Quy Nhơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quy Nhơn
Quy Nhơn
Một góc thành phố Quy Nhơn từ đỉnh Ghềnh Ráng
Một góc thành phố Quy Nhơn từ đỉnh Ghềnh Ráng
Quy Nhơn trên bản đồ Việt Nam
Quy Nhơn
Quy Nhơn
Vị trí trên bản đồ
Tọa độ: 13°46′B 109°14′Đ / 13,767°B 109,233°Đ / 13.767; 109.233
Nước  Việt Nam
Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ
Tỉnh Bình Định
Thành lập thị xã thời Nhà Nguyễn 20/10/1898
Nâng cấp thành phố sau năm 1975 3/7/1986
Chính quyền
 • Chủ tịch UBND thành phố Ngô Hoàng Nam
Diện tích
 • Tổng cộng 284 km2 (110 mi2)
Dân số (2009)
 • Tổng cộng 280,535 [1]
Múi giờ G (UTC+7)
Mã bưu chính 53
Biển số xe 77-L1 XXX.XX
Phân chia hành chính 16 phường và 5 xã
Xếp loại đô thị I
Trang web Trang chủ

Quy Nhơn () là thành phố tỉnh lị của tỉnh Bình Định và là một trong 12 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam. Là một thành phố ven biển miền Trung, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật và du lịch của tỉnh Bình Định. Trước khi thuộc về Việt Nam, Quy Nhơn là đất của người Champa.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh Bình Định, phía đông là biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước, phía bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía nam giáp thị xã sông cầu của tỉnh Phú Yên.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ Bắc, từ 109°06' đến 109°22' kinh Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 650 km về phía Nam, cách thành phố Pleiku (Tây Nguyên) 105 dặm. Cách Đà Nẵng 150 dặm, cách Huế 247 dặm, cách Nha Trang 130 dặm, cách Tuy Hòa 62 dặm và cách Quảng Ngãi 109 dặm.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lý như núi rừng, gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo và đảo. Bờ biển Quy Nhơn dài 42 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao. Các ngành kinh tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 - 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,5 độ C.

Dữ liệu khí hậu của Qui Nhon
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 32.8 35.0 38.3 36.1 39.4 41.1 42.2 41.1 38.9 37.2 32.8 30.6 42,2
Trung bình cao °C (°F) 25.0 26.1 28.3 30.0 32.2 33.9 33.9 35.0 32.2 32.2 28.9 27.2 30,4
Trung bình ngày, °C (°F) 22.8 23.6 25.3 27.0 28.6 29.4 30.0 30.6 28.6 26.4 25.0 22.2 26,6
Trung bình thấp, °C (°F) 20.6 21.1 22.2 23.9 25.0 25.0 26.1 26.1 25.0 23.9 22.8 20.0 23,5
Thấp kỉ lục, °C (°F) 15.0 15.6 18.3 19.4 18.9 21.7 20.6 20.6 21.1 17.8 15.0 16.1 15,0
Giáng thủy mm (inches) 53
(2.09)
41
(1.61)
38
(1.5)
25
(0.98)
53
(2.09)
56
(2.2)
69
(2.72)
56
(2.2)
249
(9.8)
434
(17.09)
434
(17.09)
142
(5.59)
1.650
(64,96)
Số ngày giáng thủy TB 4 2 2 3 4 6 6 6 12 16 17 7 90
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 154 191 243 266 277 244 259 207 207 169 121 119 2.457
Nguồn: Weatherbase (precipitation days only)[2]

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn được biết đến như một thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên: về tài nguyên đất có bán đảo Phương Mai với diện tích 100 km, đầm Thị Nại 50 km (trong đó: Quy Nhơn 30 km, huyện Tuy Phước 20 km), có trên 20.000ha rừng. Khoáng sản quặng titan (xã Nhơn Lý), đá granít (Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân), có ngư trường rộng, đa loài và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao; đặc sản có yến sào (sản lượng đứng sau tỉnh Khánh Hòa). Nguồn nước ngầm với trữ lượng khá lớn (dọc lưu vực sông Hà Thanh và bán đảo Phương Mai) bảo đảm cung cấp nước sạch cho thành phố.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cảng Quy Nhơn năm 1795, vẽ bởi Jean-Marie Dayot.

Quy Nhơn được hình thành từ rất sớm thuộc vùng đất đàng trong xứ Thuận Quảng: cách đây trên 400 năm đã xuất hiện phủ Quy Nhơn. Mảnh đất này đã có lịch sử hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa từ thế kỷ 11, dưới triều đại nhà Tây Sơn và cảng Thị Nại từ đầu thế kỷ 18.

Do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội và tác động sự phát triển của nền công nghiệp phương Tây vào thế kỷ 19 làm cho diện mạo Quy Nhơn thay da đổi thịt. Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Chỉ dụ thành lập thị xã Quy Nhơn, đô thị tỉnh lỵ, là một trong những đô thị hoạt động thương mại với nước ngoài khá sầm uất lúc bây giờ.

Vào đầu thế kỷ XX, nhiều công trình mới được mọc lên như: trường học, bệnh viện, khách sạn, công sở, nhà hát, toà giám mục, hệ thống giao thông đường sắt, nhà ga… Do đó, trong 3 thập niên đầu của thế kỷ XX, Quy Nhơn nhanh chóng được đô thị hóa và trở thành một đô thị lớn ở khu vực. Ngày 30/4/1930, Toàn quyền Đông Dương Pas-ki-ơ đã ra Nghị định nâng cấp thị xã Quy Nhơn lên thành phố cấp 3. Đây là một trong những đô thị ở nước ta thời bấy giờ đạt tiêu chuẩn cả về phương diện hành chính lẫn kinh tế, văn hóa.

Giai đoạn 1945 - 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ngày 3 tháng 9 năm 1945, Quy Nhơn được tổ chức theo quy chế thị xã, lấy tên là thị xã Nguyễn Huệ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Quy Nhơn là hậu phương của chiến trường khu V và Tây Nguyên.

Thời kỳ 19541975, Quy Nhơn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ra Sắc lệnh thành lập thị xã Quy Nhơn từ xã Quy Nhơn thuộc quận Tuy Phước và các phần đất phụ cận (ngoại vi xã Phước Hậu, Phước Hải, Phước Lý), hình thành 2 quận là Nhơn Bình và Nhơn Định. Ngày 11 tháng 6 năm 1971, Quy Nhơn được chia thành 2 quận, 16 khu phố:

  • Quận Nhơn Bình có 10 khu phố: Trung Cảng, Trung Từ, Trung Phú, Trung Đức, Trung Cường, Trung Hiếu, Trung Tín, Trung Châu, Trung Hòa, Trung Hải.
  • Quận Nhơn Định có 6 khu phố: Trung Chánh, Trung Kiệt, Trung An, Trung Thiện, Trung Hậu, Trung Nghĩa.

