Chùa Hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chùa Hương
Chùa Hương.jpg
Tháp chuông chùa Hương
Vị trí
Quốc gia Việt Nam Việt Nam
Địa chỉ Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Thông tin
Khởi lập cuối thế kỷ 17
Trang web chuahuong.info.vn
Dharma Wheel.svg Chủ đề:Phật giáo
Tam quan chùa

Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Thiên Trù trong quần thể chùa Hương

Những ai dù chỉ một lần hành hương thăm thắng cảnh Hương Sơn, chắc chắn cũng giữ được nhiều kỷ niệm về bức tranh sơn thủy hữu tình rất đẹp, rất thơ do thiên nhiên và con người tạo dựng. Hương Sơn là một quần thể di tích và danh lam thắng cảnh nổi tiếng, bao gồm cả một hệ thống hang động, đền, chùa xen lẫn trong rừng núi hoa lá cỏ cây, nằm ở địa phận huyện Mỹ Đức, Thủ đô Hà Nội. Trải qua nhiều thế kỷ đá vẫn trơ khan cùng tuế nguyệt. Thi sĩ Tản Đà đã phác thảo bức tranh Hương Sơn;

Chùa Hương trời điểm lại trời tô

Một bức tranh tình trải mấy thu,

Xuân lại xuân đi không dấu vết

Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.

Thật vậy, đã bao nhiêu năm tháng trôi qua, xuân đến rồi xuân lại đi mà bức tranh Hương Sơn vẫn xuân xanh trường cửu. Đến với Hương Sơn chúng ta càng cảm nhận cái đẹp thanh tao và hương sắc đậm đà của non sông đất Việt. Dãy Hương Sơn đã bị xâm thực lâu đời của thiên nhiên, nước đã khoét núi đá thành nhiều hang động trong đó có động Hương Tích, sản phẩm đặc sắc của thiên nhiên. Theo Phật thoại thì đây là nơi lưu dấu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát tu hành đắc đạo. Bồ tát đã ứng thân thành công chúa Diệu Thiện con vua Diệu Trang Vương ở nước Hưng Lâm, tu hành 9 năm trong động Hương Tích, khi đắc đạo rồi Ngài trở về chữa bệnh cho vua cha, trừ nghịch cho nước và phổ độ quần sinh. Khi câu chuyện Phật thoại này được truyền bá ra, các thuyền sư cổ đức đã chống gậy tích tới đây nhàn du mây nước, sau đó ba vị Hòa thượng đời vua Lê Thánh Tông 1442 – 1497 đã tìm thấy động Hương Tích và dựng lên thảo am Thiên Trù. Kể từ đó Hương Tích được gọi là chùa trong, Thiên Trù gọi là chùa ngoài, rồi người ta lấy tên chung cho hai nơi và cả khu vực là chùa Hương hay “Hương Thiên Bảo Sái”. Hương Tích là dấu vết thơm tho, ý nói nơi đây đã là trụ xứ tu hành của Bồ Tát Quán Thế Âm. Còn Thiên Trù đọc theo âm Hán Việt có nghĩa là bếp trời, cái bếp khổng lồ của động đẹp nhất trời Nam. Do đó nói đi trẩy hội chùa Hương tức là đi chiêm bái cả khu vực Hương Thiên ở vùng núi Hương Sơn. Vì những ý nghĩa trên cho nên chùa Hương có sức thu hút mạnh mẽ đối với du khách trong nước và ngoài nước. Mỗi năm có hàng triệu người hành hương đến nơi đây chiêm bái Thánh tích, nếu bạn đã trẩy hội chùa Hương thì bạn có thể tự hào rằng mình đã đến đất Phật và biết thế nào là cảnh đại kỳ quan của đất nước rồi;

Kể từ lúc bước lên đò Đục

Ngước mắt trông đà mãn mục vân sơn.

Ở đây, mái chèo ngư phủ sẽ dẫn lối Đào nguyên rẽ nước đưa bạn lách vào dãy non xanh trùng điệp tưởng như vô tận. Nắng xuân ấm áp chan hòa tỏa xuống suối rừng, phủ xuống người khách hành hương. Mây bạc dập dờn lướt qua những đỉnh núi xanh thẫm dưới sườn rực mầu hoa gạo.

Non xanh phơi tấm thân thanh tịnh

Suối chảy nghe xa tiếng kệ Kinh.

