Sân bay quốc tế Nội Bài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sân bay quốc tế Nội Bài
NoiBaioutside.jpg
Nhà ga T1
Hanoi Noibai map.jpg
Sơ đồ sân bay
Mã IATA
HAN
Mã ICAO
VVNB
Vị trí
Thành phố Hà Nội
Độ cao 39 ft (12 m)
Tọa độ 21°13′18″B 105°48′26″Đ / 21,22167°B 105,80722°Đ / 21.22167; 105.80722Tọa độ: 21°13′18″B 105°48′26″Đ / 21,22167°B 105,80722°Đ / 21.22167; 105.80722
HAN trên bản đồ Việt Nam
HAN
HAN
Thông tin chung
Kiểu sân bay Dân dụng/Quân sự
Chủ Bộ Giao thông Vận tải
Cơ quan quản lý Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam
Phục vụ bay cho Vietnam Airlines
Trang mạng noibaiairport.vn
Các đường băng
Hướng Chiều dài Bề mặt
m ft
11L/29R 3.200 10.497 bê tông
11R/29L 3.800 12.466 bê tông
Thống kê (2015)
Số lượng hành khách 17.213.715 tăng 21,3%[1]

Sân bay quốc tế Nội Bài (IATA: HANICAO: VVNB, tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tiếng Anh: Noi Bai International Airport) là cảng hàng không quốc tế phục vụ chính cho Thủ đô Hà Nội và vùng lân cận, thay thế cho sân bay Gia Lâm cũ. Sân bay Nội Bài là trung tâm hoạt động chính cho Vietnam Airlines, VietJet Air, Pacific Airlines, và trước kia có Indochina Airlines, Air Mekong.

Sân bay quốc tế Nội Bài thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 35 km theo tuyến đường bộ về phía Tây Bắc, khoảng cách này đã được rút ngắn còn lại 27 km khi cầu Nhật Tân và tuyến đường nối đầu cầu này với Nội Bài hoàn thành trong năm 2014, ngoài ra còn có thể đi theo quốc lộ 3 dẫn từ cầu Chương Dương đến ngã 3 giao cắt với quốc lộ 2 để vào sân bay.[2] Sân bay quốc tế Nội Bài còn nằm gần các thành phố như Vĩnh Yên, Bắc NinhThái Nguyên.

Nhà ga hành khách T1 do chính các kiến trúc sư Việt Nam thiết kế, mang đậm bản sắc dân tộc, như một cổng trời chào đón khách thập phương đến với Thủ đô và được đánh giá cao về mặt thẩm mĩ, từng đạt giải nhất kiến trúc Việt Nam, tuy trong thực tế xây dựng chỉ thực hiện được một phần của dự án. Sân bay có 2 tháp chỉ huy, trong đó có 1 tháp cao 90 mét. Đây là tháp chỉ huy không lưu cao nhất Đông Dương. Hiện tại đây là Sân bay lớn nhất Việt Nam về diện tích và công suất phục vụ tối đa. Về lưu lượng hành khách thì vẫn sau sân bay Tân Sơn Nhất.

Sân bay do Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV), một cơ quan của Bộ Giao thông Vận tải, quản lý.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay quốc tế Nội Bài, nguyên là một căn cứ không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, đã được cải tạo để phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự.

Ngày 28 tháng 2 năm 1977, Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã ra quyết định thành lập Sân bay quốc tế Nội Bài ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Ngày 2 tháng 1 nǎm 1978, sân bay chính thức mở cửa hoạt động và đón chuyến bay quốc tế đầu tiên hạ cánh.

Năm 1995 nhà ga hành khách T1 được xây dựng và tới tháng 10 năm 2001 thì khánh thành.

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, nhà ga T1 hoàn tất xây dựng thêm sảnh E và mở cửa, nối liền với sảnh A, giúp sân bay giảm tải lưu lượng hành khách.

Ngày 25 tháng 12 năm 2014, nhà khách VIP và nhà ga T2 được khánh thành. Nhà ga T2 chính thức trở thành nhà ga phục vụ các chuyến bay quốc tế và nhà ga T1 cũ được chuyển đổi chuyên phục vụ các chuyến bay nội địa.

