Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất
Tân Sơn Nhất International Airport
Tan Son Nhat International Airport.jpg
Mã IATA
SGN
Mã ICAO
VVTS
Vị trí
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Độ cao 10 m (33 ft)
Tọa độ 10°49′8″B 106°39′7″Đ / 10,81889°B 106,65194°Đ / 10.81889; 106.65194Tọa độ: 10°49′8″B 106°39′7″Đ / 10,81889°B 106,65194°Đ / 10.81889; 106.65194
SGN trên bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh
SGN
SGN
Thông tin chung
Kiểu sân bay Dân dụng/quân sự
Chủ Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam
Cơ quan quản lý Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam
Phục vụ bay cho Jetstar Pacific Airlines
VASCO
Vietnam Airlines
VietJet Air
Trang mạng tansonnhatairport.vn
Các đường băng
Hướng Chiều dài Bề mặt
m ft
07L/25R 3.048 10.000 Bê tông
07R/25L 3.800 12.468 Bê tông
Thống kê (2014)
Số lượng khách thông qua (2015) 26.546.475[1]
Số lượng hàng hóa 412.021 tấn[2]
Số lần các chuyến bay thương mại cất, hạ cánh 153.939[2]
ACV[2]

Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (trước đây được gọi là Phi trường Tân Sơn Nhứt) là cảng hàng không quốc tếmiền Nam Việt Nam. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với diện tích 850 ha đứng đầu về mặt công suất nhà ga (với công suất từ 15-17 triệu lượt khách mỗi năm - quá tải khi lượng hành khách lớn hơn 25 triệu khách/năm, so với công suất hiện tại của sân bay Nội Bài là 6 triệu, Sân bay Đà Nẵng là 3 triệu) và cũng là sân bay có lượng khách lớn nhất Việt Nam. Nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 8 km về phía bắc ở quận Tân Bình, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là đầu mối giao thông quan trọng của cả miền Nam. Năm 2014, sân bay này phục vụ 26.546.475 lượt khách, nằm trong nhóm 50 sân bay có lượng khách nhiều nhất thế giới[3].

Sân bay cũng là trụ sở hoạt động chính của tất cả các hãng hàng không Việt Nam, là nơi đóng trụ sở của Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam quản lý toàn bộ các sân bay dân dụng ở Việt Nam.

Tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất. Sân bay này thuộc sự quản lý và khai thác của Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV), trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng Chào mừng khách tới Phi trường Tân Sơn Nhất-1967

Sân bay được xây dựng vào năm 1930 ở làng Tân Sơn Nhất, thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

Chuyến bay đầu tiên từ Paris đến Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất là vào năm 1933, chuyến bay này kéo dài 18 ngày.

Năm 1938 Pháp cho thành lập Sở Hàng không Dân dụng.

Năm 1956 Mỹ cho xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m, bằng bê tông. Trong khi đó sân bay do Pháp xây dựng năm xưa dài hơn 1500 m, bằng đất đỏ.

Trong Chiến tranh Việt Nam, sân bay là căn cứ quân sự quan trọng của Quân đội Hoa Kỳ và của Không lực Việt Nam Cộng hoà. Sau khi Việt Nam thống nhất, sân bay tiếp tục được mở rộng để khai thác các chuyến bay trong nước và quốc tế.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiện có 3 hãng hàng không nội địa và 43 hãng hàng không quốc tế (5 hãng bay theo mùa) đang có đường bay đến Tân Sơn Nhất. Nok Air là hãng hàng không mới nhất có đường bay đến sân bay này (từ 10/2015).
  • Phí sân bay: 18 đô-la Mỹ (cho các chuyến bay quốc tế). Phí sân bay đã được tính trong vé máy bay. Hành khách không cần phải mua khi đến sân bay như trước đây.

