Đảng Công Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đảng Công Minh
公明党

Kōmeitō
Chủ TịchNatsuo Yamaguchi
Phó Chủ TịchYoshihisa Inoue
Kazuo Kitagawa
Noriko Furuya
Bí Thư TrưởngTetsuo Saito
Lãnh Đạo Tham Nghị ViênMakoto Nishida
Thành lập17 tháng 11 năm 1964; 55 năm trước (1964-11-17)
Sáp nhậpCông Minh Đảng (1962)
Tân Hòa Đảng
Câu Lạc Bộ Cải Cách
Trụ sở chính17 Minamimoto-machi, Shinjuku, Tokyo 160-0012, Nhật Bản
Báo chíBáo Công Minh (ja)
Ý thức hệChủ nghĩa bảo thủ[1]
Chủ nghĩa bảo thủ văn hóa[2]
Chủ nghĩa hòa bình[3]
"Chủ nghĩa xã hội nhân đạo"
(tự xưng)[4]
Vị chính trịTrung gian[5] đến trung hữu[6]a[›]
Tôn giáoSáng Giá Học Hội[7]
Khẩu hiệuTaishū to tomo ni[8]
(nghĩa đen là "Cùng với đại chúng")
Chúng Nghị Viên
29 / 465
Tham Nghị Viên
25 / 242
Nghị viên huyện[9]
206 / 2.668
Nghị viên thành phố[9]
2.710 / 29.762
Trang webwww.komei.or.jp

^  a:  cũng đôi khi đánh giá là trung tả[10] hoặc cánh hữu[11][12]

Đảng Công Minh (公明党, Kōmeitō) trước Tân Công Minh Đảng là chính đảng trung gian đến trung hữu bảo thủ ở Nhật, do tục giới của phong trào tôn giáo mới Soka Gakkai thành lập, có chân trong chính phủ liên minh hiện tại năm 2012.[13]

Tính đến tháng 7 năm 2019 Natsuo Yamaguchi là chủ tịch đảng, hiện tại là Tham Nghị Viên Quốc Hội Nhật Bản.[14]

Sau cuộc bầu cử hạ viện năm 2012, đảng có 31 ghế trong Chúng Nghị Viện, 19 ở Tham Nghị Viện, năm 2014 hạ viện tăng lên 35[15] và thượng viện 25,[16][17] năm 2016 số Tham Nghị Viên giảm xuống 14.[18] Trong cuộc bầu cử Nghị Hội Đô Tokyo năm 2017, Đảng Công Minh giành được 23 ghế[19][20] là hơn một.[21] Sau cuộc bầu cử hạ viện năm 2017 thì mất sáu ghế xuống còn 29 Chúng Nghị Viên.[22]

Đường lối[sửa | sửa mã nguồn]

Sứ mệnh tự xưng của Đảng Công Minh là tiên phong "chính trị dân bản, noi theo chủ nghĩa nhân đạo tôn trọng và chăm sóc nhân mạng hết sức".[23] Ngày 24 tháng 4 năm 2019 nhờ nỗ lực chung cùng Đảng Dân Chủ Tự Do[24][25][26] mà dự luật yêu cầu bồi thường, chính phủ chính thức xin lỗi các nạn nhân tuyệt dục do Luật Ưu Sinh Quốc Dân thông qua được, xúc tiến nhận thức nhân quyền sau các vụ kiện tụng[27][28] về ưu sinh ở Nhật Bản.[29][30][31][32]

Trong nước đảng đề nghị cắt giảm chính phủ trung ương cùng bộ máy quan liêu, tăng minh bạch trong công vụ và cho các huyện được tự trị hơn, ngành tư doanh được vai trò lớn hơn. Theo đúng đường lối công vụ minh bạch nên từ tháng 9 năm 2016 đảng tiến hành phân tích độc lập các ô nhiễm môi trường có thể của dự án chợ Toyosu,[33] sau chính thức nêu lo ngại trong phiên họp Nghị Hội Đô Tokyo ngày 5 tháng 10 năm 2016; Thị Trưởng Tokyo mới bổ nhiệm Yuriko Koike phản ứng đưa ra các hình phạt kỷ luật có thể cho những người phụ trách dự án.[34]