Hạ tầng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chuẩn kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 9 năm 2005, sân bay quốc tế Nội Bài đã được tổ chức TÜV NORD CERT (Đức) trao chứng chỉ ISO 9001:2000.

Năng lực[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay có hai đường băng để cất cánh và hạ cánh cách nhau 250m và tàu bay không thể cất hạ cánh cùng một thời điểm trên cả 2 đường băng: đường 1A dài 3.200 m, đường 1B dài 3.800 m. Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (tên viết tắt bằng tiếng Anh là ICAO), công suất tối đa của đường hạ - cất cánh sân bay Nội Bài hiện tại chỉ đạt 10 triệu hành khách/năm.

Có 3 sân đỗ máy bay A1, A2, A3 với tổng diện tích 165.224 m², 1 nhà ga hành khách T1 gồm 4 tầng và 1 tầng hầm với tổng diện tích 90.000 m² và công suất khoảng 6 triệu hành khách/năm, được trang bị đầy đủ các thiết bị phục vụ hàng không và phi hàng không.

Sân đỗ bao gồm 10 cầu hành khách. Cầu 1, 2, 4, 5, 6, 7, 9 được trang bị ống lồng, còn lại cầu 3, 8, 10 là cầu cứng.

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, sân bay Nội Bài chính thức khai trương mở cửa sảnh E nhà ga T1. Nó được kết nối với sảnh A thông qua một hành lang kín kéo dài, giúp giảm tải phần nào cho sân bay. Công trình có 5 cổng đi và 2 cổng đến, diện tích sàn tổng cộng là 23.000 m², với 3 tầng và 1 tầng lửng. Tầng 1 là tầng dành cho khách nội địa đi và đến, là khu vực đảo trả hành lý, cũng là nơi chuyển hành lý đi. Tầng 2 là khu nội địa, check-in, dịch vụ, phòng khách VIP. Tầng 3 là khu văn phòng kỹ thuật. Sảnh E trang bị 38 quầy làm thủ tục cho khách và có hệ thống an ninh hiện đại, tinh vi. Jestar Pacific Airlines là hãng đầu tiên khai thác với 18 chuyến/ngày. Trong tương lai, sảnh E sẽ được kết nối với nhà ga T2.

Năm 2008, sân bay này đã phục vụ khoảng 8 triệu lượt khách và dự kiến đạt 20 triệu lượt hành khách vào năm 2025.[1] Năm 2010, Nội Bài đã phục vụ 9,5 triệu lượt hành khách, trung bình mỗi ngày có 230 lượt chuyến cất hạ cánh, so với mức 370 lượt chuyến mỗi ngày của sân bay Tân Sơn Nhất.[1]

Quang cảnh bãi đỗ máy bay và cầu ra máy bay của nhà ga T2 sân bay quốc tế Nội Bài.

Ngày 4 tháng 1 năm 2015, Bộ Giao thông vận tải đã khánh thành Nhà ga hành khách T2 – Cảng HKQT Nội Bài. Nhà ga T2 gồm 4 tầng với diện tích mặt bằng khoảng 139.000 m², với tổng mức đầu tư gần 18.000 tỷ đồng (sau 3 năm xây dựng 04/12/2011–04/01/2015). Vốn vay ODA của Nhật Bản, công suất phục vụ 10 triệu hành khách mỗi năm. Ngày cao điểm sẽ phục vụ tới 30.000 hành khách với 230 lượt cất hạ cánh. Nhà ga được thiết kế theo mô hình dạng cánh, hài hòa với thiên nhiên, tận dụng tối đa ánh sáng thiên nhiên để tiết kiệm năng lượng, sẽ được đầu tư theo hướng hiện đại với trang thiết bị hoàn toàn đủ tiêu chuẩn quốc tế.[1]

Cùng với đó, Chính phủ cũng đang xem xét để xây dựng thêm nhà ga T3 và T4, đưa Nội Bài trở thành một trong những trạm trung chuyển hàng không lớn nhất Đông Nam Á.