Hạ tầng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay có hai đường băng song song, trong đó đường băng 07L/25R dài 3.048 m rộng 45m, đường băng 07R/25L dài 3.800m rộng 45m, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay của nhiều loại máy bay. Nhà ga quốc tế với tám cầu lồng hàng không (nhiều hơn 4 cái so với ở nhà ga nội địa) thích ứng với cả những loại máy bay thân rộng bay tầm xa như Boeing 747-400, Boeing 777-200/300, Airbus A340-300/500/600, Boeing 767, Airbus A330,...

Từ 25 tháng 2 đến 25 tháng 10 năm 2015, đường băng 07L/25R được đóng cửa để sửa chữa, làm giảm 1/3 năng lực phục vụ của sân bay này, kéo dài thời gian chờ cất và hạ cánh của máy bay trong các giờ cao điểm.

Nhà ga[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà ga quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi khánh thành nhà ga mới, toàn bộ nhà ga quốc tế cũ được chuyển thành nhà ga quốc nội.

Lúc 3:00 sáng ngày 27 tháng 10 năm 2008, nhà ga quốc nội đã cháy lớn. Đến 6:30 sáng cùng ngày, đám cháy mới được dập tắt.[4] Theo kết quả điều tra nguyên nhân vụ cháy là do chập điện, không có thiệt hại về người nhưng thiệt hại về tài sản là khá nặng.[5] Sự việc khiến nhà ga quốc nội phải ngưng hoạt động từ ngày 27 tháng 10, 2008 để sửa chữa và đưa vào hoạt động trở lại một phần vào ngày 3 tháng 11, 2008, các dịch vụ khác tại nhà ga quốc nội vẫn tiếp tục được sửa chữa.[6] Đến nay, toàn bộ nhà ga quốc nội đã hoàn tất sửa chữa và đưa vào khai thác bình thường trở lại.

Năm 2010, nhà ga nội địa đã phục vụ 8 lượt triệu khách nội địa, đạt công suất tối đa của nhà ga nội địa.

Cuối năm 2011, nhà ga nội địa đã được nâng cấp và mở rộng nhằm tăng công suất phục vụ và khai thác lên khoảng 15 triệu khách/năm. Các hạng mục sẽ được cải tạo bao gồm tầng trệt nhà ga nội địa rộng khoảng 22.000 , tầng lầu 2 rộng 17.000 m² và tầng mái khoảng 22.000 m².[7]

Hiện nay, nhà ga quốc nội với diện tích là 40.048 m²[8], công suất phục vụ hành khách đi lại vào giờ cao điểm là 2.100 hành khách[cần dẫn nguồn]; nhà ga quốc nội có 111 quầy làm thủ tục[8], một quầy làm thủ tục nối chuyến[8] và một quầy hành lý quá khổ[8]; số cửa boarding: 19[8]; 4 máy soi chiếu hành lý xách tay[Cần cập nhật]; 4 cổng từ[Cần cập nhật], 6 băng chuyền hành lý đến, 6 băng chuyền hành lý đi[8], 9 cửa kiểm tra an ninh, 2 thang máy[Cần cập nhật?], 10 thiết bị kiểm tra kim loại cầm tay[Cần cập nhật?] đưa vào sử dụng, có thể phục vụ tối đa 13 triệu khách mỗi năm[8].

Nhà ga quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà ga quốc tế có công suất tối đa 15-17 triệu lượt hành khách/năm[9] với tổng dự toán: 260 triệu USD từ vốn ODA Chính phủ Nhật Bản. Tổng thầu thi công là Tổ hợp Liên danh 4 nhà thầu Nhật Bản (KTOM - Kajima, Taisei, Obayashi, Maeda).[10]

Nhà ga có diện tích: 93.228 m², trong đó diện tích đường và sân đậu ôtô: 78.000 m²[cần dẫn nguồn], diện tích đường tầng: 10.540 m²[cần dẫn nguồn], diện tích đường công vụ: 13.000 m²[cần dẫn nguồn].

