Quốc hội Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quốc hội Nhật Bản
日本国の国会
Nippon-koku no Kokkai
Kỳ họp thứ 189
Huy hiệu hoặc biểu trưng
Dạng
Mô hình
Lưỡng viện
Các viện Tham Nghị viện
Chúng Nghị viện
Lãnh đạo
Tadamori OshimaLDP
Từ 21/4/2015
Masaaki YamazakiLDP
Từ 2/8/2013
Cơ cấu
Số nghị sĩ 722
242 (Tham Nghị viện)
480 (Chúng Nghị viện)
House of Councillors Japan 2013.svg
Các chính đảng Tòa nhà
Thượng viện

Chính phủ (134):

  LDP (114)
  Kōmeitō (20)

Đối lập (108):

  DPJ (58)
  YP (12)
  JCP (11)
  JRP (9)
  UP (6)
  SDP (3)
  NRP-GI (3)
  PLP (2)
  Độc lập (4)
House of Representatives Japan 2014.svg
Các chính đảng Tòa nhà
Hạ viện

Chính phủ (325):

  LDP (291)
  Kōmeitō (35)

Đối lập (155):

  Duy tân (41)
  Kokoro (2)
  Độc lập (8)
  SDP/Shimin Rengō (2)
  PNP(2)
  DPJ (73)
  JCP (21)
Bầu cử
Bầu cử Tòa nhà
Thượng viện
vừa qua
21/7/2013 (lần thứ 23)
Bầu cử Tòa nhà
Hạ viện
vừa qua
14/12/2014 (lần thứ 47)
Trụ sở
Diet of Japan Kokkai 2009.jpg
Tòa nhà Quốc hội, Tokyo
Trang web
Tham Nghị viện – website chính thức
Chúng Nghị viện – website chính thức
Imperial Seal of Japan.svg
Bài này nằm trong loạt bài về:
Chính trị và chính phủ
Nhật Bản
Tòa nhà Quốc hội thời xưa
Phòng họp Nghị viện

Quốc hội (国会 Kokkai?) là cơ quan lập pháp lưỡng viện cao nhất ở Nhật Bản.

Quốc hội bao gồm Tham Nghị viện (tức Thượng viện) và Chúng Nghị viện (tức Hạ viện). Cả hai viện được bầu cử trực tiếp theo hệ thống bầu cử song song. Ngoài việc thông qua các đạo luật, Quốc hội có quyền lựa chọn Thủ tướng điều hành chính phủ. Quốc hội thành lập đầu tiên vào năm 1889, đó là kết quả của việc thông qua Hiến pháp thời Minh Trị. Hình thái Nghị viện như hiện nay xuất hiện khi việc thông qua hiến pháp thời hậu chiến (Chiến tranh thế giới thứ hai) và được Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Tuy vậy do đặc trưng văn hóa và nếp nghĩ của Nhật Bản, ở trong một nước có truyền thống tập quyền trung ương, Quốc hội đã không trưởng thành được về mặt quyền hạn, mà thực chất chỉ là cơ quan môi giới nguyện vọng điều trần tới chính phủ. Ở Mỹ, mỗi khi tổng thống hay quan chức trung ương làm điều bất chính, thì lập tức Quốc hội mở cuộc điều trần để điều tra. Làm chính trị là việc của Phủ lập pháp (Nghị viện), còn hành pháp (Chính phủ trung ương) chỉ thi hành cho đúng chính sách đó thôi. Tuy nhiên, ở Nhật Bản thì tình trạng là ngược lại. Thậm chí, Bộ Thương nghiệp quốc tế và công nghiệp và Bộ Kho bạc đã từng công nhiên chỉ đạo vi phạm luật cấm độc quyền của Quốc hội.[1]

Trụ sở Quốc hội nằm ở Nagatachō, Chiyoda, Tokyo. Chiếm vị trí quan trọng trong Nghị viện hiện nay là Đảng Dân chủ Tự do (LDP).