Đò đi một quãng bạn sẽ đến đền Ngũ Nhạc, như một sơn thủy lâu đài đứng ngay bên cạnh suối. Đền thờ một vị tướng của vua Hùng Huy Vương thứ sáu tên là Hiển Quang đã có công lao đánh giặc và giúp dân trừ bạo. Sau về trí sỹ ở vùng này. Sau khi ghé vào đền Trình lễ Sơn Thần, thuyền sẽ tiếp tục đưa bạn tiến sâu vào lòng dãy núi, qua bao nhiêu kỳ sơn tú thủy để rồi “khoan mái chèo nan ghé bến tiên”, bến Trò - Thiên Trù rộn rã tấp nập, thuyền đò đậu san sát bên nhau.

Suối đến đây dừng lại

Tiễn khách chèo lên non.

Quang cảnh thung lũng “Bếp trời” bao la, núi non hùng vĩ hiện ra trước mắt;

Tiếng đâu văng vẳng chuông vàng

Khói đâu ngào ngạt mùi nhang Thiên Trù

Theo một số tài liệu mới tìm được thì khi xưa vua Lê Thánh Tông đi tuần thú qua đây lần thứ 2 vào tháng giêng năm Đinh hợi, niên hiệu Quang thuận thứ 8 (1467) đã đóng quân nghỉ lại ở thung lũng này và cho quân lính thổi cơm ăn, vua xem thiên văn thấy vùng này lâm vào địa phận của sao Thiên Trù, (một sao chủ về sự ăn uống và biến động) nên nhân đấy đặt tên, rồi tiếp đến chuyến tuần du của chúa Tĩnh đô vương Trịnh Sâm vào năm Canh Dần 1770, ông đã khắc năm chữ; “Nam Thiên Đệ Nhất Động” nghĩa là động đẹp nhất trời Nam vào cửa động Hương Tích và lưu lại một số minh văn bia ký. Sau thời kỳ ba vị Hòa thượng khai sáng, chùa Hương gián đoạn trụ trì, mãi tới niên hiệu Chính Hòa năm thứ bẩy 1686 của thời vua Lê Trung Hưng. Hòa thượng Trần Đạo Viên Quang, (tương truyền cũng là một quan chức trong triều đình đã treo ấn từ quan để đi tu) mới lại tiếp tục công việc tạo dựng;

Nội tu Hương tích bảo động

Ngoại khai Phật cảnh Thiên trù

Rồi kể từ đó Tổ ấn trùng quang, đèn Thuyền chuyển nối, cho đến đầu thế kỷ XX thì Thiên Trù đã trở thành một lâu đài tráng lệ “biệt chiếm nhất Nam Thiên”. Chùa có trên 100 nóc, với những công trình kiến trúc quy mô tính xảo của Phật Giáo Việt Nam. Nhưng đáng tiếc thay vào ngày 11 tháng 2 năm Đinh Hợi 1947, thực dân Pháp đã vào đây đốt phá Thiên Trù thành đống gạch vụn tro tàn, năm 1948 chúng lại vào đốt phá một lần nữa và đến năm 1950 chúng lại cho máy bay thả bom khiến cho cao chất ngất mấy tòa cổ sái của Thiên Trù không còn nữa, dấu vết xưa của Thiên Trù hiện nay chỉ còn lại vườn Tháp, trong đó có Bảo Tháp Viên Công, một công trình nghệ thuật đất nung của thế kỷ thứ 17 và cây Thiên Thủy Tháp.

Từ Thiên Trù ta rẽ sang bên phải lên động Tiên Sơn. Ở núi Tiên Sơn, đây là một tòa động đẹp cảnh sắc thanh u, trong động có bài thơ bút tích của Trịnh Sâm và năm pho tượng đá bạch thạch soi đèn vào trông như ngọc. Động có những nhũ đá rủ xuống thành hình Tràng phan, Bảo cái, khi gõ vào phát ra những âm thanh nghe như tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng khánh, tiếng chiêng, tiếng cồng đúng như hai câu thơ cổ;

Non Tiên tưởng những là Tiên thật

Thủa trước Đào nguyên cũng thế chăng

Đi khỏi chùa Tiên chúng ta gặp chùa Giải Oan và suối Giải Oan, bên tay trái trong chùa có am Phật Tích, có động Tuyết Quỳnh, có giếng thiên nhiên Thanh Trì trong suốt và không bao giờ cạn. Tương truyền, Đức Phật bà Quán Thế Âm đã tắm ở giếng này để tẩy bụi trần trước khi vào cõi Phật. Vẫn  theo đường đá gập ghềnh tiến sâu vào phía trong, chúng ta còn gặp đền Cửa Võng, đền này thờ bà Chúa Thượng Ngàn. Tương truyền bà Chúa là người cai quản núi rừng ở khu vực Hương Sơn, đồng thời cũng là nơi của những Ngọc nữ thường xuyên mang tin tức từ chùa ngoài vào chùa trong. Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã viết;

Trèo qua một dịp Trấn Song

Đây mới thực quần phong chi đệ nhất

Qua khỏi đền Trấn Song, tiến thêm một đoạn nữa cửa động đẹp nhất trời Nam đã hé mở;

Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt

Gập ghềnh mấy lối uấn thang mây.

