Đào Duy Từ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đào Duy Từ
Sinh1572
Tĩnh Gia, Thanh Hóa, Đại Việt
Mất1634 (61 – 62 tuổi)
Đàng Trong, Đại Việt, (thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay)
Công việcChính trị gia, Nhà thơ, Nhà quân sự
Quốc tịchViệt Nam
Bia tiểu sử Đào Duy Từ mặt trước tại đền thờ Đào Duy Từ, thôn Cự Tài, xã Hoài Phú, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định .jpg
Bia tiểu sử Đào Duy Từ mặt sau tại đền thờ Đào Duy Từ, khu phố Cự Tài, xã Hoài Phú, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Đền thờ Đào Duy Từ (thôn Cự Tài, xã Hoài Phú, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) do Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên sai lập năm 1634.
Bia tiểu sử và lăng Đào Duy Từ tại khu phố Phụng Du, phường Hoài Hảo, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Quang cảnh từ đường Đào Duy Từ ở KP. Ngọc Sơn Bắc, P. Hoài Thanh Tây, TX. Hoài Nhơn, T. Bình Định do Vua Tự Đức cho xây năm 1859.

Đào Duy Từ (chữ Hán: 陶維慈, 1572–7/12/1634) là nhà quân sự, nhà thơ[1] và nhà văn hóa, danh thần thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Chỉ vỏn vẹn 8 năm phò Chúa Sãi từ 1627 đến 1634 nhưng Đào Duy Từ đã khắc hoạ hình ảnh đặc dị một người thầy của Chúa Sãi, một kiệt tướng, một chính trị gia, một chiến lược gia, một kiến trúc gia, một kỹ thuật gia, một nghệ sư tài hoa, một học giả, cũng như là người góp phần quan trọng định hình được nhà nước, địa lý và bản sắc Đàng Trong. Nhà Nguyễn công nhận ông là đệ nhất khai quốc công thần và thờ ông ở Thái miếu.[2]

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Đào Duy Từ, hiệu là Lộc Khê, quê ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa, Đại Việt (nay là thôn Sơn Thắng, phường Nguyên Bình, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa).[3] Cha ông tên là Đào Tá Hán, một xướng hát chuyên nghiệp. Cha Duy Từ mất khi ông lên 5 tuổi, ông được mẹ là Vũ Kim Chi [4] nuôi ăn học.[3] Duy Từ tỏ ra là người thông minh sáng dạ, năm 14 tuổi ông vào học trường của Hương cống Nguyễn Đức Khoa.[3] Nhưng Duy Từ không được thi Hương vì luật lệ của nhà Lê bấy giờ cấm con kép hát đi thi vì tục bấy giờ cho rằng xướng ca vô loài, mẹ Duy Từ phải nhờ một viên xã trưởng là Lưu Minh Phương khai đổi họ cho ông từ Đào Duy Từ thành Vũ Duy Từ theo họ mẹ.[3] Viên xã trưởng nhân thế, ép mẹ Duy Từ phải cưới mình thì mới chịu giúp, mẹ Duy Từ bàn lẩn đi bằng cách bảo khi nào Duy Từ thi đậu mới tiến hành cưới xin.[3] Khoa thi Hương năm Quý Tị (1593), Duy Từ thi đậu Á Nguyên; viên xã trưởng Lưu Minh Phương bèn đòi cưới bà Kim Chi nhưng bà viện lý do Duy Từ mới thi đậu mà mẹ đã tái giá thì xấu hổ mà từ chối, rồi bảo rằng Minh Phương hãy cho con gái lớn về lấy Duy Từ thay thế.[3] Giận dữ, Lưu Minh Phương nộp đơn kiện bà Kim Chi làm lộ việc đổi họ của Duy Từ, viên quan huyện thụ đơn sau đi báo lại cho quan Hiến Sát.[5] Lúc bấy giờ, Duy Từ đang ở Hội văn trên Thăng Long dự thi và có bài văn được cho là hay nhất trường thi ở Thanh Hoa.[6] Khi quan thái phó Nguyễn Hữu Liêu đang phân vân chấm Duy Từ vì một số bài bàn về cải cách chính trị có hơi trái ý chúa Trịnh Tùng thì bộ Lễ truyền lệnh xóa tên Vũ Duy Từ, đánh tuột Á Nguyên, lột mũ áo và đuổi về.[5][6] Nghe tin này, bà Kim Chi cắt cổ tự vẫn.[5] Duy Từ vừa hỏng thi vừa mất mẹ nên đau buồn lâm bệnh nặng, nằm lại tại nhà trọ.[7]