Theo quy hoạch chung đến năm 2010, nhà ga T2 có công suất là 10 triệu lượt khách mỗi năm sẽ đi vào hoạt động đưa Sân bay quốc tế Nội Bài đạt công suất 16 triệu hành khách năm, có sân bay dự bị là Sân bay quốc tế Cát Bi (Hải Phòng). Công suất toàn bộ khi nhà ga được nâng cấp sau năm 2025 là 50 triệu lượt khách mỗi năm, trở thành một trong những cửa ngõ trung tâm trong khu vực Đông Nam Áchâu Á.[3]

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiện có 4 hãng hàng không nội địa và 22 hãng hàng không quốc tế đang có đường bay đến sân bay quốc tế Nội Bài, và 9 hãng hàng không quốc tế cũng đang xem xét mở mạng bay đến đây như Delta, American, Alitalia, Czech Airlines, Emirates, Etihad, Jet Airway, Finnair cuối cùng là Air Astana.
  • Phí sân bay cho các chuyến bay quốc tế là 16 USD. Sân bay có hai đường băng song song, trong đó đường băng hướng 11L/29R dài 3.200 m rộng 45m, đường băng 11R/29r dài 3.800m rộng 45m, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay của nhiều loại máy bay, thích ứng với cả những loại máy bay thân rộng bay tầm xa như Boeing 747, Boeing 777-200/300, Airbus A340-300/500/600, Airbus A330-200/300, Boeing 767, McDonnell Douglas MD-11 và máy bay chở khách lớn nhất thế giới là Airbus A380 cho đến những phi cơ tầm trung như Airbus A318/319/320/321, ATR-72., Boeing 787 Dreamliner.

Di chuyển từ sân bay về trung tâm thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Taxi[sửa | sửa mã nguồn]

Taxi là phương án di chuyển đơn giản, tiện nghi và dễ kiếm nhất khi di chuyển từ sân bay Nội Bài về trung tâm thành phố Hà Nội. Thông thường các hãng taxi không áp dụng mức giá cố định cho chặng Nội Bài - Hà Nội như chặng Hà Nội - Nội Bài mà tính giá theo đồng hồ trên xe. Với khoảng cách 27 km - 35 km để về trung tâm thì hành khách thường phải chi trả từ 300.000 VNĐ - 400.000 VNĐ.

Ngoài ra, với sự xuất hiện của dịch vụ đặt xe như Grab và Uber thì mức giá cố định để di chuyển là 250.000 đồng (tới 4 quận trung tâm của thành phố là Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình và Hai Bà Trưng). Ngoài ra còn có dịch vụ đặt xe của Dichungtaxi hoặc Vietgo với mức giá 300.000 đồng.

Với dịch vụ taxi truyền thống, hành khách có thể đón ngay sau khi rời khỏi ga đến của sân bay.

Mini Bus[sửa | sửa mã nguồn]

Một số hãng hàng không nội địa tại Việt Nam có dịch vụ minibus vận chuyển hành khách từ sân bay về trung tâm thành phố, trong đó:

  • Vietjet Air:

Giá vé: 40.000 đồng/lượt

Lộ trình: Sân Bay Nội Bài - Phạm Văn Đồng - Hoàng Quốc Việt - Nguyễn Văn Huyên - Đào Tấn - Kim Mã – Nguyễn Thái Học - Trần Nhân Tông

Thời gian xe chạy là khoảng 60 phút/lượt.

Trả khách theo yêu cầu của khách dọc theo lộ trình xe chạy và điểm trả khách cuối cùng là Công viên Thống Nhất cổng Trần Nhân Tông.

  • Jetstar Pacific Airlines

Giá vé: 40.000 đồng/lượt

Lộ trình: Nội Bài – cầu Thăng Long – Phạm Văn Đồng – Hoàng Quốc Việt – Nguyễn Văn Huyên – Đào Tấn – Bến xe Ngọc Khánh.

Thời gian xe chạy là khoảng 60 phút/lượt.