Bảng thông báo giờ bay tại nhà ga quốc tế Tân Sơn Nhất.

Nhà ga được trang bị: 8 lồng đôi dẫn khách cho máy bay cỡ lớn, 6 băng chuyền hành lý đến, 4 băng chuyền hành lý đi, 8 băng tải cho người đi bộ, hệ thống thông báo bay, 18 thang máy và 20 thang cuốn, 43 máy soi chiếu, 10 cổng từ: 12 cổng ra máy bay[8], có thể đáp ứng cùng 1 lúc 20 chuyến bay vào giờ cao điểm[cần dẫn nguồn]. Công trình nhà ga quốc tế mới đã được đưa vào sử dụng lúc 12h20 ngày 14 tháng 8 năm 2007 với chuyến bay số hiệu TR 328 của hãng Tiger Airways. Nhà ga này đã phục vụ thử một số hãng quốc tế và sau đó đã được chính thức đưa vào sử dụng chính thức kể từ ngày 2 tháng 9 năm 2007.[11][12]

Khu đến và đi của nhà ga quốc tế được chia thành hai lầu riêng biệt.

Nhà ga quốc tế có 80 quầy làm thủ tục, 1 quầy nối chuyến[8]; 18 quầy thủ tục xuất cảnh, 20 quầy thủ tục nhập cảnh[8]; 2 máy soi hải quan đi và 6 máy soi hải quan đến[8].

Hiện tại, nhà ga quốc tế có công suất tối đa 12 triệu khách mỗi năm

Tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Theo dự kiến điều chỉnh quy hoạch của Bộ Giao thông vận tải, tới năm 2015, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất sẽ đáp ứng được 23,5 triệu lượt khách và hơn 600 ngàn tấn hàng hóa thông qua mỗi năm[13].

Phi trường mới[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tương lai, sân bay Tân Sơn Nhất là một trong hai sân bay chính của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ, chủ yếu phục vụ khách nội địa. Một sân bay quốc tế mới có công suất thiết kế tối đa 100 triệu lượt hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa/năm, sân bay Quốc tế Long Thành hiện[khi nào?] đang được tiến hành thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư. Tốn kém theo dự định khoảng 15,8 tỷ USD.[14].

Nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất[sửa | sửa mã nguồn]

TS Nguyễn Bách Phúc - Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ&Quản lý TP.HCM HASCON; Viện trưởng Viện Điện – Điện tử - Tin học EEI cho rằng có thể nâng năng lực vận chuyển của sân bay Tân Sơn Nhất qua 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Năng cấp từ 20 triệu hành khách/năm như hiện nay lên 56 triệu hành khách/ năm cần xây dựng thêm 3 nhà ga. Đất sẽ dùng sân golf rộng 157 ha và 38 ha đất trống trong khuôn viên sân bay, vốn đầu tư thực hiện trong giai đoạn này dưới 2 tỉ USD.
  • Giai đoạn 2: Năng cấp từ 56 triệu hành khách/năm như hiện nay lên 80 triệu hành khách/ năm bằng việc di dời đơn vị Quân đội và các xí nghiệp thuê đất khỏi khu vực Tân Sơn Nhất để có thể xây thêm nhà ga và đường băng mới. Vốn đầu tư của cả giai đoạn này khoảng hơn 1 tỉ USD.[15].

Xây thêm nhà ga[16][sửa | sửa mã nguồn]

Đây là giải pháp nhằm giảm áp lực cho sân bay Tân Sơn Nhất trong khi chờ đợi sân bay Long Thành hoàn thành. Nhà ga mới sẽ được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 10 hecta, kết nối với các tuyến đường Cộng Hòa, Hoàng Hoa Thám.

Trong quá trình thi công nhà ga, các tuyến đường này cũng được hoàn thành để kết nối đồng bộ với nhà ga.

