Thái Tổ miếu (Hoàng thành Huế)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tọa độ: 16°28′08″B 107°34′48″Đ / 16,469°B 107,58°Đ / 16.469; 107.580 Thái Tổ miếu (太祖廟, tức Thái miếu) là miếu thờ các vị chúa Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Miếu thờ từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long thứ ba (1804) ở góc đông nam trong Hoàng thành Huế, đối xứng với Thế Tổ miếu ở hướng tây nam.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Quy mô và bố trí kiến trúc của Thái miếu gần tương tự như Thế miếu.

Tòa điện chính kiến trúc theo lối nhà kép trùng thiềm điệp ốc, chính đường 13 gian 2 chái kép, tiền đường 15 gian 2 chái đơn. Phía đông điện chính là điện Long Đức, phía nam có điện Chiêu Kính. Đối diện với điện Chiêu Kính ở phía tây là điện Mục Tư, phía bắc điện này có tòa nhà vuông.

Trước sân Thái miếu có gác Tuy Thành (tên cũ là gác Mục Thanh), 3 tầng, hình thức tương tự như gác Hiển LâmThế miếu. Hai bên gác Tuy Thành có tường ngắn, trên có lầu chuông, lầu trống, dưới trổ cửa vòm. Phía nam của gác Tuy Thành, 2 bên có nhà Tả vu, Hữu vu. Toàn bộ khu vực Thái miếu có tường gạch bao bọc, trổ 5 cửa ra các phía. Các án thờ của chúa Nguyễn đều đặt trong tòa điện chính, bài vị phối thờ các công thần đặt ở Tả vu và Hữu vu. Lễ tế tổ chức 1 năm 5 lần vào các tháng mạnh xuân, mạnh hạ, mạnh thu, mạnh đông và quý đông.

Phục dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kháng chiến chống Pháp đầu năm 1947, khu vực Thái miếu bị Việt Minh thiêu hủy hoàn toàn trong đợt tiêu thổ kháng chiến. Năm 1971-1972, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc đã quyên góp và dựng lại một tòa nhà 5 gian trên nền cũ ngôi điện chính để làm nơi thờ tự các chúa Nguyễn.

Các công thần được phối thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Tả vu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tông Nhân phủ Tông nhân lệnh Nghĩa Hưng quận vương Tôn Thất Khê (1539-1616)

2. Tông Nhân phủ Tả tôn chính Quốc Oai công Tôn Thất Hiệp (1653-1675)

3. Tông Nhân phủ Hữu tôn chính Tương Dương quận vương Tôn Thất Hạo (?-?)

4. Tông Nhân phủ Hữu tôn chính Hải Đông quận vương Tôn Thất Đồng (?-1777).

Hữu vu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thái sư Uy quốc công Nguyễn Ư Kỷ (?-?)

2. Thái sư Hoằng quốc công Đào Duy Từ (?-1634)

3. Thái bảo Anh quốc công Nguyễn Hữu Tiến (?-1666)

4. Thái phó Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật (?-1681)

5. Thiếu phó Vĩnh An hầu Nguyễn Hữu Cảnh (?-1700)

6. Thái bảo Thăng Bình quận công Nguyễn Cửu Dật (?-1775)

7. Hiệp biện Đại học sĩ Tân Minh hầu Nguyễn Cư Trinh (?-1767)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]