Sân bay quốc tế Nội Bài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sân bay quốc tế Nội Bài
Noi Bai International Airport
NoiBaioutside.jpg
Nhà ga T1
Hanoi Noibai map.jpg
Sơ đồ sân bay
Mã IATA
HAN
Mã ICAO
VVNB
Vị trí
Thành phố Hà Nội
Độ cao 39 ft (12 m)
Tọa độ 21°13′18″B 105°48′26″Đ / 21,22167°B 105,80722°Đ / 21.22167; 105.80722Tọa độ: 21°13′18″B 105°48′26″Đ / 21,22167°B 105,80722°Đ / 21.22167; 105.80722
HAN trên bản đồ Việt Nam
HAN
HAN
Các đường băng
Hướng Chiều dài Bề mặt
m ft
11L/29R 3.200 10.497 bê tông
11R/29L 3.800 12.466 bê tông
Thông tin chung
Kiểu sân bay Dân dụng/Quân sự
Chủ Bộ Giao Thông Vận Tải
Cơ quan quản lý Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam
Phục vụ bay cho Vietnam Airlines
Thống kê (2014)
Số lượng hành khách 14.000.000[1]

Sân bay quốc tế Nội Bài là cảng hàng không quốc tế phục vụ chính cho Thủ đô Hà Nội và vùng lân cận, thay thế địa vị cho sân bay Gia Lâm cũ. Sân bay Nội Bài là trung tâm hoạt động chính cho Vietnam Airlines, Vietjet Air, Pacific Airlines, và trước kia có Indochina Airlines.

Sân bay quốc tế Nội Bài thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 km theo tuyến đường bộ về phía Tây Bắc, khoảng cách này đã được rút ngắn còn lại 15 km khi cầu Nhật Tân và tuyến đường nối đầu cầu này với Nội Bài hoàn thành trong năm 2014, ngoài ra còn có thể đi theo quốc lộ 3 dẫn từ cầu Chương Dương đến ngã 3 giao cắt với quốc lộ 2 để vào sân bay.[2].Sân bay quốc tế Nội Bài còn nằm gần các thành phố như Vĩnh Yên, Thành phố Bắc NinhThành phố Thái Nguyên.

Nhà ga hành khách T1 do chính các kiến trúc sư Việt Nam thiết kế, mang đậm bản sắc dân tộc, như một cổng trời chào đón khách thập phương đến với Thủ đô và được đánh giá cao về mặt thẩm mĩ, từng đạt giải nhất kiến trúc Việt Nam, tuy trong thực tế xây dựng chỉ thực hiện được một phần của dự án. Sân bay có 2 tháp chỉ huy, trong đó có 1 tháp cao 90 mét. Đây là tháp chỉ huy không lưu cao nhất Đông Dương. Sân bay này là sân bay lớn nhất Việt Nam sau khi nhà ga T2 hoàn thiện. Về lưu lượng hành khách thì vẫn sau sân bay Tân Sơn Nhất.

Tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Nội Bài (tiếng Anh: Noi Bai International Airport). Sân bay này do Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV), một cơ quan của Bộ Giao Thông Vận Tải, quản lý.

Năm 2010, sân bay đã phục vụ 9,5 triệu lượt hành khách, tăng 20% so với năm 2009, năm 2013 là 13 triệu lượt khách.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay quốc tế Nội Bài, nguyên là một căn cứ không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, đã được cải tạo để phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự.

Ngày 28 tháng 2 năm 1977, Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã ra quyết định thành lập Sân bay quốc tế Nội Bài ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Ngày 2 tháng 1 nǎm 1978, sân bay chính thức mở cửa hoạt động và đón chuyến bay quốc tế đầu tiên hạ cánh.

Năm 1995 nhà ga hành khách T1 được xây dựng và tới tháng 10 năm 2001 thì khánh thành.

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, nhà ga T1 hoàn tất xây dựng thêm sảnh E và mở cửa, nối liền với sảnh A, giúp sân bay giảm tải lưu lượng hành khách.

Ngày 25 tháng 12 năm 2014, nhà khách VIB và nhà ga T2 được khánh thành. Nhà ga T2 chính thức trở thành nhà ga phục vụ các chuyến bay quốc tế và nhà ga T1 cũ được chuyển đổi chuyên phục vụ các chuyến bay nội địa.

Hạ tầng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ sân bay[sửa | sửa mã nguồn]

  • 21°12'53,2'' vĩ Bắc
  • 105°48'18,1'' kinh Đông.