Theo Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, công suất thiết kế của cảng năm 2020 sẽ đạt 25 triệu lượt hành khách/năm. Nhưng trong năm 2015 đã có đến 26,5 triệu lượt, vượt 1,5 triệu lượt và 5 năm.

Dự kiến, trong năm 2016 sẽ có khoảng 30 triệu lượt hành khách lưu thông qua Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, năm 2020 là 40 triệu lượt.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng hành khách thông qua tính đến năm 2015. Sân bay có tốc độ tăng trưởng khoảng 8 - 10%.

Năm Hành khách Hàng hóa (tấn) Số chuyến bay cất hạ cánh
2009 12.426.000 444.230[cần dẫn nguồn] 98.134[cần dẫn nguồn]
2010 13.787.000 452.702[cần dẫn nguồn] 110.355[cần dẫn nguồn]
2011 16.461.000 545.652[cần dẫn nguồn] 130.758[cần dẫn nguồn]
2012 17.500.000 341.000 132.000
2013 20.000.000 375.000 140.000
2014 22.153.000 412.021 153.939
2015 26.546.475

[17][2]

Các hãng hàng không và điểm đến[sửa | sửa mã nguồn]

Hành khách[sửa | sửa mã nguồn]

Các chuyến bay nội địa sử dụng nhà ga 1; các chuyến bay quốc tế sử dụng nhà ga 2.

Hãng hàng không Điểm đến Nhà ga
Aeroflot Moscow–Sheremetyevo 2
Air Astana Almaty 2
Air China Bắc Kinh-Thủ đô 2
Air France Paris–Charles de Gaulle 2
Air New Zealand Theo mùa: Auckland (từ 4 tháng 6, 2016 đến 29 tháng 10, 2016[18]) 2
AirAsia Kuala Lumpur, Johor Bahru, Penang[19] 2
All Nippon Airways
vận hành bởi Air Japan
Tokyo–Narita 2
Asiana Airlines Seoul–Incheon 2
Cambodia Angkor Air Phnom Penh, Siem Reap, Sihanoukville (từ 17 tháng 6 năm 2016),[20] Vientiane 2
Cambodia Bayon Airlines Phnom Penh 2
Cathay Pacific Hong Kong 2
Cebu Pacific Manila 2
China Airlines Đài Bắc–Đào Viên 2
China Eastern Airlines Thượng Hải–Phố Đông, Côn Minh-Trường Thủy[21] 2
China Southern Airlines Quảng Châu, Vũ Hán, Thâm Quyến 2
Etihad Airways Abu Dhabi 2
EVA Air Đài Bắc–Đào Viên 2
Finnair Theo mùa: Helsinki 2
Hong Kong Airlines Hong Kong[22] 2
Hai Au Aviaton Phan Thiết 1
Japan Airlines Tokyo–Haneda, Tokyo–Narita 2
Jetstar Asia Airways Singapore 2
Jetstar Pacific Airlines Buôn Ma Thuột, Chu Lai,[23] Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nội, Vinh, Đà Lạt, Thanh Hóa, Quy Nhơn, Đồng Hới, Tuy Hòa
Theo mùa: Nha Trang-Cam Ranh
1
Jetstar Pacific Airlines Bangkok–Suvarnabhumi, Singapore 2
Korean Air Seoul–Incheon 2
Lao Airlines Pakse, Vientiane 2
Malaysia Airlines Kuala Lumpur 2
Malindo Air Kuala Lumpur[24]
Mandarin Airlines Cao Hùng,[25] Đài Trung 2
Nok Air Bangkok-Don Mueang 2
Philippine Airlines Manila 2
Qatar Airways Doha, Phnom Penh 2
Royal Brunei Airlines Bandar Seri Begawan 2
Sichuan Airlines Hàng Châu, Nam Ninh[26][27] 2
Singapore Airlines Singapore 2
Thai AirAsia Bangkok–Don Mueang 2
Thai Airways Bangkok–Suvarnabhumi 2
Tigerair Singapore 2
Transaero Airlines Theo mùa: Moscow–Domodedovo, Moscow–Sheremetyevo 2
Turkish Airlines Bangkok–Suvarnabhumi, Istanbul–Atatürk[28][29], Hà Nội(Từ 28 tháng 6, 2016)[30][31] 2
T'way Airlines Seoul-Incheon[32] 2
United Airlines Hồng Kông, Newark 2
VietJet Air Buôn Ma Thuột,[33] Chu Lai,[23] Đà Lạt, Đà Nẵng, Đồng Hới, Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Nha Trang, Phú Quốc, Qui Nhơn, Thanh Hóa, Vinh, Pleiku 1
VietJet Air Bangkok–Suvarnabhumi, Singapore, Đài Bắc-Đào Viên, Seoul–Incheon, Yangon, Kuala Lumpur (từ 1/6/2016), Đài Nam (từ 22/6/2016)[34] 2
Vietnam Airlines Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Đà Nẵng, Đồng Hới, Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Nha Trang, Phú Quốc, Pleiku, Qui Nhơn, Rạch Giá, Thanh Hóa, Vinh 1
Vietnam Airlines
vận hành bởi VASCO
Cà Mau, Chu Lai, Côn Đảo, Tuy Hòa 1
Vietnam Airlines Bangkok–Suvarnabhumi, Busan, Frankfurt, Fukuoka, Phúc Châu, Quảng Châu, Hong Kong, Jakarta–Soekarno–Hatta, Cao Hùng, Kuala Lumpur, London–Heathrow, Moscow–Domodedovo, Melbourne, Nagoya–Centrair, Osaka–Kansai, Paris–Charles de Gaulle, Phnom Penh, Seoul–Incheon, Thượng Hải-Phố Đông, Siem Reap, Singapore, Sydney, Đài Bắc-Đào Viên, Tokyo–Narita, Viêng Chăn, Yangon 2

