Cửu vị thần công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cửu vị thần công
Cửu vị thần công 3.jpg
Cửu vị thần công đặt tại vị trí cũ
LoạiSúng thần công
Lược sử hoạt động
Sử dụng bởiĐại Nam
Lược sử chế tạo
Người thiết kếPhan Tấn Cẩn
Năm thiết kế1803
Giai đoạn sản xuất1803-1804
Số lượng chế tạo9
Thông số
Khối lượng17.000 cân
Độ dài nòng510 cm

Cửu vị thần công (九位神仰) là tên gọi 9 khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc năm Gia Long thứ hai (1803). Chín khẩu thần công được đánh giá là một trong những tác phẩm nghệ thuật bằng đồng có giá trị cao. Cửu vị thần công xưa được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Mônkinh thành Huế. Đến đời vua Khải Định, chúng được dời ra tại vị trí như ngày nay.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, khi lên ngôi, vua Gia Long liền cho các nghệ nhân đương thời tập trung tất cả các binh khí và vật dụng bằng đồng để đúc thành 9 khẩu thần công để làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. Công việc đúc chính thức từ năm 1803 và hoàn thành vào năm 1804.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Một hoạ tiết hoa văn trên cửu vị thần công
Một số hoạ tiết hoa văn trên cửu vị thần công

Mỗi khẩu dài 5,1 m và nặng khoảng 17.000 cân[1]. Phía dưới các khẩu thần công là giá súng và bệ súng cũng được chạm trổ cực kỳ công phu và tỉ mỉ. Tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông và ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ được dùng để đặt tên cho 9 khẩu súng.

Thân súng đều chạm trổ tỉ mỉ, khắc danh hiệu, vị thứ, trọng lượng, cách dùng súng, bài ký về việc tranh chấp với Tây Sơn cùng việc thu đồng đúc súng.

Tất cả chín khẩu đều được phong "Thần Oai vô địch thượng tướng quân". Phong vị và nội dung bài sắc phong đều được khắc trực tiếp trên thân thần công.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Chín cỗ súng thuở trước được đặt ở lũy ngoài Kinh thành, lui về phía trái Ngọ Môn. Sang đầu thế kỷ 20 thì chúng được chuyển vào bên trong, xếp thành hai nhóm. Nhóm bên tả xếp phía sau cửa Thể Nhơn gồm 4 khẩu, được đặt tên theo 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông; nhóm bên hữu xếp phía sau cửa Quảng Đức gồm 5 khẩu, được đặt tên theo ngũ hành: Kim - Mộc - Thuỷ - Hỏa - Thổ.

Trọng lượng của các khẩu thần công[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn khẩu có tên Xuân, Hạ, Thu, Đông
Năm khẩu trong Cửu vị thần công có tên Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ

Trọng lượng "Cửu vị thần công" được tính theo cân - theo Hệ đo lường cổ của Việt Nam, trọng lượng được cân trong khi làm và được khắc trực tiếp trên thân súng.

  • Súng thứ 1: Xuân, nặng 17.700 cân
  • Súng thứ 2: Hạ, nặng 17.200 cân
  • Súng thứ 3: Thu, nặng 18.400 cân
  • Súng thứ 4: Ðông, nặng 17.800 cân
  • Súng thứ 5: Mộc, nặng 17.000 cân
  • Súng thứ 6: Hoả, nặng 17.200 cân
  • Súng thứ 7: Thổ, nặng 18.800 cân
  • Súng thứ 8: Kim, nặng 17.600 cân
  • Súng thứ 9: Thủy, nặng 17.200 cân

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Mang tiếng là "thần công", là súng nhưng chúng chưa bao giờ được dùng trong trận mạc mà là chỉ mang tính cách tượng trưng dùng để bảo vệ kinh thành như những vị thần linh.

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới triều Nguyễn, thường có quan quân canh gác 9 khẩu thần công này thường xuyên và vua thường tổ chức các lễ cúng tế rất lớn, nhưng kể từ năm 1886, công việc cúng tế bị bãi bỏ, nhưng những lính bảo vệ vẫn thường tự mình cúng tế Cửu vị thần công. Cửu vị thần công được xem là một vị thần linh vừa là vật thiêng bảo vệ kinh thành. Chúng được xem là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng có giá trị cao của kinh thành Huế cùng với Vạc đồngCửu Đỉnh, chúng được xem là bảo vật của kinh thành Huế nói riêng và cả nước nói chung.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Đắc Xuân - Hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa - Nhà xuất bản Trẻ - năm 2001
  • Bài viết về Cửu vị thần công trên trang web Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc Sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, bản dịch Viện Sử học, H.: Nhà xuất bản. Giáo dục: 48.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Quách Tấn, là phỏng từ 10.200 kg đến 10.600 kg (Bước lãng du. Nhà xuất bản Trẻ, 1996, tr. 70).