Giai đoạn 1975 - 1986[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày giải phóng (30 tháng 4 năm 1975), phường Đống Đa được thành lập trên cơ sở đất của làng Hưng Thạnh cũ.

Xã Nhơn Châu bao gồm toàn bộ Cù Lao Xanh, nguyên là đất của tỉnh Phú Yên được sáp nhập về Quy Nhơn sau năm 1975.

Tháng 2 năm 1976 hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành Nghĩa Bình, thì thị xã Quy Nhơn trở thành tỉnh lỵ tỉnh Nghĩa Bình, gồm 8 phường: Đống Đa, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Ngô Mây, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 4 xã: Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Lý, Nhơn Thạnh.

Ngày 24 tháng 3 năm 1979, chia xã Nhơn Lý thành 2 xã: Nhơn Lý và Nhơn Hội.[3]

Ngày 23 tháng 9 năm 1981, chia xã Nhơn Thạnh thành 2 xã: Nhơn Bình và Nhơn Phú.[4]

Giai đoạn từ 1986 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 7 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập thành phố Quy Nhơn từ thị xã Quy Nhơn; chuyển xã Phước Thạnh thuộc huyện Tuy Phước về thành phố Quy Nhơn quản lý và đổi thành xã Nhơn Thạnh[5]. Khi đó thành phố Quy Nhơn có 8 phường: Đống Đa, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Ngô Mây, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 7 xã: Nhơn Bình, Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý, Nhơn Phú, Nhơn Thạnh, với diện tích 212 km² và dân số 174.076 người.

Ngày 12 tháng 3 năm 1987, chia xã Nhơn Thạnh thành 2 phường: Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu.[6]

Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập, thành phố Quy Nhơn trở lại là tỉnh lị tỉnh Bình Định.[7]

Ngày 26 tháng 12 năm 1997, chia phường Quang Trung thành 3 phường: Quang Trung, Ghềnh Ráng và Nguyễn Văn Cừ; chuyển 2 xã Nhơn Bình và Nhơn Phú thành 2 phường có tên tương ứng.[8]

Ngày 4 tháng 9 năm 1998, thành lập 2 phường Lý Thường Kiệt và Thị Nại.[9]

Ngày 15 tháng 11 năm 2005, chuyển xã Phước Mỹ thuộc huyện Tuy Phước về thành phố Quy Nhơn quản lý.[10]

Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra nghị quyết 558 công nhận Quy Nhơn là đô thị loại 2[11]. Đến ngày 26 tháng 1 năm 2010, theo nghị quyết 159 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Quy Nhơn được nâng cấp lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Bình Định[12].

Ngày 14 tháng 4 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đồ án điều chỉnh Quy hoạch thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Ngày nay Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại I, với ưu thế về vị trí địa lí, có cảng biển và cơ sở hạ tầng đô thị phát triển. Quy Nhơn được Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong ba trung tâm Công nghiệp,thương mạidu lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ (cùng với Đà NẵngNha Trang). Quy Nhơn đang từng bước chỉnh trang đô thị, xây dựng và nâng cấp để trở thành một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội và du lịch, là đô thị lớn nằm trong chuỗi đô thị của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Quy Nhơn hướng ra vịnh

Thành phố có 16 phường và 5 xã:

16 phường 5 xã

1.Trần Hưng Đạo

2.Lê Lợi

1.Nhơn Lý

3.Lê Hồng Phong

4.Trần Phú

2.Nhơn Hải

5.Lý Thường Kiệt

6.Nguyễn Văn Cừ

3.Nhơn Châu

7.Đống Đa

8.Thị Nại

4.Nhơn Hội

9.Hải Cảng

10.Ngô Mây

5.Phước Mỹ

11.Ghềnh Ráng

12.Quang Trung

13.Nhơn Bình

14.Nhơn Phú

15.Bùi Thị Xuân

16.Trần Quang Diệu

Theo đồ án điều chỉnh quy hoạch thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035 định hướng đến năm 2050 vừa được Thủ Tướng chính phủ ký thông qua ngày 14/04/2015, sẽ sáp nhập toàn bộ huyện Tuy Phước; xã Canh Vinh, Canh Hiển huyện Vân Canh và 1 phần xã Cát Chánh, Cát Tiến, Cát Hải huyện Phù Cát vào thành phố Quy Nhơn. Khi đó diện tích Thành phố Quy Nhơn sẽ vào khoảng 678km2. Khi đó, dân số dự báo đến năm 2025 khoảng 630.000-650.000 người; tỷ lệ đô thị hóa khoảng 68 - 70%, dân số dự báo đến năm 2035 khoảng 740.000 - 770.000 người; tỷ lệ đô thị hóa khoảng 78 - 82%. So với hiện nay dân số Quy Nhơn khoảng 525.000 người, tỷ lệ đô thị hóa 56%.

Điều chỉnh quy hoạch thành phố Quy Nhơn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Thành phố Quy Nhơn sau khi điều chỉnh quy hoạch thành phố Quy Nhơn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050

1. Tên đồ án:

Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

2. Phạm vi quy hoạch:

Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch có diện tích khoảng 67.788 ha, bao gồm: Thành phố Quy Nhơn hiện hữu diện tích khoảng 28.428 ha; huyện Tuy Phước có diện tích khoảng 21.677 ha; 02 xã Canh Vinh và Canh Hiển (huyện Vân Canh) có diện tích khoảng 13.634 ha; xã Cát Tiến, Cát Chánh và một phần xã Cát Hải (huyện Phù Cát) có diện tích khoảng 4.049 ha. Toàn bộ khu vực quy hoạch được giới hạn như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Phía Tây giáp thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Phía Đông giáp biển Đông.

- Phía Nam giáp thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

3. Mục tiêu và tính chất quy hoạch:

a. Mục tiêu quy hoạch:

- Đến năm 2025 trở thành một trong các đô thị trung tâm của vùng duyên hải miền Trung, có nền kinh tế phát triển theo định hướng công nghiệp - cảng biển - dịch vụ - du lịch.

- Đến năm 2035 là một trong những trung tâm kinh tế biển của quốc gia; có nền kinh tế phát triển theo định hướng dịch vụ - cảng biển - công nghiệp - du lịch, trọng tâm là dịch vụ - cảng biển.