Tiêu chuẩn kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 9 năm 2005, sân bay quốc tế Nội Bài đã được tổ chức TÜV NORD CERT (Đức) trao chứng chỉ ISO 9001:2000.

Năng lực[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay có hai đường băng để cất cánh và hạ cánh cách nhau 250m và tàu bay không thể cất hạ cánh cùng một thời điểm trên cả 2 đường băng[3]: đường 1A dài 3.200 m, đường 1B dài 3.800 m. Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (tên viết tắt bằng tiếng Anh là ICAO), công suất tối đa của đường hạ - cất cánh sân bay Nội Bài hiện tại chỉ đạt 10 triệu hành khách/năm.

Có 3 sân đỗ máy bay A1, A2, A3 với tổng diện tích 165.224 m², 1 nhà ga hành khách T1 gồm 4 tầng và 1 tầng hầm với tổng diện tích 90.000 m² và công suất khoảng 6 triệu hành khách/năm, được trang bị đầy đủ các thiết bị phục vụ hàng không và phi hàng không.

Sân đỗ bao gồm 10 cầu hành khách. Cầu 1,2,4,5,6,7,9 được trang bị ống lồng, còn lại cầu 3,8,10 là cầu cứng.

Chều ngày 29-12-2013, sân bay Nội Bài chính thức khai trương mở cửa sảnh E nhà ga T1. Nó được kết nối với sảnh A thông qua một hành lang kín kéo dài, giúp giảm tải phần nào cho sân bay. Công trình có 5 cổng đi và 2 cổng đến, diện tích sàn tổng cộng là 23.000 m2, với 3 tầng và 1 tầng lửng. Tầng 1 là tầng dành cho khách nội địa đi và đến, là khu vực đảo trả hành ký, cũng là nơi chuyển hành lý đi. Tầng 2 là khu nội địa, check-in, dịch vụ, phòng khách VIP. Tầng 3 là khu văn phòng kỹ thuật. Sảnh E trang bị 38 quầy làm thủ tục cho khách và có hệ thống an ninh hiện đại, tinh vi. Jestar Pacific Airlines là hãng đầu tiên khai thác với 18 chuyến/ngày. Trong tương lai, sảnh E sẽ được kết nối với nhà ga T2.

Trong 3 năm gần đây, nhà ga T1 bị dột khi trời mưa to. Chưa có kết luận chính thức từ cơ quan có thẩm quyền về nguyên nhân dột là do khâu thiết kế, thi công hay sử dụng.[4]

Năm 2008, sân bay này đã phục vụ khoảng 8 triệu lượt khách và dự kiến đạt 20 triệu lượt hành khách vào năm 2025[1]. Năm 2010, Nội Bài đã phục vụ 9,5 triệu lượt hành khách, trung bình mỗi ngày có 170 lượt chuyến cất hạ cánh, so với mức 370 lượt chuyến mỗi ngày của sân bay Tân Sơn Nhất.[1]

Ngày 04/01/2015, Bộ Giao thông vận tải long trọng tổ chức Lễ khánh thành Nhà ga hành khách T2 – Cảng HKQT Nội Bài. Nhà ga T2 gồm 4 tầng với diện tích mặt bằng khoảng 139.000 m2, với tổng mức đầu tư gần 18.000 tỷ đồng (sau 3 năm xây dựng 04/12/2011 - 04/01/2015). Vốn vay ODA của Nhật Bản, công suất phục vụ 10 triệu hành khách mỗi năm. Ngày cao điểm sẽ phục vụ tới 30.000 hành khách với 230 lượt cất hạ cánh. Nhà ga được thiết kế theo mô hình dạng cánh, rất hài hòa với thiên nhiên, tận dụng tối đa ánh sáng thiên nhiên để tiết kiệm năng lượng, sẽ được đầu tư theo hướng hiện đại với trang thiết bị hoàn toàn đủ tiêu chuẩn quốc tế.

Cùng với đó, Chính phủ cũng đang xem xét để xây dựng thêm nhà ga T3 và T4, đưa Nội Bài trở thành một trong những trạm trung chuyển hàng không lớn nhất Đông Nam Á.

