hoàng Đình Cầu; Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Tài Cẩn; GS. TSKH. NGƯT Nguyễn Nghĩa Thìn, Nhà giáo, GS.TS. Nguyễn Tinh Dung (Nguyễn Như Dung).
Các nghệ sĩ: Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ; NSƯT Đinh Thìn, NSND Hồng Lựu
Các nhà KHKT: Kỹ sư đúc-luyện kim Võ Quý Huân;
Các cán bộ đang công tác: Trần Văn Hằng Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng Chủ tịch Viện hàn lâm KHXH Việt Nam; GS-TS Phan Trung Lý-Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội; TS Nguyễn Sỹ Dũng- Phó Chủ nhiệm VPQH; Đặng Xuân Đào-Chánh Tòa kinh tế TAND tối cao; Lê Ngọc Hoa PCT UBND tỉnh Nghệ An;...

Các tướng lĩnh: Trung tướng Nguyễn Đệ (Ba Trung)- nguyên Tư lệnh QK9; Trung tướng Đặng Xuân Loan; Thiếu tướng Lê Nam Thắng- nguyên tư lệnh QK4; Thiếu tướng GS, TS Nguyễn Phùng Hồng; Thiếu tướng Nguyễn Cảnh Hiền Phó tư lệnh Bộ đội biên phòng; Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nhưỡng; Thiếu tướng Lê Đình Đệ, Thiếu tướng Nguyễn Đình Minh; Thiếu tướng Nguyễn Thủ Thanh; Thiếu tướng Nguyễn Thế Công, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ, Thiếu tướng Đậu Đình Toàn, Thiếu tướng Nguyễn Hùng Lĩnh, Thiếu tướng Trần Minh Đạo, Thiếu tướng Nguyễn Sĩ Hội; Thiếu tướng Trần Võ Dũng...

  • Những con rể đất Thanh Chương: Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Nhạc sĩ Trần Hoàn; Trung tướng Phạm Hồng Cư; Trung tướng Phạm Hồng Sơn; Thiếu tướng Võ Văn Chót...
  • Các doanh nhân: Nguyễn Cảnh Sơn, Nguyễn Cảnh Hồng, Giản Tư Trung, Võ Văn Hồng, Nguyễn Minh Hồng, Đậu Bá Đức, Võ Vinh Quang (Thanh Thịnh), Nguyễn Vĩnh Lộc PTGĐ(Cienco4)....
Các vị đỗ đại khoa thời phong kiến

Lễ hội truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lễ hội chính: Đền Bạch Mã, xã Võ Liệt, tổ chức từ ngày 09 đến 10 tháng 2 âm lịch hàng năm.

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia gồm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đền Bạch Mã - xã Võ Liệt
  • Đền Hữu
  • Đình Võ Liệt
  • Nhà thờ và mộ Tiến sĩ Nguyễn Tiến Tài
  • Nền tế cờ và nhà thờ họ Trần Tấn - xã Thanh Chi
  • Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ, Nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách
  • Nhà thờ họ Nguyễn Duy
  • Nhà thờ và mộ Quận công Trần Hưng Học, Trần Hưng Nhượng
  • Nhà thờ và lăng mộ Phúc Khánh Quận công Nguyễn Cảnh Huy