- Đến năm 2050: Có vị trí quan trọng trong hệ thống đô thị quốc gia và khu vực Đông Nam Á, đóng vai trò là một trong những trung tâm phát triển lớn của khu vực Trung Bộ; có nền kinh tế phát triển theo định hướng du lịch - dịch vụ - cảng biển - công nghiệp, trọng tâm là du lịch - dịch vụ - cảng biển; có sức hút đầu tư lớn và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục, du lịch, môi trường, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao...

b. Tính chất đô thị:

- Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của tỉnh Bình Định.

- Là một trong những trung tâm kinh tế biển của quốc gia, trung tâm công nghiệp, du lịch, thương mại - dịch vụ, dịch vụ vận tải biển, y tế, giáo dục đào tạo, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ của vùng Nam Trung Bộ, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.

- Là đầu mối giao thông đường thủy, giao thông đường bộ quan trọng của vùng Nam Trung bộ và là cửa ngõ của vùng Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan ra biển Đông.

- Là một trong những địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

4. Dự báo phát triển:

a. Quy mô dân số:

- Quy mô dân số thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035 dự báo khoảng 740.000 - 770.000 người.

- Dân số, lao động: Tỷ lệ lao động dự kiến ≥ 55% trên tổng số dân. Trong đó, tỷ lệ lao động ngành xây dựng- công nghiệp chiếm khoảng 33-35%, dịch vụ chiếm khoảng 43-45%, nông - lâm - ngư nghiệp chiếm khoảng 20-25%.

b. Quy mô đất đai xây dựng đô thị:

- Giai đoạn đến năm 2025: khoảng 6.560 ha. Chỉ tiêu 130m2/người.

- Giai đoạn đến năm 2035: Khoảng 9.121 ha. Chỉ tiêu 160m2/người.

5. Định hướng phát triển không gian và phân vùng phát triển:

a. Định hướng phát triển không gian đô thị: Thành phố Quy Nhơn chuyển đổi từ mô hình đô thị độc lập sang mô hình đô thị đa trung tâm. Các trung tâm liên kết chặt chẽ với nhau bằng hệ thống giao thông và hoạt động kinh tế đa dạng.

b. Phân vùng phát triển:

- Đô thị trung tâm Quy Nhơn hiện hữu tiếp tục là trung tâm vùng, là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, thương mại, dịch vụ du lịch, đào tạo, cảng biển; từng bước phát triển mạnh về thương mại và dịch vụ du lịch chất lượng cao. Định hướng chuyển đổi các khu đất quốc phòng, an ninh dọc biển Quy Nhơn sang đất dịch vụ - du lịch; di chuyển Trường Cao đẳng nghề Bình Định ra khu vực ngoại thành và chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại đây sang đất dịch vụ - du lịch; định hướng xây dựng cơ sở 2 của Trường Đại học Quy Nhơn ở khu vực ngoại thành, cơ sở hiện tại của Trường Đại học Quy Nhơn chuyển sang phục vụ đào tạo nguồn nhân lực cao; di chuyển Bệnh viện Phong và Da liễu Trung ương và khu dân cư trong khuôn viên bệnh viện ra khỏi khu vực Quy Hòa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất khu vực này sang dịch vụ - du lịch; chuyển đổi chức năng sử dụng đất cụm công nghiệp Nhơn Bình, Quang Trung và các kho bãi, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang đất dân dụng để khai thác hiệu quả sử dụng đất và tăng cường chất lượng sống của dân cư đô thị…

- Khu vực phía Tây - Bắc trung tâm thành phố Quy Nhơn (phường Nhơn Bình, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu) phát triển các chức năng hỗ trợ đô thị trung tâm Quy Nhơn, như: công nghiệp, kho tàng, nhà ở, công trình hạ tầng xã hội, công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật.

- Khu kinh tế Nhơn Hội: Phát triển theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Khu vực phụ cận: Phát triển thương mại - dịch vụ, nông lâm, ngư nghiệp; hỗ trợ thành phố Quy Nhơn về các công trình đầu mối hạ tầng đô thị, đặc biệt là công trình đầu mối giao thông nhà ga bến bãi, kho tiền cảng; các trung tâm giao thương, dịch vụ đô thị, nhà ở xã hội…

6. Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật và môi trường:

a. Giao thông:

- Giao thông đối ngoại:

+ Đường bộ: Tuyến cao tốc Bắc - Nam đi qua khu vực xã Canh Vinh, Canh Hiển. Nâng cấp Quốc lộ 1A và 1D theo các dự án được duyệt; xây mới tuyến Quốc lộ 19 kết nối với cầu Thị Nại đi Quốc lộ 1A; nâng cấp Quốc lộ 19B từ Khu kinh tế Nhơn Hội đi sân bay Phù Cát; nâng cấp mở rộng các tuyến ĐT 638, ĐT 639, ĐT 640 đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai.

+ Đường sắt: Dành quỹ đất tạo hành lang dự trữ cho tuyến đường sắt cao tốc Bắc Nam song song với tuyến đường sắt quốc gia. Bỏ tuyến đường sắt Diêu Trì - Quy Nhơn và ga Quy Nhơn. Cải tạo, nâng cấp ga Diêu Trì thành ga tổng hợp Quy Nhơn. Xây mới ga tàu hàng tại Phước Lộc - Cầu Gành là ga chính phục vụ nhu cầu vận tải hàng hóa cho cảng Quy Nhơn, Khu kinh tế Nhơn Hội đi các khu vực khác.

+ Đường không: Sân bay Phù Cát sẽ là sân bay chính, định hướng đến trước năm 2035 nâng cấp thành sân bay quốc tế. Xây dựng sân bay trực thăng gần khu vực phi thuế quan phục vụ khách VIP và các hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển.

+ Đường thủy: Cải tạo, nâng cấp cảng Quy Nhơn có công suất đạt 30 triệu tấn/năm. Xây mới cảng Nhơn Hội đạt 12 triệu tấn/năm. Di dời cảng cá Thị Nại ra khu vực Đề Gi kết hợp với nơi tránh trú bão cho tàu cá. Xây dựng hệ thống đường thủy nội địa, hình thành các bến thuyền du lịch ven đầm Thị Nại, phát triển các tuyến du lịch nội địa và quốc tế.

+ Các đầu mối phát triển khu vực hậu cần: Xây dựng 2 khu vực hậu cần gắn với các đầu mối giao thông quan trọng. Khu vực thứ 1 là khu vực nút giao Tỉnh lộ 638 (đến năm 2050) với đường bộ cao tốc Bắc Nam tại xã Canh Vinh, huyện Vân Canh. Khu vực thứ 2 là đầu mối giao Quốc lộ 1A và Quốc lộ 19 tại khu vực Phước Lộc - Cầu Gành, thuộc huyện Tuy Phước.