Theo quy hoạch chung đến năm 2010, nhà ga T2 có công suất là 10 triệu lượt khách mỗi năm sẽ đi vào hoạt động đưa Sân bay quốc tế Nội Bài đạt công suất 16 triệu hành khách năm, có sân bay dự bị là Sân bay quốc tế Cát Bi (Hải Phòng). Công suất toàn bộ khi nhà ga được nâng cấp sau năm 2025 là 50 triệu lượt khách mỗi năm, trở thành một trong những cửa ngõ trung tâm trong khu vực Đông Nam Áchâu Á.[5]

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiện có 4 hãng hàng không nội địa và 22 hãng hàng không quốc tế đang có đường bay đến sân bay quốc tế Nội Bài, một số hãng hàng không quốc tế cũng đang xem xét mở mạng bay đến đây.
  • Phí sân bay cho các chuyến bay quốc tế là 16 USD.Sân bay có hai đường băng song song, trong đó đường băng hướng 11L/29R dài 3.200 m rộng 45m, đường băng 11R/29r dài 3.800m rộng 45m, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay của nhiều loại máy bay, thích ứng với cả những loại máy bay thân rộng bay tầm xa như Boeing 747, Boeing 777-200/300, Airbus A340-300/500/600, Airbus A330-200/300, Boeing 767, McDonnell Douglas MD-11 và máy bay chở khách lớn nhất thế giới là Airbus A380 cho đến những phi cơ tầm trung như Airbus A318/319/320/321, ATR-72.

Di chuyển từ sân bay về trung tâm thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Từ sân bay có thể đi từ sân bay Nội Bài về Hà Nội bằng taxi (giá từ 350.000 VND), MiniBus 12 chỗ (giá 40.000 VND) hoặc xe bus 45 chỗ (40.000 VND) hoặc đi xe ôm (giá từ 100.000 VND). (Giá năm 2013)

Dự kiến đến năm 2020, mạng đường sắt "Nội Bài - trung tâm thành phố Hà Nội- Thượng Đình" dài xấp xỉ 33,7 km sẽ được hoàn thành, nối sân bay Nội Bài với khu đô thị mới Đông Anh, khu tổ hợp hành chính ở Từ Liêm, khu phố cổ, khu phố có kiến trúc kiểu Pháp và đi dọc quốc lộ 6, tới Thượng Đình.[6]

Các tuyến bay và các hãng hàng không hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2015, nhà ga T2 của sân bay đã khai trương và đi vào hoạt động. Đến nay, Sân bay Quốc tế Nội Bài có những điểm đến nội địa và quốc tế sau đây:

Hành khách[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng hàng không Điểm đến Nhà ga
Aeroflot Moscow T2
AirAsia Kuala Lumpur T2
Asiana Airlines Busan,Seoul T2
Cebu Pacific Manila T2
China Airlines Đào Viên T2
China Southern Airlines Bắc Kinh - Thủ đô, Quảng Châu T2
China Eastern Airlines Nam Ninh T2
Dragonair Hong Kong T2
EVA Air Đài Bắc-Đào Viên T2
Hong Kong Airlines Hong Kong T2
Japan Airlines Tokyo-Narita T2
Jetstar Pacific Airlines Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Phú Quốc, Bangkok-Suvarnabhumi Sảnh E-Nhà ga T1
Kenya Airways Nairobi T2
Korean Air Busan, Seoul-Incheon T2
Lao Airlines Luang Prabang, Vientiane T2
Malaysia Airlines Kuala Lumpur T2
Qatar Airways Bangkok-Suvarnabhumi, Doha T2
Silk Air Singapore T2
Singapore Airlines Singapore T2
Thai AirAsia Bangkok-Suvarnabhumi T2
Thai Airways International Bangkok-Suvarnabhumi T2
Tiger Airways Singapore T2
Uni Air Cao Hùng T2
VietJet Air Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Phú Quốc, Cần Thơ, Quy Nhơn, Seoul-Incheon, Bangkok-Suvarnabhumi SẢNH E- NHÀ GA T1
Vietnam Airlines Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh,Busan-Gimhae, Quảng Châu, Frankfurt,Fukuoka,Hong Kong, Cao Hùng, Kuala Lumpur, Côn Minh (chủ nhật), London-Heathrow[7], Moscow-Domodedovo, Luang Prabang, Nagoya, Osaka-Kansai, Paris-Charles de Gaulle, Seoul-Incheon, Thượng Hải-Phố Đông, Tokyo, Xiêm Riệp, Singapore, Đài Bắc-Đào Viên, Viêng Chăn, Yangon, Thành Đô, Phnom Penh T2
Air France Paris T2
Vietnam Airlines Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Điện Biên, Tuy Hòa, Cần Thơ,Phú Quốc, Vinh, Chu Lai, Đồng Hới, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột,sân bay Pleiku Chu Lai T1