Đối với chính sách ngoại giao đảng muốn loại trừ vũ khí hạt nhân và đại khái xung đột vũ trang, nhưng tháng 7 năm 2015 thì lại ủng hộ nỗ lực khuếch trương quân quyền của thủ tướng Shinzō Abe,[35] dù có tác dụng điều tiết.[36] Học giả tôn giáo kiêm nhà phân tích chính trị Masaru Satō giải thích Nhật sau chiến có hai chính đảng quan trọng là Đảng Dân Chủ Tự Do, đại diện quyền lợi tài chính, các tập đoàn lớn và Đảng Xã Hội Nhật Bản bảo vệ quyền lợi công đoàn, giai cấp lao động. Những người như chủ tiệm, người nội trợ không có ai đứng lên thay mặt, tới khi Công Minh Đảng xuất hiện thì chỉ biết đứng bên lề.[37]

Quan hệ với Sáng Giá Học Hội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chính thức tách biệt với Sáng Giá Học Hội và sửa đổi đường lối lẫn điều lệ năm 1970 để phản ánh "khuynh hướng thế tục",[38]:117 Đảng Công Minh coi là "cử tri bầu cử quan trọng."[39] Tuy nhiên giới quan sát vẫn mô tả đảng là "cánh chính trị"[40] của tổ chức và mối quan hệ bị chỉ trích là vi phạm nguyên tắc chính giáo phân ly trong Điều 20 Hiến Pháp Nhật.[41] Hiện tại thì lãnh đạo, tài chính hai nhóm cho là độc lập,[38]:123–27 đôi khi có làm các cuộc họp liên lạc đặc điểm là tính thông tin, giới truyền thông được dự vào.[39][42] Vô số nhóm tôn giáo Nhật đã thành lập đảng, nhưng theo học giả thống kê Petter Lindgren thì "không ai thành công hơn Sáng Giá Học Hội."[43] Bất kể bao nhiêu tác giả nhai lại hình ảnh thập niên 60 của đảng là chỉ dành cho học viên Sáng Giá (ví dụ Baerwald, 1986; Stockwin, 1989; Richardson, 1998; Curtis, 1999; Yoshikawa, 1999; Sado, 2005), các học giả tìm hiểu kĩ hơn đều biết rõ tính riêng biệt phổ biến của đảng là không chính xác: các đảng viên chỉ chiếm một nửa sự ủng hộ bầu cử của Đảng Công Minh.[44]

Cơ quan ngôn luận[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan ngôn luận đảng là Báo Công Minh, do Ủy Ban Giấy Tờ Cơ Quan Công Minh xuất bản,[45][46] cũng từng có bản Hokkaido địa khu trong quá khứ.[47]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đối lập trước năm 1993[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1961, đảng bắt đầu là Liên Minh Liêm Chính Chính Trị, tổ chức hội nghị khai mạc làm Công Minh Đảng ngày 17 tháng 11 năm 1964.[48][49] Ba chữ 公明党 có nghĩa là "không có riêng tư" (公, ), "không mờ ám" (明, mei) và "chính đảng" (党, ), nên từ "kōmei" (公明) thường hiểu là "công lý" hay "công bằng". Tiền nhiệm cũng tên Công Minh Đảng, thành lập năm 1962, nhưng chỉ đến năm 1998 thì hết; ban đầu năm 1954 là Liên Minh Chính Trị Công Minh.

Năm 1957 một nhóm thành viên Ban Người Trẻ vận động cho ứng viên Sáng Giá Học Hội trong cuộc bầu cử đặc biệt thượng viện Osaka bị bắt vì phân phát tiền, thuốc lá và caramen ở khu cư trú người ủng hộ vi phạm luật bầu cử. Ngày 3 tháng 7 cùng năm Daisaku Ikeda bị bắt ở Osaka có tư cách là Chánh Văn Phòng Ban Thanh Niên Sáng Giá Học Hội vì coi sóc các hoạt động vi phạm luật bầu cử, ngồi tù hai tuần, ra tòa 48 lần trước khi được giải tội tháng 1 năm 1962, kỷ niệm là "Sự Kiện Osaka".[50]

