Chính phủ Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chính phủ Nhật Bản
Goshichi no kiri.svg
Tổng quan Chính phủ
Nhà nước Nhật Bản
Lãnh đạo Thủ tướng
Bổ nhiệm bởi Hoàng đế Nhật Bản
Tổ chức chính Nội các
Chịu trách nhiệm trước Quốc hội
Trụ sở quận Chiyoda, Tokyo
Website http://www.japan.go.jp/

Chính phủ Nhật Bản là một chính phủ Quân chủ lập hiến trong đó quyền lực của Thiên hoàng bị giới hạn và chủ yếu nhằm thực hiện các nhiệm vụ nghi lễ. Cũng như ở nhiều nhà nước, chính phủ Nhật Bản được chia thành ba nhánh: hành pháp, lập pháptư pháp.

Chính phủ hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp Nhật Bản được thông qua vào năm 1947. Đây là là một nhà nước đơn nhất, có chứa bốn mươi bảy đơn vị phân cấp hành chính, với Hoàng đế là nguyên thủ quốc gia.[1]  Vai trò của hoàng đế mang tính nghi lễ và ông không có quyền hạn liên quan đến chính phủ.[2] Nội các Nhật Bản, gồm các Bộ trưởng nhà nước và Thủ tướng mới là người chỉ đạo và kiểm soát chính phủ. Nội các là nguồn gốc của sức mạnh hành pháp, và được Thủ tướng Chính phủ, là người đứng đầu chính phủ lập ra.[3][4] Thủ tướng do Quốc hội chỉ định và Thiên hoàng phê chuẩn.[5][6]

Quốc hội là cơ quan lập pháp. Quốc hội bao gồm lưỡng viện, gồm hai viện với Tham Nghị việnThượng viện, và Chúng Nghị việnHạ viện. Các thành viên được bầu trực tiếp từ người dân, vốn là nguồn gốc của chủ quyền.[7] Tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới khác tạo nên ngành tư pháp, và các tòa án này độc lập với hành pháp và lập pháp.[8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời kỳ Minh Trị Duy tân, Nhật Bản đã được các tướng lĩnh shogun nối tiếp nhau cai trị. Trong thời gian này, quyền lực thực sự của chính phủ nằm trong tay các Shogun, người chính thức cai trị đất nước dưới danh nghĩa Hoàng đế.[9]  Các Shogun là các tướng lĩnh quân sự cha truyền con nối, với cấp bậc tương đương Tổng thống lĩnh ngày nay.  Mặc dù hoàng đế có quyền bổ nhiệm Shogun, vai trò của hoàng đế chỉ mang tính nghi lễ và ông không hề có quyền lãnh đạo Nhật Bản.[10]  Điều này thường được so sánh với vai trò hiện tại của Hoàng đế, người chỉ có vai trò chính thức là bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ.[11]

Minh Trị Duy Tân năm 1868 đã dẫn đến sự từ chức của Shogun Tokugawa Yoshinobu,  đồng ý "trở thành công cụ để thực hiện" lệnh của Hoàng đế.[12] Sự kiện này đã phục hồi quyền lãnh đạo đất nước của Hoàng đế và việc công bố Đế quốc Nhật Bản. Năm 1889, Hiến pháp Minh Trị đã được thông qua trong một động thái nhằm làm Nhật Bản cường thịnh ngang với tầm cỡ của các nước phương Tây, dẫn đến thể chế Đại nghị đầu tiên tại châu Á.[13] Đây là một mô hình hỗn hợp quân chủ lập hiến-chuyên chế, với một nền tư pháp độc lập, dựa trên hình mẫu của nước Phổ lúc đó.[14]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "The World Factbook Japan".
  2. ^ Article 4(1) of the Constitution of Japan Section 1, Constitution of Japan (1947; in English).
  3. ^ Article 65 of the Constitution of Japan Section 5, Constitution of Japan (1947; in English).
  4. ^ Article 68(1) of the Constitution of Japan Section 5, Constitution of Japan (1947; in English).
  5. ^ Article 67(1) of the Constitution of Japan Section 5, Constitution of Japan (1947; in English).
  6. ^ Article 6(1) of the Constitution of Japan Section 1, Constitution of Japan (1947; in English).
  7. ^ Article 1 of the Constitution of Japan Section 1, Constitution of Japan (1947; in English).
  8. ^ Article 76(2) of the Constitution of Japan Section 6, Constitution of Japan (1947; in English).
  9. ^ Chaurasla, Radhey Shyam (2003).
  10. ^ Koichi, Mori (December 1979).
  11. ^ Bob Tadashi, Wakabayashi (1991).
  12. ^ Satow, Ernest Mason (Aug 23, 2013).
  13. ^ "Asia's First Parliament".
  14. ^ "The Nature of Sovereignty in Japan, 1870s–1920s" (PDF).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]