Hàng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay quốc tế Nội Bài có một nhà ga hàng hóa công suất trung bình-lớn, với các hãng hàng không hàng hóa quốc tế sau đấy:

Hãng hàng không Điểm đến
Cathay Pacific Cargo Hong Kong
China Airlines Cargo Đài Bắc - Đào Viên
EVA Air Cargo Đài Bắc - Đào Viên
Jade Cargo International Amsterdam, Thượng Hải - Phố Đông
Korean Air Cargo Seoul-Incheon, Singapore
Lufthansa Cargo Frankfurt
Singapore Airlines Cargo Singapore

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Số hành khách thông qua
2008 8 triệu
2009
2010 9,5 triệu
2011
2012 11 triệu
2013 13 triệu

Quy hoạch đường cất hạ cánh số 3[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Quyết định số 590/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Nội Bài-thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020 và định hướng sau năm 2020[8] ngày 20 tháng 8 năm 2008, ngoài các hạng mục quy hoạch tầm nhìn tới 2020 mà hiện nay cơ bản đã hoàn thành như bổ sung đường cất hạ cánh thứ 2 (đường băng 1B) dài 3800m, hệ thống đường lăn, nhà khách VIB, nhà ga quốc tế T2, còn có những hạng mục khác nhằm đáp ứng tiêu chuẩn sân bay cấp 4F theo phân cấp của ICAO. Đặc biệt trong đó là việc xây dựng mới đường cất hạ cánh thứ 3 (đường băng số 2A) kích thước 4000m x 60m; và các nhà ga hành khách T3, T4.

Ngày 14 tháng 7 năm 2015 Cục Hàng không Việt Nam báo cáo Bộ Giao thông Vận tải về phương án xây dựng đường cất, hạ cánh thứ 3 tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Theo Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Lại Xuân Thanh, việc xây dựng thêm đường cất hạ cánh số 3 này nhằm để đảm bảo tổng công suất thông qua cảng sau năm 2020 đạt 50 triệu hành khách/năm theo đúng quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 590 của Thủ tướng Chính phủ.[9]. Trong báo cáo này, Cục Hàng không Việt Nam đưa ra ba phương án:

  1. Phương án 1 xây dựng đường cất hạ cánh số 3 cùng các công trình kỹ thuật như nhà ga hành khách, sân đỗ, đường lăn và các công trình phụ trợ về phía Nam của cảng hiện nay, cách đường cất hạ cánh số 1A là 1.700m, cách đường cất hạ cánh 1B là 1.950m, đảm bảo phương án hai đường hoạt động song song độc lập là 1A với đường số 3 (hoặc 1B với đường số 3). Ước tính tổng mức đầu tư 75.987 tỷ đồng, trong đó công tác giải phóng mặt bằng lên tới gần 40.800 tỷ đồng.[10]. Đây là phương án phù hợp nhất với Quyết đinh số 590/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ.
  2. Phương án 2 xây dựng đường cất hạ cánh số 3 về phía Bắc và khu vực nhà ga, sân đỗ tàu bay đồng bộ phía Tây của Cảng Nội Bài, cách đường số 1B (11R-29L) 1.035m, cách đường cất hạ cánh 1A 785m, thuộc địa phận xã Quang Tiến, Mai Đình, Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (đảm bảo hoạt động song song, độc lập với đường số 1B). Sân bay Nội Bài sẽ có 2 đường băng cho phép cất hạ cánh đồng thời, còn đường cất hạ cánh 1A được chuyển thành đường lăn. Tổng kinh phí đầu tư ước tính khoảng 38.802 tỷ đồng.
  3. Phương án 3 xây dựng đường cất hạ cánh số 3 về phía Bắc có vị trí tương tự như phương án 2, nhưng cấu hình khu bay được xác định gồm ba đường cất hạ cánh, trong đó có hai đường cất hạ cánh hoạt động song song độc lập là 1B với đường thứ 3. Đường 1A hoạt động song song phụ thuộc với hai đường còn lại. Ở phương án này, khu vực nhà ga hành khách sẽ được xây dựng ở vị trí tiếp giáp phía Bắc đường Võ Văn Kiệt, phía Đông của cảng Nội Bài. Hệ thống sảnh chờ bố trí giữa đường cất hạ cánh 1A và đường thứ 3.[9]. Tổng kinh phí 41.800 tỷ đồng.

Trong ba phương án nói trên, Cục Hàng không xác định phương án 2 là tối ưu nhất.[11].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]