Làm quan chúa Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm, Trần Đức Hòa đem bài Ngọa Long cương cho Nguyễn Phúc Nguyên xem, và nói: Bài này là do thầy đồ của nhà tôi là Đào Duy Từ làm. Đọc bài Ngọa Long cương, chúa Nguyễn biết Đào Duy Từ là người có chí lớn liền cho gọi Duy Từ đến. Mấy hôm sau, Đào Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Thấy Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chỉ mặc áo trắng sơ sài và đứng cửa nách đợi; Duy Từ dừng lại không vào. Thấy vậy, Chúa liền vào thay đổi triều phục, áo mũ chỉnh tề rồi mở cửa lớn ra đón Duy Từ vào nói chuyện. Đào Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời. Nguyễn Phúc Nguyên mừng lắm, liền sau đó chúa họp bàn đình thần phong cho Đào Duy Từ làm Nha úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngoài, tham lý quốc chính. Từ đấy Duy Từ nói gì chúa Nguyễn cũng nghe. Chúa Nguyễn thường nói với mọi người: Đào Duy Từ thật là Tử PhòngKhổng Minh ngày nay.[8]

Năm 1629, Chúa Trịnh Tráng muốn lấn vào Nam bèn sai Nguyễn Khắc Minh đi mang tiếng là phong tước cho Chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét. Đào Duy Từ, khi này là Tham tán, bèn khuyên Chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận phong để hòa hoãn với Chúa Trịnh. Chúa Trịnh cũng đồng thời đòi Chúa Nguyễn cho con ra Bắc chầu, nộp 30 voi đực và 30 chiến thuyền để đi cống nhà Minh bên Trung Quốc, Đào Duy Từ khuyên là không thực hiện rồi bày kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để phòng thủ. Chúa Nguyễn nghe theo và thực hiện ngay.[9]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng Mười năm Giáp Tuất (1634), Đào Duy Từ lâm bệnh nặng rồi mất, thọ 63 tuổi.[8] Ông mất ngày 17/10 năm Giáp Tuất (thứ Năm, ngày 7/12/1634). Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đích thân đến thăm viếng Đào Duy Từ, khóc rồi thưa: "Thần gặp được thánh minh, chưa báo đáp được mảy may, nay bệnh đến thế này còn biết nói chi nữa" rồi Đào Duy Từ qua đời, thọ 63 tuổi[10], phụ chính cho chúa Nguyễn được 8 năm[11]. Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc, cho táng tại Tùng Châu và phong làm "Hiệp mưu Đồng đức Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu".[10] Đến năm thứ 5 đời Vua Gia Long thì tùng tự ở Thái Miếu, đến thời Vua Minh Mạng truy phong là Hoằng Quốc Công.[10] Năm 1836, cho sửa sang mộ phần.[11]

Theo Tôn Thất Thọ "Nhân dân nhiều thế hệ đã không có ý gì chê trách ông không trung thành với vua Lê chúa Trịnh; cũng không một ai nghĩ rằng ông đã giúp chúa Nguyễn vì ý đồ cát cứ chia cắt giang sơn, tất cả đều quý trọng ông ở một điểm: Ông là một tài năng kiệt xuất và là một vị quan có nhân cách hiếm có của lịch sử nước nhà."