Lối vào đã vén mây trông rõ

Vạn trạng thiên hình vô số.

Xanh như mây mà đá vẫn trơ trơ

Trên vách phấn lờ mờ treo giá áo.

Động Hương Tích là động chính của thắng cảnh, hình thế động như một con rồng lớn đang há miệng, biết bao nhiêu nhũ đá hình thù kỳ dị thể hiện những ước mơ bình dị của dân gian như đụn gạo, đụn thóc, cây tiền, cây bạc, cây vàng, núi cậu, núi cô, nong tằm nghé kén, con lợn, chuồng trâu, ao bèo, bầu sữa mẹ…v.v Giá trị nhất trong động là pho tượng Đức Phật bà Quán Thế Âm bằng đá xanh tạc thời Tây Sơn, người tạc tượng không tuân theo những ước lệ sẵn có của quy cách tượng Phật, mà tạo nên một hình ảnh bà Chúa Ba đau đáu nỗi thương đời.

Tượng đá trong hang mãi chẳng già

Trăm năm rung động nét tài hoa

Mắt người chưa thấy dung nhan Phật

Mà tự tay người Phật hiện ra.

Quần thể thắng cảnh Hương Sơn còn có khu chùa, động khác ở phía nam Hương Tích như Thanh Sơn - Hương Đài, Long Vân Tuyết Sơn mỗi nơi có một vẻ đẹp độc đáo riêng biệt nếu bạn có đủ thời gian thì phải đi trọn mất ba ngày mới hết. Vinh dự cho Hương Sơn, ngày 19 tháng 5 năm 1958 Hồ Chủ Tịch đã về thăm, người căn dặn; “phải biết quý cảnh đẹp, phải trồng cây cối và mở mang quy hoạch lại cho bà con trong nước và quốc tế về đây vãn cảnh”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng hai lần về thăm cảnh vào năm 1961 và 1971, Thủ tướng cũng ân cần căn dặn; “phải xây dựng nơi đây thành công viên quốc gia” và gần đây nhất vào ngày mùng 4 tháng giêng năm Canh Thìn, tức ngày 8 tháng 2 năm 2000 chủ tịch nước Trần Đức Lương cũng đã về thăm chùa Hương với lời mong ước và căn dặn; “Ngày xuân mong đất nước ta yên bình, sự nghiệp xây dựng đất nước phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện ấm no – hạnh phúc, mong chùa Hương Tích mãi mãi là thắng cảnh nổi tiếng của nước ta, là nơi nhân dân gửi gắm tâm linh với Đạo Phật”. Để thực hiện ước mơ quy hoạch thắng cảnh Hương Sơn và xây dựng lâu đài quảng tịch ở thung lũng bếp trời, gác chuông 8 mái theo kiểu chùa Ngăm đã được dựng lên ở sân Thiên Trù vào năm Giáp tý 1984 tiếp theo ngày 4 tháng 3 năm 1989 Ban xây dựng chùa Hương đã được thành lập để thực hiện công việc quy hoạch và tôn tạo, rồi đến ngày 11 tháng 2 năm Kỷ tỵ nhằm ngày 18 tháng 3 năm 1989 ngày thực dân Pháp tàn phá Thiên Trù cách đây 42 năm về trước, lễ khởi công xây dựng Thiên Trù đã được tiến hành ngay tại nền móng của chùa cũ, cho tới hôm nay toà chính điện Thiên Trù đã sừng sững hiên ngang đứng giữa thung lũng bếp trời. Chỉ trong khoảng 20 năm với ước nguyện;

