Ngọc Hà, Ba Đình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngọc Hà là tên một làng đồng thời cũng là tên một phường trực thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Phường Ngọc Hà ngày nay trước là phần đất của các làng: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Đại Yên, nổi tiếng với nghề trồng hoa và làm thuốc nam.

Ngọc Hà, Ba Đình
Địa lý
Diện tích 0,801
Dân số  
 Tổng cộng 16.774 người (2005)[1]
 Mật độ 20.941
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Hà Nội
Huyện Ba Đình
Mã hành chính 00016[2]

Diện tích và dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Phường Ngọc Hà có diện tích là 80,10 ha[1] và dân số là 16.774 người[1]

Địa giới hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Địa giới hành chính phường Ngọc Hà như sau:

Làng Ngọc Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Ngọc Hà là một làng cổ của Thăng Long (Hà Nội xưa), nổi tiếng với nghề trồng hoa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Ngọc Hà là địa danh của một làng trong số thập tam trại- mười ba làng bao quanh hồ Tây, chuyên sản xuất những nhu yếu phẩm cung cấp cho kinh thành Thăng Long trước kia: Ngọc Hà, Thụy Khuê,.....

Làng Ngọc Hà nằm ở phía Đông tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức (đầu thế kỷ 19). Cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp chiếm một phần đất của làng để xây dựng Phủ Toàn quyền và Vườn hoa Bách Thảo[3].

Làng Ngọc Hà cũ có 5 xóm (Giữa, Trên, Trong, Ngoài, Đống Nước). Các xóm đều có đường thông ra phố Đội Cấn và làng Đại Yên. Cư dân trong làng có 3 họ lớn, như Trần Văn, Trần Lê, Trần Nguyễn, còn họ Phạm là họ ít đinh, lép vế, thường bị các họ trên chèn ép. Trai đinh trong làng sinh hoạt trong 4 giáp. Các dòng họ gốc hiện không còn mấy người ở trong làng vì con cái họ sớm đi làm công chức, một số kinh tế khá giả mua đất ở mặt phố để kinh doanh. Trong khi đó, từ những năm 1920, do làng ở gần một số cơ quan, xí nghiệp và trại lính nên người các nơi đến làng mua đất để ở ngày một nhiều. Một số khác đến thuê nhà ở trong các ngõ đầu làng. Do ở gần Phủ Toàn quyền nên ở đầu phố Ngọc Hà có một đồn lính khố xanh làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh vùng ven của Phủ[3].

Trong đợt khai quật hoàng thành Thăng Long, các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích một con sông cổ chảy ngang qua kinh thành theo hướng Đông - Tây, về phía làng Ngọc Hà xưa, và họ cho rằng đây là con sông mang tên sông ngọc (Ngọc Hà), làm nên tên làng Ngọc Hà.

Thời kì kháng chiến chống Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận đánh Điện Biên Phủ trên không, một máy bay B52 Mỹ đã rơi ngay trên bầu trời Thủ đô. Một phần mảnh chiếc máy bay này đã rơi xuống hồ đình làng Ngọc Hà, thành một bằng chứng không thể chối cãi về sự thất bại của B52. Mảnh xác máy bay này hiện vẫn còn được lưu giữ như một chứng tích lịch sử.

Có một nhầm lẫn trong sự kiện này: Thực chất hồ có mảnh vỡ của máy bay B52 là hồ làng Hữu Tiệp chứ không phải Ngọc Hà. Làng Ngọc Hà và hồ làng Ngọc Hà ở ngay cạnh đó. Tuy nhiên, không rõ vì sao mọi người đều cho rằng máy bay rơi ở hồ làng Ngọc Hà và vì thế, cả khu đó có tên là Ngọc Hà luôn.

Thời kì sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1981, làng Ngọc Hà trở thành phường thuộc quận Ba Đình[4].

Năm 2005, tách 19,90 ha diện tích tự nhiên và 5.226 nhân khẩu của phường Ngọc Hà cùng với 52,88 ha diện tích tự nhiên và 13.415 nhân khẩu của phường Cống Vị để thành lập phường Liễu Giai[1].

Làng hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọc Hà là làng nhỏ, nhưng dân đông (năm 1926 có 990 nhân khẩu), đất thổ cư chiếm một tỷ lệ lớn, không có ruộng cấy lúa, chỉ có vườn để trồng hoa và rau nên vườn và nhà đan xen nhau. Nghề trồng hoa có từ lâu đời. Xưa kia, Ngọc Hà có rất nhiều ruộng đất bỏ hoang. Về sau, nhiều quan lại khi về hưu đã đến làng mua đất làm nơi dưỡng lão, trồng hoa và cây cảnh để giải trí, từ đó hình thành nghề trồng hoa. Thời kỳ đầu, dân làng chỉ trồng các loại hoa để cúng như mẫu đơn, hồng, huệ, sói, cúc, thiên lý. Hoa được xâu vào lạt thành tràng hoa hoặc gói trong lá tươi buộc lạt. Người bán hoa (thường là các cô gái) đem treo lên cửa các nhà đặt mua trước hoặc các nhà có điện thờ. Đầu thế kỷ XX, người Pháp nhập các loại hoa ngoại (lay ơn, cẩm chướng, cúc...) và rau ngoại đến Ngọc Hà để trồng, dùng vào các dịp lễ, tết theo lịch dương. Người Ngọc Hà dần tìm học được kỹ thuật trồng các loại hoa này vừa để bán cho cả người Việt và người Pháp, vừa để chơi trong phòng khách nhà mình. Các quầy bán hoa bắt đầu mọc lên ở các ngã tư các phố Tây, tập trung ở khu vực Hồ Gươm và phố Hàng Lược, chợ Đồng Xuân. Vào dịp Tết Nguyên đán, hình thành chợ hoa Cống Chéo - Hàng Lược, chủ yếu do người làng Ngọc Hà bán[3].