- Giao thông đô thị:

+ Khu kinh tế Nhơn Hội: Giữ nguyên cấu trúc hệ thống giao thông đã quy hoạch. Không xây dựng tuyến cầu qua giữa đầm Thị Nại theo quy hoạch xây dựng được duyệt năm 2004. Đầu tư mở rộng cầu Thị Nại hiện có để đáp ứng đủ nhu cầu giao thông - vận tải.

+ Khu vực nội thành Quy Nhơn: Tiếp tục triển khai theo đồ án quy hoạch chung được duyệt năm 2004. Đầu tư xây dựng tuyến đường Điện Biên Phủ nối dài đi khu đô thị Long Vân - Long Mỹ, qua núi Vũng Chua, qua Long Mỹ đến Canh Vinh, đấu nối vào đường cao tốc Bắc Nam. Xây mới các tuyến chính khu vực kết nối các khu chức năng trong thành phố với các tuyến trục chính đô thị. Xây dựng tuyến vành đai, đường từ kho xăng dầu Phú Hòa đi Quốc lộ 19 mới. + Hệ thống bến xe, bãi đỗ xe: Duy trì quy mô bến xe cũ của thành phố có diện tích 4,3 ha. Xây mới hai bến xe khách tại khu vực ga Diêu Trì và tại Khu kinh tế Nhơn Hội, quy mô từ 3-5ha mỗi bến.

+ Hình thành 5 bến xe tải: Bến thứ 01 tại khu vực Canh Vinh, bến thứ 2 tại khu công nghiệp Phú Tài, bến thứ 3 dùng chung với bến xe khách gần ga Diêu Trì, bến thứ 4 tại khu vực Cầu Gành - Phước Lộc, bến thứ 5 dùng chung với bến xe khách tại khu kinh tế Nhơn Hội. Quy mô mỗi bến 3-5 ha.

+ Giao thông công cộng: Phát triển hệ thống giao thông xe buýt hiện có kết hợp xây mới hệ thống tuyến xe buýt nhanh kết nối các sân bay Phù Cát - Khu kinh tế Nhơn Hội, Quy Nhơn.

b. Quy hoạch chuẩn bị kỹ thuật: - Giải pháp phòng chống lũ: Tuân thủ các quy hoạch, dự án phòng chống lũ đã được phê duyệt.

- Quy hoạch cao độ: Lựa chọn các quỹ đất nông nghiệp, đồi núi và đất phong hóa, kém hiệu quả kinh tế để xây dựng phát triển đô thị; hạn chế xây dựng đô thị tại khu vực vùng trũng thấp và nằm trong vùng ngập lũ, vùng có nguy cơ sạt lở cao.

- Quy hoạch mạng lưới thoát nước mưa: Lựa chọn hệ thống thoát nước cho các khu vực như sau: Thành phố Quy Nhơn sử dụng hệ thống thoát nước nửa riêng; thị trấn Tuy Phước và Diêu Trì sử dụng thoát nước nửa riêng hoặc riêng; khu vực tiền cảng, trung chuyển hàng hóa sử dụng hệ thống thoát nước mưa riêng với nước thải; các khu vực nông thôn, sử dụng hệ thống thoát nước chung; Khu kinh tế Nhơn Hội sử dụng hệ thống thoát nước mưa riêng.

c. Quy hoạch cấp nước: Tiếp tục sử dụng nguồn nước ngầm hiện đang khai thác ven sông Hà Thanh, sông Tân An. Bổ sung nguồn nước từ hồ Định Bình và hồ Núi Một để cung cấp thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận.

d. Quy hoạch cấp điện: Theo đồ án quy hoạch, khuyến khích xây dựng nhà máy nhiệt điện nằm trong dự án tổ hợp lọc hóa dầu.

đ. Thoát nước thải, nghĩa trang, xử lý chất thải rắn:

- Các chỉ tiêu cơ bản: Lượng nước thải sinh hoạt bằng 95% nước cấp. Nước thải công nghiệp bằng 100% nước cấp công nghiệp. Chất thải rắn khu trung tâm thành phố, Khu kinh tế Nhơn Hội khoảng 1,3 kg/người/ngày; thị trấn Diêu trì, Tuy Phước 1,0 kg/người/ngày; khu vực nông thôn 0,8 kg/người/ngày; chất thải rắn công nghiệp 0,3-0,5 tấn/ha/ngày. Đất phục vụ nghĩa trang nhân dân: 0,06ha/1000 dân.

- Quản lý chất thải rắn: Nâng cấp khu xử lý Long Mỹ phục vụ cho trung tâm thành phố, thị trấn Diêu Trì, Tuy Phước. Xây dựng khu xử lý chất thải rắn Phù Cát, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và công nghiệp nguy hại cho Khu kinh tế Nhơn Hội và vùng lân cận.

- Công nghiệp dầu khí: Đây là loại hình công nghiệp đặc thù nên xây dựng các trạm xử lý riêng cho các cụm, nhà máy phù hợp với nhu cầu xử lý nước thải. Chất lượng nước sau khi xử lý phải đạt các tiêu chuẩn hiện hành mới được phép xả ra môi trường.

- Nghĩa trang: Thành phố Quy Nhơn sử dụng nghĩa trang tại phường Bùi Thị Xuân, quy hoạch xây dựng mới nghĩa trang phục vụ khu vực phía Tây huyện Tuy Phước; mở rộng nghĩa trang ở núi Bà (huyện Phù Cát) để phục vụ khu đô thị mới Khu kinh tế Nhơn Hội và các vùng lân cận.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay cơ cấu các ngành kinh tế của Quy Nhơn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp trong GDP. Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ trong GDP năm 2006 đạt: 36,7% - 28% - 35,3%. Thu nhập bình quân dầu người 2011 là 3800 USD/người.

Mục tiêu phát triển của thành phố theo đồ án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là phấn đấu đến năm 2025 trở thành một trong những thành phố trung tâm vùng duyên hải miền trung. Đến năm 2035 là trung tâm kinh tế biển quốc gia, đến năm 2050 là một trong những thành phố quan trọng trong hệ thống đô thị quốc gia và Đông Nam Á . Để đạt được mục tiêu trên, còn rất nhiều việc phải làm. Vì vậy, Chính quyền và nhân dân cần có sự chung tay góp sức xây dựng vì mục tiêu chung.