Xe buýt[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến số 07: Cầu Giấy - Nội Bài[sửa | sửa mã nguồn]
  • Giá vé 8.000 đồng/lượt
  • Thời gian vận hành toàn tuyến: 1 giờ
  • Tần suất: 3 - 8 - 13 - 20 phút/chuyến
  • Thời gian hoạt động: 5h00 - 22h35
  • Chiều dài tuyến: 27.5 km
  • Lộ trình:

Nhà ga T1 - Nhà ga T2 - Võ Văn Kiệt - Cầu Thăng Long - Phạm Văn Đồng - Hoàng Quốc Việt - Nguyễn Văn Huyên - Nguyễn Khánh Toàn - Trần Đăng Ninh - Cầu Giấy - Bãi đỗ xe Cầu Giấy

  • Điểm dừng đỗ:

Tại Điểm trung chuyển Cầu Giấy (Đại học Giao thông Vận tải, đến năm 2020 sẽ kết nối với tuyến MRT tuyến số 3: Nhổn - Ga Hà Nội ở ga Cầu Giấy), hành khách có thể đi tiếp các tuyến xe buýt khác để di chuyển sang trung tâm, trong đó có tuyến số 09 (giá vé 7000 đồng/lượt, thời gian di chuyển khoảng 40 phút) nối thẳng về khu phố cổ và bờ hồ Hoàn Kiếm.

  • Vị trí đón khách tại Nội Bài:

Hành khách có thể đón xe số 07 tại phía cổng soát vé xe ra sân bay ở bên tay phải sảnh E nhà ga T1 và khu vực đón xe buýt ở phía bãi đỗ xe tay trái nhà ga T2 (khu vực này bị khuất và chỉ dựng nhà chờ xe buýt, không có biển chỉ dẫn đón xe).

Tuyến số 17: Long Biên - Nội Bài[sửa | sửa mã nguồn]
  • Giá vé 9.000 đồng/lượt
  • Thời gian vận hành toàn tuyến: 1 giờ 30 phút - 2 giờ
  • Tần suất: 10 - 15 - 20 phút/chuyến
  • Thời gian hoạt động: 5h10 - 21h55
  • Chiều dài tuyến: 33.2 km
  • Lộ trình:

Nhà ga T1 - đường Võ Văn Kiệt - Quốc lộ 2 - Phủ Lỗ - Nguyên Khê - Đông Anh - Cao Lỗ - Cổ Loa - Quốc lộ 3 - Thiên Đức - Cầu Đuống - Ngô Gia Tự - Nguyễn Văn Cừ - Cầu Chương Dương - Trần Nhật Duật - Điểm trung chuyển Long Biên

  • Điểm dừng đỗ:

Tại điểm trung chuyển Long Biên (tương lai sẽ kết nối với tuyến MRT số 1: Ngọc Hồi - Yên Viên ở ga Hàng Đậu), hành khách có thể đi các tuyển xe buýt khác để đi các vùng lân cận, hoặc có thể đi bộ về khu vực phố cổ (mất khoảng 10 - 15 phút).

  • Vị trí đón khách tại Nội Bài:

Hành khách có thể đón xe số 17 tại phía cổng soát vé xe ra sân bay ở bên tay phải sảnh E nhà ga T1. Xe số 17 không chạy qua nhà ga T2.

Tuyến số 86: Ga Hà Nội - Sân bay Nội Bài (City Center - Noi Bai Airport)[sửa | sửa mã nguồn]
  • Giá vé: 30.000 đồng/lượt
  • Thời gian vận hành toàn tuyến: 40 - 50 phút
  • Tần suất: 25 - 30 phút/chuyến
  • Thời gian hoạt động: 6h18 - 22h58
  • Chiều dài tuyến: 33.3 km
  • Lộ trình:

Võ Nguyên Giáp - Cầu Nhật Tân - Âu Cơ - Nghi Tàm - Yên Phụ - Trung chuyển Long Biên - Trần Nhật Duật - Trần Quang Khải - Tràng Tiền - Lê Thánh Tông - Hai Bà Trưng - Ngô Quyền - Lý Thường Kiệt - Lê Duẩn - Ga Hà Nội

  • Điểm dừng đỗ:

- Nhà ga T1 - Sân bay Nội Bài

- Nhà ga T2 - Sân bay Nội Bài

- Âu Cơ - Xuân Diệu

- Yên Phụ - Cửa Bắc

- Điểm trung chuyển Long Biên

- Nhà hát Lớn Hà Nội

- Khách sạn Melia

- Ga Hà Nội

Tại vị trí điểm dừng Điểm trung chuyển Long Biển tương lai sẽ kết nối với tuyến MRT số 1: Ngọc Hồi - Yên Viên và tuyến MRT số 3: Nội Bài - Thượng Đình - Bưởi (Giai đoạn 1 là Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo) tại ga Hàng Đậu.

