Quế Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quế Phong
Địa lý
Huyện lỵ {{{Huyện lỵ}}}
Vị trí: Khối 8 Thị trấn Kim sơn
Diện tích: 1.895,43 km²
Số xã, thị trấn: 14
Dân số
Số dân: >65.000
Mật độ: 31 người/km²
Thành phần dân tộc: {{{Dân tộc}}}
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Lô Văn Thành

Dân tộc = Thái - Kinh - Khơ Mú - H'Mông - Thổ

Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Lữ Đình Thi
Bí thư Huyện ủy: {{{HU}}}
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Website: http://quephong.vn


Quế Phong là huyện miền núi của tỉnh Nghệ An. Huyện được thành lập ngày 19 tháng 4 năm 1963 trên cơ sở tách 6 xã: Châu Kim, Châu Thôn, Cắm Muộn, Châu Hùng, Châu Phương, Thông Thụ thuộc huyện Quỳ Châu. Huyện có trên 177 nghìn ha đất lâm nghiệp trong khi đất sản xuất nông nghiệp là 5.567 ha. Dọc theo quốc lộ 48, huyện Quế Phong nằm cách thành phố Vinh 173 km về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An. Đây là huyện được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An.

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 14 đơn vị hành chính gồm 13 xã: Cắm Muộn, Châu Kim, Châu Thôn, Đồng Văn, Hạnh Dịch, Mường Nọc, Nậm Giải, Nậm Nhoóng, Quang Phong, Quế Sơn, Thông Thụ, Tiền Phong, Tri Lễ và thị trấn Kim Sơn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Quế Phong được thành lập ngày 19 tháng 4 năm 1963 trên cơ sở tách 6 xã: Châu Kim, Châu Thôn, Cắm Muộn, Châu Hùng, Châu Long, Thông Thụ thuộc huyện Quỳ Châu, ban đầu gồm có 6 xã như trên.

Năm 1963, theo Quyết định 144-NV của Bộ Nội vụ, chia xã Châu Kim thành 2 xã lấy tên là xã Châu Kim và xã Mường Nọc.

Ngày 17-4-1965, theo Quyết định 143-NV của Bộ Nội vụ, chia xã Châu Long thành 3 xã lấy tên là xã Châu Long, xã Hành Dịch và xã Mường Hin; chia xã Châu Hùng thành hai xã lấy tên là xã Nậm Nhoóng và xã Trí Lễ; chia xã Châu Kim thành 2 xã lấy tên là xã Châu Kim và xã Nậm Giải; chia xã Cắm Muộn thành hai xã lấy tên là xã Cắm Muộn và xã Quang Phong; chia xã Thông Thụ thành hai xã lấy tên là xã Thông Thụ và xã Đồng Văn.

Ngày 23-3-1977, hai xã Châu Long và Mường Hin hợp nhất thành xã Tiền Phong.

Năm 1990, thành lập thị trấn Kim Sơn - thị trấn huyện lị huyện Quế Phong - trên cơ sở tách đất của xã Châu Kim.

Ngày 23-3-2005, thành lập xã Quế Sơn trên cơ sở 3.770 ha diện tích tự nhiên và 3.324 nhân khẩu của xã Mường Nọc.

Từ đó đến nay, huyện Quế Phong có 1 thị trấn và 13 xã.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Là huyện miền núi cao, Quế Phong có 3.785 ha ruộng nước sản xuất hai vụ. Đây chính là cơ sở để huyện Quế Phong xác định ngành nông nghiệp là nền tảng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, tiến tới xoá đói giảm nghèo. Trước đây, tập quán sản xuất nông dân huyện vẫn dựa vào tự nhiên, làm rẫy và du canh, du cư là chủ yếu.

Tiềm năng lớn về phát triển kinh tế lâm nghiệp với trên 177 nghìn ha đất lâm nghiệp có rừng, 56.357 ha đất trống, đồi núi trọc, 968 ha đất bằng chưa sử dụng. Phần lớn đất ở đây là đất laterit vàng đỏ nằm ở độ cao 400–800 m. Tầng đất dày, màu mỡ tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày như: quế, sở, cà phê, chè, mét (luồng). Đặc biệt, rừng Quế Phong có nhiều loại cây gỗ có giá trị cao như đinh, lim, sến,giổi pơ mu, Sa mu... và nhiều loại thú qúy hiếm. Vì vậy, rừng Quế Phong được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển lâu dài của huyện.

Vai trò của rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ rừng. Cây quế được trồng nhiều hơn cả. Do được tập trung khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ, nên độ che phủ của rừng Quế Phong tăng nhanh, đạt 74,8% vào năm 2009, tăng 14,05% so với năm 1996, trở thành huyện có độ che phủ rừng khá cao trong cả nước. Không những thế, người dân huyện Quế Phong còn biết sản xuất nông - lâm kết hợp theo hướng kinh tế trang trại vườn rừng - vườn nhà, mô hình sản xuất VACR. Đến năm 2004, toàn huyện có trên 150 trang trại lớn nhỏ, bước đầu mang lại hiệu quả khá, nhiều hộ có diện tích trang trại trên 10 ha và cho thu nhập bình quân đạt 10-15 triệu đồng/hộ/năm.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]