Các khu, cụm công nghiệp ở Quy Nhơn[sửa | sửa mã nguồn]

Khu công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • KCN Phú Tài
  • KCN Long Mỹ
  • KCN Nhơn Hội A
  • KCN Nhơn Hội B
  • KCN Nhơn Hội C

Cụm công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • CCN Bùi Thị Xưân
  • CCN Nhơn Bình
  • CCN Quang Trung

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Vượt qua những khó khăn sau chiến tranh, thành phố Quy Nhơn đã không ngừng nỗ lực chuyển mình để bắt kịp nhịp độ phát triển của cả nước; Quy Nhơn đang từng bước vươn tới mục tiêu xây dựng một đô thị hiện đại, phát triển; để đạt được mục tiêu đó, trong nhiều năm qua đã tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng quan trọng như:

- Hệ thống cung cấp điện: toàn thành phố (kể cả dự án cải tạo lưới điện 17 triệu USD của chương trình SIDA), bảo đảm 100% xã, phường có điện, 98% số hộ được sử dụng điện từ lưới điện quốc gia (trừ xã đảo Nhơn Châu phải dùng máy phát điện). Hệ thống đèn chiếu sáng tương đối hoàn chỉnh có trên 5.000 bộ đèn cao áp (bình quân 1 bộ / 10 hộ dân).

- Hệ thống cấp nước: Hiện nay công suất 25.000m3/ ngày đêm và đang thực hiện giai đoạn hoàn thiện dự án nâng cấp lên 45.000m3/ ngày đêm.

- Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh; đặc biệt bưu chính viễn thông có bước phát triển khá tốt, hiện nay đã có 14 máy điện thoại / 100 người dân; hệ thống truyền hình cáp; trung tâm bưu chính liên tỉnh phục vụ khu vực miền Trung, trạm không lưu khu vực phía Nam. Đã góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc lộ 1A chạy qua Quy Nhơn theo hướng Bắc Nam, dài 48.6 km, cách trung tâm 15 km về hướng tây thành phố. Quốc lộ 1D nối thành phố Quy Nhơn với T.X Sông Cầu - tỉnh Phú Yên,dài 34.5 km. Quốc lộ 19 nối Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên với Quy Nhơn.

Dư kiến sẽ đầu tư, sửa chữa và nâng cấp 3 đoạn: đoạn 1, đi trùng đường trục Khu kinh tế Nhơn Hội có tổng chiều dài 15,70 km; đoạn 2 đi trùng tuyến đường ĐT 639 dài 1,95 km và đoạn 3 đi trùng đường ĐT 635 có tổng chiều dài 42,35 km (từ Cát Tiến đến Sân bay Phù Cát). Tuyến đường này sẽ được đầu tư, sửa chữa và nâng cấp thành Quốc lộ 19B (cấp 3 đồng bằng) và sẽ nâng cấp toàn bộ tuyến tỉnh lộ ĐT.638 (Diêu Trì – Mục Thịnh) thành một phần quốc lộ 19C.

Về giao thông tỉnh,Quy Nhơn có Bến xe Liên Tỉnh nằm trên Đường Tây Sơn phục vụ đi lại của nhân dân đến hầu hết các địa phương trong và ngoại tỉnh.Dịch vụ vận tải giao thông công cộng (xe buýt) ở Quy Nhơn ra đời từ năm 2000 nối thành phố với hầu hết các huyện trong tỉnh

Tuyến

Lộ trình

Độ dài (km)

Số điểm dừng

T1

Trần Quý Cáp - Chợ Dinh - Phú Tài - Suối Mơ

21.4

36

T2

Chợ Lớn - Bến xe - Phú Tài - Phước Mỹ  

23 

46

T3

Chợ Lớn - Tuy Phước - Diêu Trì - Phú Tài 

26,8

52

T4

Khu 1 - Diêu Trì - Bình Định - Đập Đá - Gò Găng

35

68

T6

Chợ Lớn - Tuy Phước - Tây Sơn - Cầu 16 

60,3

85

T6B

Cầu 16 - Tỉnh lộ 637 - Định Bình - Vĩnh Thạnh - Vĩnh Hảo

20

32

T7

Quy Nhơn - Tuy Phước - Gò Bồi - Cát Tiến 

43

67 

T8

Siêu Thị Quy Nhơn – Diêu Trì – Vân Canh

44

69

T9

Siêu Thị Quy Nhơn - An Nhơn - Phù Cát - Phù Ly

48

60 

T10

Siêu thị Quy Nhơn - Nhơn Hội - Cát Tiến - Đề Gi 

50

T11

Siêu Thị Quy Nhơn - Bãi Xếp - Sông Cầu - Chí Thạnh (Phú Yên)

68,5

110

T12

Siêu Thị Quy Nhơn - Diêu Trì - Phù Cát - Phù Mỹ - Bồng Sơn- Tam Quan 

114

170

T13

Bệnh viện Bồng Sơn - Tỉnh lộ 629 - Thị Trấn An Lão

Đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc biển Quy Nhơn

Quy Nhơn có cảng Quy Nhơn,cảng Thị Nại,Cảng Đống Đa và Cảng nước sâu Nhơn Hội.Hệ thống Cảng Quy Nhơn là hệ thống cảng lớn nhất của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Cảng Quy Nhơn đã được thủ tướng chính phủ công nhận là cảng loại 1 và đang trên đà phát triển mạnh mẽ với vị trí luôn nằm trong top 3 lượng hàng hóa lưu thông qua Cảng, chỉ đứng sau Cảng Sài Gòn và Cảng Hải Phòng.Năm 2013 tổng lượng hàng qua hệ thống cảng Quy Nhơn là 12.294.354 tấn(Cao nhất khu vực Miền Trung).Dự kiến đến năm 2020 tổng sản lượng hàng hóa qua hệ thống Cảng Quy Nhơn là 18-22 triệu tấn.

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Ga Quy Nhơn nằm ngay trung tâm thành phố, là một nhánh của tuyến đường sắt Bắc-Nam hướng từ ga Diêu Trì. Ga không phải là ga lớn, chủ yếu vận chuyển hành khách và hàng hóa lên đến ga chính là ga Diêu Trì. Tuy nhiên, hiện nay ngành đường sắt đã đưa vào sử dụng đôi tàu địa phương SQN1/2 Golden Train chạy từ ga Quy Nhơn đến ga Sài Gòn và ngược lại hàng ngày giúp người dân thuận tiện hơn trong việc đi tàu. Vào các dịp cao điểm như lễ, tết hoặc hè, một số đôi tàu nhanh khác cũng được vào sử dụng tại ga như Quy Nhơn - Nha Trang, Quy Nhơn - Vinh. Tại đây còn bán vé Tàu Thống Nhất và tàu khách địa phương

Đường Hàng Không[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động với Phi trường Quốc tế Phù Cát là một trong những sân bay lớn và có các tiêu chí kỹ thuật tốt nhất của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên và có khả năng tiếp nhận các máy bay loại lớn như Airbus A330, Boeing 737, Boeing 777.