Tại vị trí điểm dừng Nhà hát Lớn Hà Nội tương lai sẽ kết nối với tuyến MRT số 2: Nội Bài - Thượng Đình - Bưởi (Giai đoạn 1 là Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo) tại ga Hồ Gươm.

Tại vị trí điểm dừng ga Hà Nội sẽ kết nối với tuyến MRT số 3: Trôi - Nhổn - Yên Sở (Giai đoạn 1 là Nhổn - ga Hà Nội và đang được xây dựng) tại ga Hà Nội.

  • Vị trí đón khách tại Nội Bài:

Hành khách có thể đón xe số 86 tại ngay cửa ra ga đến ở sảnh B, sảnh E nhà ga T1 và cửa nhà ga T2.

Xe buýt số 86 là tuyến xe buýt chất lượng cao, có bảng thông báo chỉ dẫn và đọc điểm dừng bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt, có wifi miễn phí cho hành khách trên xe sử dụng. Xe được sơn màu cam, hiện bảng đèn led ghi 86 SB Nội Bài - Ga Hà Nội và 86 NoiBai Airport - City Center. Trên xe có chỗ để hành lý, nhân viên soát vé thông thạo tiếng Anh và hỗ trợ mọi thắc mắc của hành khách.

Tàu điện (Metro MRT)[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay Hà Nội chưa có tuyến tàu điện nào kết nối sân bay Nội Bài với khu vực trung tâm thành phố.

Theo quy hoạch giao thông đô thị Hà Nội đến năm 2050, Hà Nội sẽ có 2 tuyến đường sắt đô thị MRT nối sân bay Nội Bài với khu vực trung tâm thành phố. Đó là tuyến số 02: Nội Bài - Thượng Đình - Bưởi, nối trực tiếp đến khu vực Bờ Hồ và phố cổ Hà Nội và tuyến số 06: Nội Bài - Ngọc Hồi, nối từ Nội Bài qua cầu Thăng Long xuống quận Hà Đông [4]. Hiện mới có tuyến số 02 đang trong giai đoạn thiết kế và sẽ được thực hiện giai đoạn 1 là đoạn từ khu đô thị Nam Thăng Long nối đến Bờ Hồ và kết thúc tại Trần Hưng Đạo.

Các dịch vụ, các tuyến bay và các hãng hàng không hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Các dịch vụ tiện ích tại Nhà ga T1 và T2[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trông giữ, đóng gói hành lý
  • Dịch vụ hộp ngủ - Mini Hotel
  • Ngân hàng & ATM
  • Hoàn thuế VAT
  • Thông tin du lịch
  • Internet, điện thoại công cộng
  • Dịch vụ y tế
  • Các quầy ăn nhanh và cà phê