Phạm vũ xưởng tân quy, Quyết trí trùng khai Tam bảo địa

Lầu đài y cựu chỉ, Thanh sơn biệt chiếm nhất Nam Thiên

Quần thể danh lam cổ tự ở đây ngày một phong quang tú lệ trang nghiêm giữa núi rừng Hương Sơn ngút ngàn mây nước. Hàng loạt công trình kiến trúc mỹ thuật Phật Giáo đã và đang được tu bổ và tôn tạo, đặc biệt phải nói đến bảo Tháp Chân Tịnh nơi an trí kim thân cố Hòa thượng Thích Viên Thành, trưởng ban xây dựng, Trụ trì đời thứ 11 sơn môn Hương Tích, với kiến trúc Phật Giáo mang đậm sắc thái Mật giáo, đã tô bồi cho quần thể không gian di tích thắng cảnh chùa Hương một dấu ấn khó phai trong lòng nhân dân và Phật tử mỗi khi trẩy hội chùa Hương. Hy vọng không bao lâu nữa, khu vực quần thể thắng cảnh chùa Hương sẽ được khôi phục lại hoàn toàn với quy mô rộng rãi để phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng Phật Giáo và hành hương của đông đảo bà con trong nước và nước ngoài. Để nâng thắng cảnh Hương Sơn lên đúng tầm vóc và vị trí hiện nay, Bộ văn hóa thể thao và du lịch nước ta đã làm tờ trình lên ủy ban văn hóa và giáo dục của liên hiệp quốc để đưa Hương Sơn vào di sản văn hóa và thiên nhiên của nhân loại. Thật là;

Hương Sơn cảnh Phật non tiên

Rừng xanh núi biếc lâm tuyền thanh cao

Thiên nhiên một thú động đào

Càng nhìn càng đẹp càng vào càng ưa.

Các đời trụ trì[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù (tọa độ: 20°37′5″B 105°44′49″Đ / 20,61806°B 105,74694°Đ / 20.61806; 105.74694). Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.[1]

Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên (tọa độ: 20°36′47″B 105°44′4″Đ / 20,61306°B 105,73444°Đ / 20.61306; 105.73444). Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Hội chùa Hương [2][sửa | sửa mã nguồn]

Đụn Gạo trong chùa Hương

Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Vào dịp lễ hàng triệu phật tử cùng du khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành.

Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng hai âm lịch. Ngày này, vốn là ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) của địa phương. Đến nay nghi lễ "mở cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới - mở cửa chùa. Lễ hội chùa Hưng trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút.

Ở trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ. Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt. Về phần lễ có nghiêng về "thiền". Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Đền Cửa Vòng là "chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, là người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.

Như vậy, phần lễ là toàn thể hệ thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn giáo ở Việt Nam; có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều  khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần làng.

Lễ hội chùa Hương là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn … Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật.

Chùa Hương và văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Việt Nam, trong số đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài hát nói "Hương Sơn phong cảnh ca" của Chu Mạnh Trinh, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất được ca ngợi:

Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
...
Nhác trông lên ai khéo họa hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?...

và bài "Chùa hương" của Nguyễn Nhược Pháp, làm vào thế kỷ 20. Bài này đã được ít nhất 2 nhạc sĩ phổ nhạc là Trần Văn Khê và Trung Đức:

Hôm qua đi chùa hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
...

Trong bài này ngoài những câu thơ nhí nhảnh như trên, còn có nhiều câu tả cảnh Hương sơn rất sinh động: Réo rắt suối đưa quanh/Ven bờ ngọn núi xanh/Nhịp cầu xa nho nhỏ/Cảnh đẹp gần như tranh/Sau núi oản -gà-xôi/Bao nhiêu là khỉ ngồi/Đến núi con voi phục/Thấy đủ cả đầu đuôi/Chùa lấp sau rừng cây/(Thuyền ta đi một ngày)/Lên cửa chùa em thấy/Hơn một trăm ăn mày...

Tản Đà rất mến cảnh chùa Hương, ông làm nhiều câu thơ rất đặc sắc về cảnh và tình ở đây:

Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy Thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.
Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt
Đá hỏm hang đen tối tối mò.
Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối
Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho.

Ông còn có 1 bài thơ nổi tiếng về món đặc sản ở chùa Hương:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.

Về văn xuôi, có bút ký Trẩy hội Chùa Hương của Phạm Quỳnh...

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tương truyền là tác giả bài thơ vịnh động Hương Tích như sau[3]:

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật quen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo Trời già đến dở dom.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông"
  2. ^ “Lễ hội chùa Hương”. 
  3. ^ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền. Nữ sĩ Việt Nam. TP HCM:Nhà xuất bản Văn Nghệ, 2000. Trang 279.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]