Di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh gồm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà thờ họ Trần Võ ở xã Thanh Đồng
  • Khu mộ tổ họ Nguyễn Cảnh ở xã Ngọc Sơn
  • Đền thờ và mộ Phan Nhân Tường
  • Nhà thờ họ Đặng và nhà lưu niệm Đặng Thai Mai
  • Nhà thờ họ Nguyễn Duy
  • Nhà thờ Đại tôn họ Nguyễn Trọng tại Thanh Phong
  • Nhà thờ Nguyễn Hữu Điển
  • Nhà thờ và lăng mộ Nguyễn Thế Bình ở xã Cát Văn
  • Nhà thờ Phạm Kinh Vỹ
  • Nhà thờ họ Lê Kim ở xã Ngọc Sơn
  • Đình Làng Thượng
  • Nhà thờ họ Tôn - xã Võ Liệt[3]
  • Đền Hai Hầu và nhà thờ họ Nguyễn Phùng
  • Nhà thờ họ Nguyễn Lâm Thái - xã Thanh Tùng
  • Đền Bà Chúa
  • Nhà thờ Phan Sỹ Thục
  • Nhà thờ họ Nguyễn (chi trung tôn)
  • Khu mộ tổ và nhà thờ họ Chu
  • Đền thờ quận công Đậu Bá Toàn - xã Thanh Khê
  • Nhà thờ Đại tôn họ Nguyễn Như - tại Thôn Đại Định, Xã Thanh Văn
  • Phủ thờ Đàng Cao xã Thanh Văn thờ Cường Quận công Nguyễn Cảnh Vạn
  • Nhà thờ họ Trần đại tôn tại xã Thanh Phong.
  • Đền Gia Ban xã Thanh Hòa
  • Đền Đậu Xã Thanh Hà

nhà thờ họ nguyễn văn phong thịnh

Thanh Chương với âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Các ca khúc nổi tiếng về Thanh Chương:

"Thanh Chương mời bạn về thăm" Sáng tác: Phan Thanh Chương; "Nhớ lắm quê mình ơi" Sáng tác: Hồ Hữu Thới; "Trở lại Thanh Chương" Sáng tác: Trần Hoàn; "Thanh Chương mến thương" Sáng tác: An Thuyên; "Lời ru tháng Chín" Sáng tác: Tân Huyền; "Khúc hát sông quê" Thơ: Lê Huy Mậu, nhạc: Nguyễn Trọng Tạo; "Mơ quê" Sáng tác: Nguyễn Tài Tuệ; "Ngọt ngào Thanh Chương" Sáng tác: Nguyễn Như Khôi; "Đêm xuân Thanh Mai" Thơ: Trần Duy Ngoãn, nhạc: Ngô Quốc Tính; "Về Thanh Chương" Sáng tác: Lê Văn Hoan;

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy Thanh Chương là vùng đất thuộc huyện miền núi, nhưng ở vùng đất này không thiếu đặc sản. Hầu hết các sản vật nơi này đều gắn liền với nông nghiệp và vườn đồi của thổ nhưỡng miền núi trung du.

Người các nơi vẫn thường nghe thấy câu thành ngữ: "Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn". Ngoài ra còn có các đặc sản khác đã đi vào các câu ca dao, câu hát ở vùng đất này:

"Thanh Chương ngon cá sông Giăng. Ngon khoai La Mạc, ngon măng chợ Chùa"

"Ai hay nước chát măng chua. Đi qua chợ Chùa thì tới Minh Sơn"

"Ai hay mít ngọt, mui bùi. Có về Cát Ngạn với tôi cùng về"

"Ai hay tương ngọt nhút chua. Mời về Ó, Nại mà mua ít nhiều"

"Quê ta ngọt mía Nam Đàn

Ngon khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài" (Chợ Rộ ở xã Võ Liệt)... Ngoài ra một đặc sản không thể thiếu trong mâm cỗ đãi khách của người thanh chương là gà xáo Thanh Chương. Sự khác biệt ở gà xáo Thanh Chương đó là xương được bằm làm viên nên ăn thơm giòn.Gà đồi thanh chương được nuôi thả trên những vườn đồi thoai thoải nên thịt săn chắc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â UVTW K VII, VIII nguyên Bí thư tỉnh ủy Thái nguyên 2 nhiệm kỳ, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo TW
  2. ^ a ă â b c d Phó bảng
  3. ^ Lễ đón nhận bằng di tích lịch sử Nhà thờ họ Tôn xã Võ Liệt - Thanh Chương

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]