Các hãng hàng không đang hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng hàng không Điểm đến Terminal
Aeroflot Moscow T2
AirAsia Kuala Lumpur T2
Air Macau Ma Cao T2
All Nippon Airways Tokyo-Haneda T2
Asiana Airlines Seoul-Incheon T2
Cambodia Angkor Air Siem Reap (từ 30/10/2016) T2
Cebu Pacific Manila T2
China Airlines Đài Bắc-Đào Viên T2
China Southern Airlines Quảng Châu-Bạch Vân T2
China Eastern Airlines Nam Ninh-Ngô Vu, Côn Minh-Vu Gia Bá T2
Dragonair Hong Kong T2
Eastar Air Seoul-Incheon T2
Emirates Dubai, Yangon T2
EVA Air Đài Bắc-Đào Viên T2
Haina Airlines Hải Khẩu-Mỹ Lan T2
Hong Kong Airlines Hong Kong T2
Japan Airlines Tokyo-Narita T2
Jeju Air Seoul-Incheon T2
Jetstar Pacific Airlines Đà Nẵng, Chu Lai (Quảng Nam), Quy Nhơn (Bình Định), Tuy Hòa (Phú Yên) (từ 18/11/2016), Cam Ranh (Khánh Hòa), Đà Lạt (Lâm Đồng), TP. Hồ Chí Minh, Phú Quốc (Kiên Giang) T1
Jetstar Pacific Airlines Bangkok-Suvarnabhumi, Quảng Châu-Bạch Vân, Hong Kong T2
Jin Air Seoul-Incheon T2
Kenya Airways Nairobi-Jomo Kenyatta T2
Korean Air Seoul-Incheon T2
Lao Airlines Luang Prabang Vientiane T2
Malaysia Airlines Kuala Lumpur-Intertional T2
Malindo Air Kuala Lumpur-Intertional T2
Madarin Airlines Đài Trung T2
Nok Air Bangkok-Don Mueang T2
Qatar Airways Bangkok-Suvarnabhumi, Doha T2
Silk Air Singapore T2
Singapore Airlines Singapore T2
Thai AirAsia Bangkok-Don Mueang T2
Thai Airways International Bangkok-Suvarnabhumi T2
Thai Vietjet Air Bangkok-Suvarnabhumi T2
Tiger Airways Singapore T2
Turkish Airlines Istanbul-Atatürk T2
VietJet Air Seoul-Incheon, Bangkok-Suvarnabhumi, Đài Bắc-Đào Viên, Busan-Gimhae (từ 16/12/2016) T2
Vietnam Airlines Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh-Thủ đô, Busan-Gimhae, Cao Hùng, Đài Bắc-Đào Viên, Frankfurt,Fukuoka, Hong Kong, Kuala Lumpur-International, London-Heathrow, Luang Prabang, Moscow-Domodedovo, Nagoya-Centrair, Osaka-Kansai, Paris-Charles de Gaulle, Quảng Châu-Bạch Vân, Seoul-Incheon, Singapore, Thành Đô-Song Lưu, Thượng Hải-Phố Đông, Tokyo-Haneda, Tokyo-Narita, Viêng Chăn, Yangon, Xiêm Riệp T2
Jetstar Pacific Airlines Đà Nẵng, Chu Lai (Quảng Nam), Quy Nhơn (Bình Định), Tuy Hòa (Phú Yên) (từ 18/11/2016), Cam Ranh (Khánh Hòa), Đà Lạt (Lâm Đồng), TP. Hồ Chí Minh, Phú Quốc (Kiên Giang) T1
VietJet Air Huế (Thừa Thiên Huế), Đà Nẵng, Chu Lai (Quảng Nam), Quy Nhơn (Bình Định), Tuy Hòa (Phú Yên), Cam Ranh (Khánh Hòa), Đà Lạt (Lâm Đồng), Buôn Ma Thuột (Đắk-lắk), Pleiku (Gia Lai), Phú Quốc (Kiên Giang), Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh T1
Vietnam Airlines Điện Biên, Vinh (Nghệ An), Đồng Hới (Quảng Bình), Huế (Thừa Thiên Huế), Đà Nẵng, Chu Lai, Tuy Hòa (Phú Yên), Quy Nhơn (Bình Định), Buôn Ma Thuột (Đắk-lắk), Pleiku (Gia Lai), Đà Lạt (Lâm Đồng), Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Phú Quốc (Kiên Giang) T1

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Số lượt hành khách[1]
2008 8 triệu
2009
2010 9,5 triệu
2011
2012 11,3 triệu
2013 13 triệu
2014 14 triệu

Quy hoạch đường cất hạ cánh số 3[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Quyết định số 590/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Nội Bài-thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020 và định hướng sau năm 2020[5] ngày 20 tháng 8 năm 2008, ngoài các hạng mục quy hoạch tầm nhìn tới 2020 mà hiện nay cơ bản đã hoàn thành như bổ sung đường cất hạ cánh thứ 2 (đường băng 1B) dài 3800m, hệ thống đường lăn, nhà khách VIB, nhà ga quốc tế T2, còn có những hạng mục khác nhằm đáp ứng tiêu chuẩn sân bay cấp 4F theo phân cấp của ICAO. Đặc biệt trong đó là việc xây dựng mới đường cất hạ cánh thứ 3 (đường băng số 2A) kích thước 4000m x 60m; và các nhà ga hành khách T3, T4.