Hàng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng hàng không Điểm đến
Air France Cargo Paris-Charles de Gaulle
Asiana Cargo Seoul-Incheon
Cargoitalia Abu Dhabi, Dubai, Hong Kong, Milan-Malpensa
Cargolux Luxembourg
Cathay Pacific
China Airlines Cargo Đài Bắc - Đào Viên
EVA Air Cargo Đài Bắc - Đào Viên
FedEx Express
Hong Kong Airlines Hong Kong
JAL Cargo
K-Mile Transmile Air Services
Korean Air Cargo Seoul-Incheon
Qantas Freight Thượng Hải - Phố Đông, Sydney
Shanghai Airlines Cargo Thượng Hải - Phố Đông
Tri-MG Intra Asia Airlines Bangkok-Suvarnabhumi, Phnom Penh
KLM airlines cargo Amsterdam
Vietnam airlines cargo thành phố Hồ Chí Minh, Hà nộI
DHL Cargo
UPS
Mạng lưới điểm đến từ Sân bay Tân Sơn Nhất của các hãng hàng không quốc tế

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây thống kê các điểm đến có tần suất cao nhất xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất trong một tuần tính theo số lượt chuyến bay của tất cả các hãng hàng không, không phải xếp hạng theo số lượt khách vận chuyển.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sự cố mất điện tại trung tâm kiểm soát không lưu[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 11h5' ngày 20.11.2014, Trung tâm kiểm soát đường dài Hồ Chí Minh và tiếp cận Tân Sơn Nhất (AACC HCM) bị gián đoạn hệ thống cấp điện cho thiết bị điều hành bay, đến 12g19 mới trở lại bình thường. Đây là một sự cố chưa từng có trong lịch sử hàng không thế giới. Khi đó có 54 máy bay đang hoạt động trong vùng trời TP HCM, trong đó 8 máy bay đã nằm trong vùng chuẩn bị hạ cánh. Ngoài ra, trong thời gian mất điện đã có 92 máy bay bay vào vùng trời này. Tuy nhiên, Tân Sơn Nhất không có khả năng tiếp nhận máy bay, ảnh hưởng các chuyến bay chuẩn bị cất cánh đến TP HCM.[35] Hậu quả là nhiều chuyến phải lơ lửng trên trời. Có chuyến phải đáp xuống các sân bay khác, có chuyến phải chuyển hướng bay … và được điều hành bằng phương pháp cổ điển không ra-đa[36].