Các đường bay đang khai thác:

  • Vietnam Airlines: Chặng Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh - Quy Nhơn với tần suất 21 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 321.
  • Vietnam Airlines: Chặng Quy Nhơn - Hà Nội - Quy Nhơn với tần suất 7 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 321.
  • Vietjet Air: Chặng Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh - Quy Nhơn với tần suất 7 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 320 Sharklet và mỗi chuyến một ngày tuyến Hà Nội-Quy Nhơn từ 24/4/2014
  • Jetstar Pacific Airlines: Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh với tần suất mỗi ngày một chuyến

Nâng cấp sân bay Phù Cát thành sân bay quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Mô hình nhà ga hành khách và sân đậu máy bay của Cảng hàng không Quốc tế Phù Cát (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).

Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV) đã quyết định đầu tư nâng cấp Sân bay Phù Cát theo hướng sẽ trở thành Cảng hàng không quốc tế với 3 hạng mục chính: mở rộng sân đỗ, xây dựng mới Nhà ga hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế và nâng cấp đường băng.

Theo thiết kế, Nhà ga hành khách gồm 2 tầng, lấy ý tưởng thiết kế từ hình ảnh của Đàn Nam Giao. Tầng 1 có hình vuông tượng trưng cho Đất, tầng 2 có hình tròn tượng trưng cho Trời, ở giữa nhà ga có khoảng trống hình tròn thông suốt từ tầng trệt lên mái nhà ga để hấp thụ trực tiếp ánh sáng và khí trời.

Trên mái của tầng 1 sẽ trồng cỏ và cây xanh làm cho nhà ga mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, đồng thời tạo cảnh quan và không gian xanh mát cho nhà ga.

Nhà ga hành khách có năng lực phục vụ 600 hành khách giờ cao điểm, công suất thiết kế 1,5 triệu hành khách/năm, có khả năng mở rộng để nâng công suất lên 2,4 triệu hành khách/năm; dự kiến Nhà ga hành khách sẽ được hoàn thành, đưa vào khai thác trước Tết Nguyên đán năm 2016.

Sau khi mở rộng sân đậu, sân bay Phù Cát sẽ đảm bảo 7 vị trí đậu máy bay A321-200 và tương đương (tăng 3 vị trí so với hiện nay), đáp ứng nhu cầu khai thác trong thời gian tới. Hệ thống đèn chiếu sáng sân đỗ, đèn hiệu được đầu tư bổ sung, đảm bảo Cảng hàng không Phù Cát có thể khai thác các chuyến bay đêm trong tương lai gần.

Việc mở rộng sân đỗ máy bay đảm bảo kết nối đồng bộ với hệ thống sân đường khu bay đã tính đến việc phát triển mở rộng sân đỗ trong tương lai. Đặc biệt, trong quá trình thi công, sân bay Phù Cát vẫn đảm bảo tiếp nhận được các máy bay. Dự kiến, dự án này sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác ngay trong năm nay.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống các trường tiểu học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Tiểu học Ngô Quyền
  • Trường Tiểu học Bùi Thị Xuân
  • Trường Tiểu học Nguyễn Khuyến
  • Trường Tiểu học Nhơn Phú 1
  • Trường Tiểu học Nhơn Phú 2
  • Trường Tiểu học Số 1 Nhơn Bình
  • Trường Tiểu học Số 2 Nhơn Bình
  • Trường Tiểu học Đống Đa
  • Trường Tiểu học Trần Quốc Toản
  • Trường Tiểu học Hoàng Quốc Việt
  • Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo
  • Trường Tiểu học Hải Cảng
  • Trường Tiểu học Lê Lợi
  • Trường Tiểu học Lê Hồng Phong
  • Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt
  • Trường Tiểu học Trần Phú
  • Trường Tiểu học Ngô Mây
  • Trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ
  • Trường Tiểu học Quang Trung
  • Trường Tiểu học Kim Đồng
  • Trường Tiểu học Nhơn Lý
  • Trường Tiểu học Trần Quốc Tuấn
  • Trường Tiểu học Nhơn Hải
  • Trường Tiểu học Phước Mỹ
  • Trường Tiểu học Âu Cơ
  • Trường Tiểu học Nhơn Hội

Hệ thống các trường THCS[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường THCS Bùi Thị Xuân
  • Trường THCS Nhơn Phú
  • Trường THCS Nhơn Bình
  • Trường THCS Đống Đa
  • Trường THCS Tây Sơn
  • Trường THCS Trần Hưng Đạo
  • Trường THCS Hải Cảng
  • Trường THCS Lê Lợi
  • Trường THCS Lương Thế Vinh
  • Trường THCS Lê Hồng Phong
  • Trường THCS Ngô Mây
  • Trường THCS Quang Trung
  • Trường THCS Nhơn Lý
  • Trường THCS Nhơn Hội
  • Trường THCS Nhơn Hảo
  • Trường THCS Ngô Văn Sở
  • Trường THCS Nguyễn Huệ
  • Trường THCS Ghềnh Ráng
  • Trường THCS Trần Quang Diệu
  • Trường THCS Phước Mỹ

Hệ thống các trường THPT[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường THPT chuyên Lê Qúy Đôn (Trường chuyên của tỉnh Bình Định)
  • Trường THPT Ischool Quy Nhơn (Trường chất lượng cao của thành phố)
  • Trường THPT Quốc Học
  • Trường THPT Trưng Vương
  • Trường THPT Hùng Vương
  • Trường THPT Trần Cao Vân
  • Trường THPT Nguyễn Thái Học
  • Trường THPT Quy Nhơn
  • Trường THPT Dân Tộc Nội Trú Tỉnh
  • Trường PTCS Nhơn Châu

Hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Cao Đẳng Sư phạm Bình Định
  • Trường Chính trị tỉnh Bình Định
  • Trường Công nhân Kỹ thuật LN TW2
  • Trường Đại học Quang Trung
  • Trường Đại học Quy Nhơn
  • Trường Hậu Cần KTT Quân Đoàn 3
  • Trường Cao đẳng Nghề Quy Nhơn
  • Trường Kỹ Thuật Q. Phòng Ô Tô QK5
  • Trường Năng Khiếu Thể dục Thể Thao Bình Định
  • Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật tỉnh Bình Định
  • Trường Cao đẳng Y tế Bình Định
  • Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Xây dựng và Nông Lâm Trung bộ

Tập đoàn Giáo dục quốc tế KinderWorld (Singapore) sẽ xây dựng Trường Quốc tế Việt Nam - Singapore (SVIS) rộng khoảng 5 ha tại khu Đô thị - Thương mại Bắc sông Hà Thanh (TP. Quy Nhơn, dành cho học sinh mọi lứa tuổi - từ mẫu giáo đến lớp 12 và Trường Giáo dục kỹ năng sống Outward Bound Việt Nam rộng 41,2 ha tại Khu du lịch Tân Thanh thuộc Khu kinh tế Nhơn Hội (TP. Quy Nhơn).