Ngày 14 tháng 7 năm 2015 Cục Hàng không Việt Nam báo cáo Bộ Giao thông Vận tải về phương án xây dựng đường cất, hạ cánh thứ 3 tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Theo Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Lại Xuân Thanh, việc xây dựng thêm đường cất hạ cánh số 3 này nhằm để đảm bảo tổng công suất thông qua cảng sau năm 2020 đạt 50 triệu hành khách/năm theo đúng quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 590 của Thủ tướng Chính phủ.[6] Trong báo cáo này, Cục Hàng không Việt Nam đưa ra ba phương án:

  1. Phương án 1 xây dựng đường cất hạ cánh số 3 cùng các công trình kỹ thuật như nhà ga hành khách, sân đỗ, đường lăn và các công trình phụ trợ về phía Nam của cảng hiện nay, cách đường cất hạ cánh số 1A là 1.700m, cách đường cất hạ cánh 1B là 1.950m, đảm bảo phương án hai đường hoạt động song song độc lập là 1A với đường số 3 (hoặc 1B với đường số 3). Ước tính tổng mức đầu tư 75.987 tỷ đồng, trong đó công tác giải phóng mặt bằng lên tới gần 40.800 tỷ đồng.[7] Đây là phương án phù hợp nhất với quyết định số 590/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ.
  2. Phương án 2 xây dựng đường cất hạ cánh số 3 về phía Bắc và khu vực nhà ga, sân đỗ tàu bay đồng bộ phía Tây của Cảng Nội Bài, cách đường số 1B (11R-29L) 1.035m, cách đường cất hạ cánh 1A 785m, thuộc địa phận xã Quang Tiến, Mai Đình, Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (đảm bảo hoạt động song song, độc lập với đường số 1B). Sân bay Nội Bài sẽ có 2 đường băng cho phép cất hạ cánh đồng thời, còn đường cất hạ cánh 1A được chuyển thành đường lăn. Tổng kinh phí đầu tư ước tính khoảng 38.802 tỷ đồng.
  3. Phương án 3 xây dựng đường cất hạ cánh số 3 về phía Bắc có vị trí tương tự như phương án 2, nhưng cấu hình khu bay được xác định gồm ba đường cất hạ cánh, trong đó có hai đường cất hạ cánh hoạt động song song độc lập là 1B với đường thứ 3. Đường 1A hoạt động song song phụ thuộc với hai đường còn lại. Ở phương án này, khu vực nhà ga hành khách sẽ được xây dựng ở vị trí tiếp giáp phía Bắc đường Võ Văn Kiệt, phía Đông của cảng Nội Bài. Hệ thống sảnh chờ bố trí giữa đường cất hạ cánh 1A và đường thứ 3.[6] Tổng kinh phí 41.800 tỷ đồng.

Trong ba phương án nói trên, Cục Hàng không xác định phương án 2 là tối ưu.[8]

Phục vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay quốc tế của Hà Nội bị xếp hạng 5 trong số các sân bay tệ nhất Á Châu năm 2014, còn hơn được Tashkent, Uzbekistan; Manila, Philippines; Kathmandu, Nepal; chót bảng là Islamabad, Pakistan. Cảng hàng không Nội Bài bị chỉ trích bởi hành khách là quá nóng, vì máy điều hòa không khí luôn có vấn đề, hỗn độn và không được sạch sẽ cho lắm.[9]. ý kiến của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân về vấn đề này: "khăn lau, chổi vứt lung tung, bẩn thỉu không thể tưởng tượng. Mà cán bộ hàng không lại không đi vào khu vệ sinh của hành khách nên có biết đâu. Tôi mấy lần đi máy bay góp ý vào sổ, nhưng không có ai sửa"[10].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]