Nói về nguyên nhân gây sự cố mất điện tại sân bay Tân Sơn Nhất, ông Đinh Việt Thắng cho biết, lúc 11h ngày 20.11, các nhân viên kỹ thuật của Cty Quản lý bay miền Nam thực hiện công tác ngắt điện lưới để kiểm tra định kỳ hệ thống máy phát điện. Sau khi tiến hành ngắt điện, 3 máy phát vẫn hoạt động bình thường. Đến 11h05, một hệ thống UPS báo lỗi. Theo quy trình, trước hết các nhân viên kỹ thuật phải cô lập toàn bộ hệ thống UPS bị lỗi, rồi mới tiến hành sửa chữa. Tuy nhiên, kíp trưởng của ca trực là Lê Trí Tình đã thực hiện sai thao tác dẫn tới toàn bộ hệ thống điện bị sập.[37].

Đài kiểm soát không lưu Cảng Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất vừa mới được khánh thành vào ngày 2 tháng 7 2013, trị giá hơn 400 tỷ đồng, là một trong những cơ sở điều hành bay được trang bị hiện đại nhất của Việt Nam và Đông Nam Á.[38].

Chất lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo trang mạng chuyên xếp hạng sân bay khắp thế giới SleepinginAirports vừa công bố, 2015 trong danh sách 10 sân bay tệ nhất thế giới sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất xếp vị trí thứ 8: “Tân Sơn Nhất xấu đi rất nhiều trong mắt hành khách trong những năm qua bởi những cáo buộc về nhũng nhiễu. Nhiều người tham gia khảo sát cho biết cán bộ xin hối lộ để được giải quyết nhanh hơn; những ai từ chối hối lộ ngay lập tức bị xử lý chậm chạp hoặc làm trì hoãn một số thủ tục giấy tờ của hành khách. Một số than phiền khác về tín hiệu wifi nghèo nàn, nhà vệ sinh dơ bẩn và không nhiều lựa chọn nhà hàng. Nếu đến sân bay này, bạn chắc chắn phải giấu đi những vật có giá trị”. Còn trong danh sách bình chọn 10 sân bay tệ nhất châu Á, Tân Sơn Nhất xếp ở vị trí thứ 4 [39].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Kết quả sản xuất kinh doanh của ACV: Năm 2015 sản lượng hành khách thông qua cảng đạt trên 63 triệu lượt, tăng 24,2% so với năm 2014”. ACV. 19 tháng 1 năm 2016. 
  2. ^ a ă â b “CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ TÂN SƠN NHẤT”. ACV. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ “Kết quả sản xuất kinh doanh của ACV: Năm 2015 sản lượng hành khách thông qua cảng đạt trên 63 triệu lượt, tăng 24,2% so với năm 2014”. ACV. 19 tháng 1 năm 2016. 
  4. ^ “Cháy lớn ở ga hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất”. Tuổi Trẻ. 27 tháng 10 năm 2008. 
  5. ^ “Cháy nhà ga quốc nội Tân Sơn Nhất là do chập điện”. VietNamNet. 06 tháng 11 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  6. ^ “Nhà ga nội địa Tân Sơn Nhất khai thác trở lại”. Dân Trí. 3 tháng 11 năm 2008. 
  7. ^ “Dự án cải tạo nâng cấp nhà ga quốc nội TSN”. Tổng công ty cảng hàng không miền nam. Ngày 25 tháng 3 năm 2011. 
  8. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Cơ sở hạ tầng kỹ thuật”. Sân bay Tân Sơn Nhất. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2016. 
  9. ^ Khánh thành nhà ga quốc tế Tân Sơn Nhất
  10. ^ Dự án nhà ga quốc tế mới sân bay Tân Sơn Nhất
  11. ^ Báo Tuổi Trẻ
  12. ^ Báo Tuổi Trẻ
  13. ^ Chờ Long Thành, Tân Sơn Nhất quá tải Bài, ảnh: Nguyễn Nga, Cập nhật lần cuối: 27/08/2008 08:29:56 AM