Đại biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Các viện của Quốc hội được bầu theo hệ thống bầu cử song song. Mỗi ghế trong các cuộc bầu cử được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm được bầu theo thể thức khác nhau. Các cử tri sẽ bỏ 2 phiếu, một phiếu cho ứng viên cá nhân và một phiếu cho danh sách đảng đại diện. Bất cứ cử tri nào trên 20 tuổi đều được tham gia bỏ phiếu, dự kiến sẽ giảm xuống còn 18 vào năm 2016.

  • Tham Nghị viện: Tổng số 242 đại biểu, 146 đại biểu được bầu từ 47 khu vực bầu cử theo hệ thống bầu cử lá phiếu duy nhất không chuyển nhượng được (SNTV). 96 đại biểu còn lại được bầu theo danh sách mở theo phương pháp đại diện tỉ lệ theo danh sách từ một danh sách bầu cử quốc gia.
  • Chúng Nghị viện: Tổng số 480 đại biểu, 300 đại biểu được bầu theo hệ thống bầu cử đa số. 180 đại biểu còn lại được bầu từ 11 khối bầu cử theo phương pháp hệ thống danh sách đảng đại diện tỷ lệ.

Hiến pháp Nhật Bản không quy định chi tiết về quy định bầu cử, mọi nguyên tắc bầu cử đều do Luật quyết định. Tuy nhiên, Hiến pháp vẫn tôn trọng quyền bình đẳng cho mỗi ứng viên và cử tri "không có sự phân biệt về chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, điều kiện xã hội, lý lịch gia đình, học vấn, tài sản và thu nhập."[2].

Điều kiện trở thành đại biểu:

  • Là công dân Nhật Bản;
  • Có độ tuổi trên 25 với Hạ viện và 30 với Thượng viện.

Chế độ đãi ngộ với các đại biểu:

  • Nhận lương bổng theo Ngân sách quốc gia và luật định[3]. Hiện tại theo quy định mỗi đại biểu được 1.3 triệu ¥/tháng.
  • Mỗi đại biểu có quyền miễn đóng thuế, vé tàu đi lại và 4 vé máy bay khứ hồi để có thể đi lại giữa địa phương.
  • Không phải chịu trách nhiệm pháp lý khi ra ngoài Quốc hội vì những bài diễn thuyết, cách thảo luận hay bỏ phiếu tại quốc hội.
  • Trừ trường hợp được pháp luật quy định, đại biểu không bị bắt trong khoá họp của Quốc hội.
  • Nếu đại biểu bị giam giữ trước khi khai mạc khoá họp thì sẽ được phóng thích để dự khoá họp theo yêu cầu của Quốc hội.

Quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 41 Hiến pháp Nhật Bản quy định "Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước và cũng là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền lập pháp". Quy định này trái ngược với Hiến pháp Minh Trị, trong đó quy định Thiên Hoàng là người thực hiện quyền lập pháp với sự chấp thuận của Quốc hội. Nhiệm vụ của Quốc hội không chỉ làm luật mà còn thông qua Ngân sách Quốc gia hàng năm do Chính phủ đệ trình và việc phê chuẩn các Hiệp ước quốc tế.

Quốc hội còn có quyền sửa đổi Hiến pháp, theo đó nếu được Quốc hội thông qua, để ban hành cần phải thông qua cuộc trưng cầu ý dân. Các viện có thể tiến hành "mở cuộc điều tra về hoạt động của Chính phủ, hỏi cung nhân chứng và kiểm tra các tài liệu".

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 12 người làm nên nước Nhật. Sakaiya Taichi. NXB Chính trị quốc gia. Chương 10: MacArthur - Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một "nước Mỹ lý tưởng".
  2. ^ Điều 44 Hiến pháp Nhật Bản
  3. ^ Điều 49 Hiến pháp