Cho đến những năm 1970, làng Ngọc Hà vẫn còn là một làng trồng hoa (cung cấp hoa tươi) trong nội thành Hà Nội.

Ngoài trồng hoa, người làng Ngọc Hà còn vào thành phố làm thuê, làm viên chức trong các công sở, công nhân trong các xí nghiệp. Đời sống của dân làng xưa kia nhìn chung khá giả[3].

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọc Hà có ngôi đình ở phía Đông Bắc làng, chính giữa một hồ nước, rộng trên một bán đảo, cách Vườn Bách Thảo một con đường cái. Đình thờ Huyền Thiên Hắc Đế - một nhân vật truyền thuyết đã âm phù vua nhà Lý đánh thắng giặc ngoại xâm. Đình đã bị huỷ hoại trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô cuối năm 1946, đầu năm 1947. Đến năm 1952 dân làng dựng lại đình[3].

Hội làng[sửa | sửa mã nguồn]

Hội làng Ngọc Hà được tổ chức vào ngày 19 tháng Giêng, chung với làng Hữu Tiệp. Hai làng rước bài vị của thần đến Núi Sưa (trong vườn Bách Thảo hiện nay) để tế chung[3].

Làng Hữu Tiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Hữu Tiệp nằm sát đường Hoàng Hoa Thám, ở phía Bắc làng Ngọc Hà.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu thế kỷ XIX là một trại thuộc tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức; đầu thế kỷ XX là một xã thuộc phủ Hoài Đức, mặc dầu vậy, đây là một làng nhỏ, chỉ có hơn 30 mẫu đất, dân số (năm 1926) chỉ có 445 nhân khẩu[5].

Làng Hữu Tiệp có ba xóm: xóm Bảo Vân ở sát Đường Thành (đường Hoàng Hoa Thám), xóm Đình và xóm Thượng. Cư dân trong làng thuộc các họ gốc là: họ Tống, họ Lê và họ Trịnh. Ba họ này đều từ Tống Sơn (Thanh Hóa) và Hoa Lư (Ninh Bình) chuyển cư ra vào khoảng thế kỷ XI - XV. Về sau có thêm các họ: Phan, Phạm, Nguyễn, Dương, An.

Nhắc đến Hữu tiệp, người ta không thể quên được sự kiện đáng ghi nhớ. Đó là ngày 28 - 12 - 1972, một máy bay B. 52 của giặc Mỹ đã bị quân và dân Thủ đô bắn rơi xuống khu vực xóm Thượng của làng. Xác chiếc máy bay này hiện vẫn được bảo tồn, như là minh chứng cho cuộc chiến đấu kiên cường của quân và dân ta trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" cuối tháng 12 - 1972.

Làng nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như làng Ngọc Hà, làng Hữu Tiệp chỉ có đất để trồng hoa, không có ruộng đất để cấy lúa. Nhà và vườn trồng hoa đan xen nhau. Hai làng lại ở sát nhau, nên không có địa giới tự nhiên rành rọt. Do những đặc điểm chung này mà người Hà Nội trước đây gọi chung hai làng Hữu Tiệp - Ngọc Hà bằng một tên chung: Trại Hàng Hoa[5].

Nghề chính của làng Hữu Tiệp là trồng hoa, lúc đầu trồng các loại hoa nội, từ đầu thế kỷ XX bắt đầu trồng các loại hoa ngoại mà những người học được đầu tiên là các ông Phạm Văn Tỉnh và Trịnh Văn Quang. Người Hữu Tiệp còn biết kết hoa cho các xe tay, xe ô tô để dùng trong các dịp lễ tết, hội hay cưới xin, tang ma. Nghề trồng hoa làm cho cuộc sống của dân làng dễ chịu hơn so với các làng trồng lúa trong khu "Thập tam trại". Nhà cửa trong làng xưa kia phần lớn là nhà gạch hoặc nhà ngói. Ngoài trồng hoa, phụ nữ trong làng còn buôn bán hoa, nam giới đi làm thợ nề, thợ mộc, làm cai hoặc làm công nhân, số người đi học để làm công chức rất ít[5].