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Ngọa Long cương vãn", bài thơ Duy Từ hay ngâm lúc chưa làm quan để ví mình như Gia Cát Lượng.
  • "Hổ trướng khu cơ", là tác phẩm do Đào Duy Từ soạn ra để dạy các tướng sĩ của xứ Đàng Trong. Đó là cuốn binh pháp viết về nghệ thuật quân sự “độc nhất vô nhị” của Việt Nam còn nguyên vẹn và được lưu truyền cho đến ngày nay. Khác hẳn với nhiều cuốn binh pháp, hổ trướng khu cơ được biên soạn thiên về mặt thực hành hơn là mặt lý luận quân sự và được viết theo quan điểm cổ truyền của thuyết Tam tài “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa” gồm Tập thiên, Tập địa, Tập nhân. Chủ yếu trình bày về phương pháp, kỹ chiến thuật đánh trận và kỹ thuật chế tạo binh khí, phản ánh nhiều vấn đề cơ bản của truyền thống quân sự Việt Nam.
  • "Tư Dung Vãn" (ca ngợi cửa biển Tư Hiền ở Thừa Thiên), viết bằng chữ Nôm theo thể văn vần được các nhà nghiên cứu đánh giá cao xếp hàng đầu trong những tác phẩm văn học viết của nền văn học Đàng Trong.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn ghi vợ sau của ông là Trần Thị Chính, con gái của Khám lý Cống Quận Công Trần Đức Hòa. Bà họ Trần không có con. Theo quy định “tam tòng tứ đức” ngày xưa, phụ nữ không có con bị quy vào tội “bất hiếu”, có thể vì lẽ này bà họ Trần không được chép vào gia phả. Vợ đầu là Cao Thị Nguyên, sau khi ông mất thì đi tu năm 1637 mà chùa nay là chùa Bà, Hoài Thanh Tây, Hoài Nhơn, Bình Định. Con cháu Đào Duy Từ hiện nay là hậu duệ của bà vợ Cao Thị Nguyên này. Đào Thị Hưng, người con gái của Đào Duy Từ thì gả cho Nguyễn Hữu Tiến, danh tướng của 3 đời chúa Nguyễn.

Hậu duệ Đào Duy Từ có:

  • Đào Duy Mưu (tức Đô đốc Mưu), cháu đời thứ 7, tướng Nhà Tây Sơn, từng dẫn quân đánh trận Đống Đa năm 1789.
  • Thiệu Quang Hầu Đào Duy Mẫn, Hạc Toán Hầu Đào Duy Niệm, Xuân Quang Hầu Đào Duy Tàng (cháu đời thứ 7) theo phò tá Chúa Nguyễn Ánh.
  • Đào Tấn, cháu đời thứ 9, quan nhất phẩm Thượng thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Hình, người có công phát triển nghệ thuật tuồng đời Nhà Nguyễn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Thăm đền thờ Đào Duy Từ”. Báo Bình Định. 14 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2021.
  2. ^ Viện sử học, Binh thư yếu lược, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1970, trang 22
  3. ^ a ă â b c d Tôn Thất Bình 2001, tr. 9
  4. ^ “Người mẹ trọn đời vì con của danh nhân Đào Duy Từ”. Báo Phụ Nữ Việt Nam. Truy cập 23 tháng 5 năm 2017.
  5. ^ a ă â Tôn Thất Bình 2001, tr. 10
  6. ^ a ă Viện sử học, trang 21
  7. ^ Tôn Thất Bình 2001, tr. 11
  8. ^ a ă Viện sử học, trang 22
  9. ^ Phan Khoang 2001, tr. 137-138
  10. ^ a ă â Phan Khoang 2001, tr. 144
  11. ^ a ă Tôn Thất Bình 2001, tr. 36

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tôn Thất Bình (2001), 12 danh tướng triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa.
  • Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]