  14. ^ On the green, Vietnam army’s capitalist streak, japantimes, 3.5.2015
  15. ^ "Cần bỏ sân golf để nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất", giaoduc, 3.5.2015
  16. ^ “Xây thêm nhà ga ở sân bay Tân Sơn Nhất”. PetroTimes. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2016. 
  17. ^ “Lịch sử hình thành và phát triển sân bay Tân Sơn Nhất”. Sân bay Tân Sơn Nhất. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2016. 
  18. ^ “Air New Zealand to Start Seasonal Ho Chi Minh Service from June 2016”. airlineroute. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  19. ^ “AirAsia Adds New Penang International Routes in W15”. Airline Route. 3 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  20. ^ “Cambodia Angkor Air Adds New Vietnam Routes in S16”. airlineroute. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  21. ^ “China Eastern Begins Kunming – Vietnam Routes from Dec 2015”. Airline Route. 19 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  22. ^ “Hong Kong Airlines Plans Ho Chi Minh City Service from mid-March 2014”. Airline Route. Ngày 31 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2014. 
  23. ^ a ă “Breakfast @ Tuoi Tre News – April 16”. Tuoi Tre News. 
  24. ^ “Malindo Air Expands Ho Chi Minh Service from late-April 2016”. Airline Route. 15 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  25. ^ “Mandarin Airlines Plans New Routes from Kaohsiung in W14”. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015. 
  26. ^ “Sichuan Airlines sets off to South Korea and Vietnam”. anna aero. 16 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  27. ^ 3U8913 HGH0750-1030NNG1200-1300SGN 3U8914 SGN1355-1755NNG1925-2200HGH
  28. ^ TK68 IST-BKK-SGN TK69 SGN-BKK-IST
  29. ^ “Turkish Airlines increases Vietnam service to Daily from late-Jun 2011”. Airline Route. 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  30. ^ “Turkish Airlines W16 Operation Changes as of 08FEB16”. Airlines Route. 8 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  31. ^ TK166 IST-SGN-HAN-IST
  32. ^ “T’Way Airlines to Start Seoul – Ho Chi Minh Service from late-Dec 2015”. Airline Route. 30 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  33. ^ fly-on-vietjetairs-new-route-from-ho-chi-minh-city-to-buon-me-thuot-for-just-vnd390000 – news – VietJetAir.com – Enjoy Flying!. VietJetAir.com. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013.
  34. ^ “Vietjet Air Adds Tainan Service from late-June 2016”. Airline Route. 11 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  35. ^ Sự cố mất điện ở sân bay Tân Sơn Nhất: Cực kỳ nghiêm trọng và chưa thể tính tổn thất, laodong, 21/11/2014
  36. ^ "Chết người" với hàng loạt máy bay lơ lửng , tuoitre, 23/11/2014
  37. ^ Bộ trưởng Đinh La Thăng: Cho nghỉ việc ngay toàn bộ nhân viên hàng không yếu kém, laodong 24/11/2014
  38. ^ Khánh thành Đài kiểm soát không lưu hiện đại nhất Đông Nam Á, giaothongvantai, 2/7/2013
  39. ^ Tân Sơn Nhất tệ nhất thế giới, thanhnien.com.vn, 20/10/2015

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]