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Làng có ngôi đình thờ Huyền Thiên Hắc Đế - một nhân vật truyền thuyết đã âm phù vua nhà Lý đánh thắng giặc ngoại xâm, giống như làng Ngọc Hà. Làng có chùa Bát Mẫu quy mô khá lớn. Làng có hai ngôi đền: đền Cát Triệu thờ mẹ thành hoàng, đền Trường Dược thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, tục truyền là bà chúa giữ kho thuốc súng, về sau thờ cả Mẫu Liễu Hạnh và Thuỷ Tinh (Mẫu Thoải). Hội làng được tổ chức vào ngày 19 tháng Giêng, chung với làng Ngọc Hà. Hai làng rước bài vị của thần đến Núi Sưa (trong vườn Bách Thảo hiên nay) để tế chung.

Làng Đại Yên[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Yên cũng là một làng nằm trong khu vực Thập tam trại. Làng tiếp giáp đường Hoàng Hoa Thám (Đường Thành cũ) về phía Bắc, làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp về phía Đông, làng Vĩnh Phúc về phía Tây và đường Quần Ngựa (hay Đường Mới, tức phố Đội Cấn) về phía Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi cuối Lê, đầu Nguyễn, làng là một trại thuộc tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, đến năm 1915 nâng lên thành một xã thuộc huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (năm 1941 đổi làm Đại lý đặc biệt Hà Nội). Năm 1926, làng có 376 nhân khẩu. Trong làng có các họ lớn là Hoàng (gốc làng Lệ Mật), Trần, Ngô, Trưng, Nguyễn, trước đây đều có nhà thờ họ. Nhà thờ họ Hoàng được đặt nơi tổ họ này từ Lệ Mật sang sinh cư lập nghiệp đầu tiên tại Đại Yên[6].

Làng nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Dân làng Đại Yên xưa kia sống bằng nghề trồng lúa, một bộ phận lớn dân làng có nghề trồng, khai cây thuốc Nam và chế biến các bài thuốc Nam. Nhiều gia đình chuyên bán thuốc Nam trong các chợ lớn ở thành phố. Để có được các gói thuốc Nam, người làng phi đi khắp các vùng quê, nhiều khi phi lên tận các vùng rừng núi để hái, có khi đánh cây về thuần dưỡng. Về sau, khi người Pháp vào, phố phường Hà Nội được mở rộng, người làng học thêm nghề trồng hoa. Hiện nay, do đất đai thu hẹp, nghề trồng hoa không còn, nghề trồng thuốc, làm thuốc Nam cũng đang mai một dần. Trước đây, một bộ phận nam giới trong làng rất thạo nghề xây dựng[6].

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong địa phận làng Đại Yên xưa có gò đất cao rộng, gọi là núi Voi, tương truyền là nơi nuôi voi của triều đình xưa. Trên núi trước đây có một ngôi chùa. Vào năm 1892, tư sản Pháp Hômen đã câu kết với Chánh tổng tổng Nội để mua đứt quả núi này, đặt chỗ làm nhà máy rượu bia (nay là Công ty bia Hà Nội trên đường Hoàng Hoa Thám). Dân làng phản đối không được. Hôm Hômen chỉ huy lính khố xanh đến dỡ chùa, cụ Thủ từ và các bô lão trong làng ra cản nhưng không có kết quả[6].

Làng Đại Yên có ngôi đình ở giữa làng, nhìn hướng Tây về phía núi Cung và núi Cột Cờ, thờ vị thành hoàng là Công chúa Ngọc Hoa thờ Lý, có công đánh giặc phương Nam[6].

Cuối làng Đại Yên, ngay sát phố Đội Cấn có một ngôi chùa lớn là chùa Bát Tháp. Tương truyền, khu đất có ngôi chùa này chính là núi Vạn Bảo được ghi trong sử sách. Chùa Bát Tháp mới được đại tu năm Bính Thìn niên hiệu Khi Định (1916) vốn do ba chùa: Vạn Bo, Chéo Vang, và chùa Voi trên núi Voi nhập thành. Dựa vào ghi chép trong sách Thiền uyển tập anh, một số nhà nghiên cứu cho rằng, chùa Vạn Bo chính là chùa Chân Giáo - một ngôi chùa lớn của Kinh thành Thăng Long được xây năm Bính Tý (năm 1024) để Vua Lý Thái Tổ đến nghe tụng kinh và là nơi Vua Lý Huệ Tông tự vẫn vào năm Bính Tuất (1226) mà sử cũ đã ghi. Ngày nay, làng Đại Yên đã trở thành phố phường đông đúc[6].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Nghị định số 02/2005/NĐ-CP ngày 05/01/2005 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập phường thuộc các quận Ba Đình, Cầu Giấy và thành lập thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
  2. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam
  3. ^ a ă â b c d Làng Ngọc Hà. TS Bùi Xuân Đính
  4. ^ Quyết định số 3-CP ngày 03/01/1981 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất gọi tên các đơn vị hành chính ở nội thành nội thị
  5. ^ a ă â Làng Hữu Tiệp. TS Bùi Xuân Đính
  6. ^ a ă â b c Làng Đại Yên. TS Bùi Xuân Đính

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • TS. Bùi Xuân Đính. “Làng Ngọc Hà”. Báo Hà Nội Mới điện tử. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010.