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống các bệnh viện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh viện Chuyên khoa lao tỉnh Bình Định
  • Bệnh viện Đa khoa thành phố Quy Nhơn
  • Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định
  • Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hoà
  • Bệnh viện Quân y 13
  • Bệnh viện Tâm thần Bình Định
  • Bệnh viện Y học Dân tộc
  • Bệnh viện mắt Bình Định
  • Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn

Danh lam thắng cảnh - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp Đôi, Quy Nhơn.

Tháp Đôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp Đôi nằm trên đường Trần Hưng Đạo, thuộc phường Đống Đa, cách trung tâm Quy Nhơn 3 km. Tháp Đôi còn có tên gọi khác là tháp Hưng Thạnh, gồm hai tháp đứng song song với nhau, một tháp cao 20 m và tháp kia cao 18 m. Tháp Đôi được xây dựng vào khoảng niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13. Quanh tường phía ngoài, các nóc và trên nóc tháp có nhiều bức phù điêu chạm khắc các hình tượng thần, chim, thú theo tín ngưỡng của người Chăm. Tháp đã bị chiến tranh và thời gian tàn phá nặng nề. Từ năm 1991 đến năm 1997, tháp được trùng tu, gần như nguyên vẹn. Ngày nay, Tháp Đôi là điểm tham quan du lịch của du khách khi đến Quy Nhơn.

Chùa Long Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Toạ lạc ở số 141 Trần Cao Vân, được xây dựng vào cuối thế kỷ 18. Chùa Long Khánh là nơi truyền bá tín ngưỡng Phật giáo trong vùng bấy giờ. Chùa do hoà thượng Đức Sơn (người Trung Quốc) sáng lập. Hiện chùa còn lưu giữ hai vật quý: Thái Bình hồng chung (chuông Hồng Thái) được đúc vào năm 1805 triều vua Gia Long. Tấm dấu biểu trưng Long Khánh Tự được in vào năm 1813 triều vua Gia Long.

Chùa Sơn Long[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Sơn Long nay thuộc phường Nhơn Bình,cách cầu Trường Úc 700m về hướng đông.Kiến trúc chùa có nhiều thay đổi nhưng khuôn viên chùa vẫn giữ như cũ. Mặt tiền hình cánh cung niễng, mặt hậu đất đá lồi lõm sát vách núi. Tương truyền dưới chân núi phía sau chùa xưa có tảng đá rất lớn trông như miệng rồng có hàm trên, hàm dưới có một cái lưỡi nhỏ đưa ra ở chính giữa. Tảng đá đó có tên gọi là đá Hàm Long, nay không còn nữa. Trong chùa có 15 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, có những ngôi mộ vẫn còn giữ nét rêu phong cũ kỹ của mấy trăm năm về trước, có những mộ tháp đã được trùng tu khang trang hơn. Năm 1992, chùa đã cho xây dựng thêm tượng Bồ tát Quan Âm ở hướng tây. Năm 1996, xây tượng Thích ca Mâu Ni tọa thiền phía tây bắc,...mang lại sắc khí mới cho chùa.

Đến Sơn Long, du khách còn được chiêm ngưỡng tượng Phật Lồi 7 đầu rồng bằng đá nặng 1,5 tấn,cao 3,1 m với chạm khắc hoa văn sau lưng. Bức tượng xác định là của người Chăm tạc từ thế kỷ XIII. Dù dáng vẻ còn khiêm tốn nhưng chùa Sơn Long vẫn dập dìu khách phương xa đến thăm,vãn cảnh,...đặc biệt là vào dịp đầu năm mới.

Ghềnh Ráng Tiên Sa[sửa | sửa mã nguồn]

Bãi Đá Trứng

Nằm cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 3 km về hướng đông nam [13]. Thắng cảnh Gềnh Ráng trải dài dọc bờ biển, uốn lượn hàng cây số, nước biển trong xanh. Nơi đây có bãi Đá Trứng (với vô số hòn đá tròn nhẵn như trứng chim khổng lồ) là quần thể sơn thạch còn gọi là Bãi tắm Hoàng Hậu (Hoàng hậu Nam Phương từng đến tắm ở đây), dấu vết tận cùng phía đông của dãy núi Xuân Vân. Ngoài ra, nơi đây còn mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử nằm trên đồi Thi Nhân và Lầu Bảo Đại (một nhà nghỉ ba tầng, mặt hướng ra biển, đã bị phá hủy trong chiến tranh).[14]

Biển Quy Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh biển Quy hòa có bệnh viện phong Quy Hòa, khá đơn sơ mộc mạc nhưng có lẽ vì vậy mà nơi đây cho ta cảm giác mộc mạc, thanh thản.

Cầu Thị Nại[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn có cầu vượt Thị Nại là cây cầu vượt biển lớn nhất nước (dài 3.477,3 m, rộng 24,5 m, trọng tải 100 tấn gồm 54 nhịp, tổng vốn đầu tư là 1500 tỷ đồng). Nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội là dài gần 17 km nối thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai (khu kinh tế Nhơn Hội), gồm cầu chính vượt đầm Thị Nại, 5 cầu nhỏ qua sông Hà Thanh và đường dẫn 2 đầu cầu. Cầu được xây dựng trong 5 năm, khánh thành ngày 12/12/2006.

Nhà thờ Chính Tòa Quy Nhơn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn (còn có danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời và còn có tên khác là nhà thờ Nhọn) tọa lạc tại 122 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Quy Nhơn. Nhà thờ có khuôn viên khá rộng và được trồng nhiều cây xanh...

Làng chài Hải Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Một làng chài nằm trên bán đảo Phương Mai thuộc khu vực 9, phường Hải Cảng, TP Quy Nhơn. Làng chài nhỏ, tĩnh lặng và đẹp diệu kỳ khi ráng chiều buông xuống. Làng nằm trên bán đảo cách bến Hàm Tử gần trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 15 phút đi đò.

Ráng chiều Hải Minh

Làng chài rất gần, nhưng cũng vừa đủ xa để những ai thích làm một chuyến dã ngoại trong ngày chọn nơi đây làm điểm đến. Với các di tích và cảnh đẹp như tượng đài Đức Thánh Trần (di tích cấp tỉnh), phế tích núi Tam Tòa (di tích cấp quốc gia), chùa Hải Long, hải đăng Phước Mai, đầm Thị Nại, hang Dơi, bãi Rạng,...

Eo Gió[sửa | sửa mã nguồn]

Eo Gió nằm trên bán đảo Phương Mai, cách trung tâm TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định khoảng 20 km về hướng Đông Bắc. Sở dĩ gọi Eo Gió vì nơi đây có hình dạng cái hõm như yên ngựa, nằm giữa hai mỏm núi cao kề bên biển.

Có lẽ bất kỳ ai đến Eo Gió lần đầu đều không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy những rặng núi đá cao chót vót, chập chùng với những hang động kỳ vĩ, đàn chim én lượn chao quanh.

Eo Gió đẹp theo kiểu hoang sơ bởi những rặng núi có hình thù kỳ lạ vươn ra biển lớn, ôm trọn một vòng tạo thành một eo biển hút gió. Sóng biển vỗ rì rào thay nhau vờn chân núi, nhè nhẹ vào vách đá. Trong lòng Eo Gió, một bãi biển cát vàng khá rộng, sóng êm êm khiến bạn như thả trôi mình vào thiên nhiên.

Nhìn xa xa, phía trước bãi biển, những cụm đảo mang nhiều hình thù kỳ lạ lô nhô trên mặt nước. Bên vách núi, những hang động với cái tên rất ngộ nghĩnh: hang Kỳ Co, hang Ba Nghé… thu hút rất nhiều chim yến đến đây sinh sống.

Dọc theo chân núi, những bãi đá trứng đủ màu sắc, nhẵn thín xen lẫn những tảng đá lớn, bằng phẳng như mặt bàn giúp cho bạn ngồi chơi hay ngả lưng nghỉ sức sau khi dạo chơi, vãn cảnh.

Đến Eo Gió, bạn phải leo 1 giờ lên đỉnh núi cao chót vót mới chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp kỳ vĩ của đất trời. Đường lên đỉnh tuy gập ghềnh, khó đi nhưng bù lại cho bạn cảm giác bồng bềnh, khó tả khi nhìn Eo Gió dưới chân mình hiện ra như một chiếc tàu cá chuẩn bị lao ra biển lớn. Nếu soi ống nhòm, bạn có thể thấy rõ những rặng san hô trong nước xanh trong vắt, xung quanh là những đàn cá tung tăng bơi lội.

Hải đăng cổ Cù Lao Xanh[sửa | sửa mã nguồn]

Khu nhà của quan ba Pháp: Cạnh ngọn hải đăng là nhà làm việc hai tầng, thật không thể tin được có một tòa nhà đẹp đến thế được xây dựng cách đây hơn 100 năm tọa lạc ở đây. Từ đây nhìn được toàn bộ khu vực đảo và chiêm ngưỡng được toàn cảnh biển bao la phía xa, trong lòng chợt phóng khoáng như một câu thơ: "Muốn nhìn xa nghìn dặm, lên nữa một tầng lầu".

Men xuống theo hướng Tây Bắc của ngọn hải đăng là Suối Giếng Tiên. Tên suối này xuất phát từ một tương truyền rằng, xưa kia vào những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời xuống đây để du ngoạn. Các nàng tiên rủ nhau cởi xiêm áo, tắm mát và vui đùa rồi mới bay trở về trời. Có dịp tới đây, bạn nên một lần tắm "tiên", cảm được cái mằn mặn của biển và cái ngòn ngọt của nước suối.

Đảo Yến Quy Nhơn[sửa | sửa mã nguồn]

Gọi là “đảo” nhưng thực ra xứ sở của loài chim yến nằm trên địa phận bán đảo Phương Mai. Dãy Triều Châu ăn ra biển, trãi dài chừng 15 km, tạo thành những ngọn núi nhấp nhô, trùng điệp với tên gọi thật ngộ nghĩnh: Hòn Mai, hòn Chóp Vung, núi Cột Cờ, Núi Đen… và trong số đó, ngọn núi án ngữ phía nam mang tên Hòn Yến. Cứ mỗi mùa xuân đến, tiết trời ấm áp, chim yến rủ nhau tưng đàn đông nghịt đến đây làm tổ.

Đặc sản ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc sản của Quy Nhơn có món bún chả cá. Đây là món bún ngon không chỉ người dân trong tỉnh thích mà cả nước dường như mọi người vẫn xem đây là món khoái khẩu của mình.

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nước

Ngoài nước

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ”. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tháng 6 năm 2010. tr. 23. 
  2. ^ “QUI NHON, VIETNAM”. weatherbase. Canty and Associates LLC. 2012. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2012. 
  3. ^ Quyết định 127-CP năm 1979 điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Nghĩa Bình
  4. ^ Quyết định 80-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới một số xã thuộc tỉnh Nghĩa Bình
  5. ^ Quyết định 81-HĐBT năm 1986 về việc mở rộng và đổi tên thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Nghĩa Bình
  6. ^ Quyết định 52-HĐBT năm 1987 về việc chia xã Nhơn Thạnh thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Nghĩa Bình
  7. ^ Nghị quyết về việc phân vạch đại giới hành chính của các tỉnh Nghĩa Bình, Phú Khánh và Bình Trị Thiên do Quốc hội ban hành
  8. ^ Nghị định 118/1997/NĐ-CP về việc thành lập một số phường thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
  9. ^ Nghị định 70/1998/NĐ-CP về việc thành lập các phường thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
  10. ^ Nghị định 143/2005/NĐ-CP về việc mở rộng thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
  11. ^ Quyết định 558/QĐ-TTg năm 1998 về việc công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại II do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  12. ^ Quyết định 159/QĐ-TTg năm 2010 công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Định do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  13. ^ Theo Thùy Linh - Việt Trinh, Di tích và lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Lao Động, 2011, tr. 476.
  14. ^ Xem chi tiết thắng cảnh Gành Ráng Tiên Sa trên báo Bình Định truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008 [1].

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]