Năm 1968, 14 đảng viên bị định tội làm giả phiếu bầu vắng mặt ở Shinjuku, tám phải đi tù vì gian lận bầu cử. Trong thập niên 60 bị chỉ trích nhiều vì vi phạm nguyên tắc chính giáo phân ly, tháng 2 năm 1970 cả ba chủ báo Nhật đều xuất bản xã luận yêu cầu tái tổ Đảng Công Minh; sau cùng đảng phân rã sau khi hứa tách biệt với Sáng Giá Học Hội.[51][52][53]

Thập niên 80 tờ Báo Cờ Đỏ phát hiện nhiều hội viên Sáng Giá Học Hội đang thưởng quà người quen để lấy phiếu cho Đảng Công Minh và cư dân Okinawa đổi địa chỉ để bầu cho chính khách của đảng.[54]

Chính phủ liên minh phản Đảng Tự Dân: 1993-94[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng Công Minh gia nhập nội các liên minh chống Đảng Tự Dân của Hata cùng Hosokawa năm 1993 và 1994, sau khi chính quyền chống Tự Dân, Cộng Sản (非自民・非共産連立政権) sụp đổ và các cải cách bầu cử, tài chính tranh cử năm 1994 thì phân tách tháng 12 cùng năm: "Công Minh Tân Đảng" (公明新党, Kōmei Shintō) vào Đảng Tân Tiến vài ngày sau nỗ lực thống nhất phe đối lập vụn vặt,[55] còn nhóm Công Minh (公明) còn lại tiếp tục hoạt động như đảng riêng. Sau khi Tân Tiến giải tán tháng 12 năm 1997, các cựu đảng viên Đảng Công Minh lập hai nhóm mới là "Tân Đảng Bình Hòa" (新党平和, Shintō Heiwa) và "Câu Lạc Bộ Lê Minh (黎明クラブ, Reimei Club) ở Tham Nghị Viên, nhưng vài chính khách cựu Công Minh như Shōzō Azuma thì theo Ichirō Ozawa gia nhập Đảng Tự Do. Vài tuần sau Lê Minh sát nhập vào Bình Hòa tháng 1 năm 1998, cuối cùng tháng 11 cùng năm Công Minh cùng Tân Đảng Bình Hòa kết hợp tái lập Đảng Công Minh.

Năm 1999 kỳ san Japan Echo khẳng định Sáng Giá Học Hội đã phân phát tờ rơi cho các nhánh địa phương mô tả cách lạm dụng hệ thống đăng ký cư trú trú dân phiếu để ạo số lượng phiếu lớn cho ứng viên Công Minh ở các khu nhất định.[56]

Liên minh với Đảng Dân Chủ Tự Do từ năm 1999[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà hoạt động Đảng Công Minh vận động tranh cử trước Lâu Đài Himeji.

Đảng trung gian hơn và bảo thủ hiện tại thành lập năm 1998 từ Công Minh cùng Tân Đảng Bình Hòa kết hợp thành, sau liên minh với Đảng Dân Chủ Tự Do cầm quyền cần Công Minh để giữ đa số trong Quốc hội. Trong cuộc bầu cử năm 2000 và 2001 đảng có kết quả tốt.

Tháng 10 năm 1999 liên minh Tự Dân-Tự Do khuếch trương bao hàm luôn Tân Công Minh Đảng[57] đã luôn—và tiếp tục—liên minh trong chính phủ từ năm 1999, ngoại trừ thời gian 2009-2011 khi Đảng Dân Chủ cầm quyền. Vậy nên đảng tán thành tu chính án tạm thời cho phép Nhật giúp đỡ cuộc xâm lược Iraq năm 2003.[58]

Trong các cuộc bầu cử Quốc Hội năm 2003 và 2004 đảng có kết quả tốt nhờ cơ sở cử tri rất tổ chức, đầy nhiệt tâm từ Sáng Giá Học Hội. Cơ sở ủng hộ gồm các quan liêu bàn giấy cùng dân số nông thôn, đảng chia sẻ với Tự Dân, nhưng cũng thêm được từ các lãnh đạo tôn giáo. Nhưng ngày 27 tháng 7 năm 2005 Bí thư trưởng nói sẽ cân nhắc liên minh nếu Đảng Dân Chủ nếu thắng đa số ở Chúng Nghị Viện, ngày 8 tháng 8 năm 2005 bị Thủ tướng đương thời Junichiro Koizumi vì vài đảng viên Tự Dân phản đối tư hữu hóa Nhật Bản Bưu chính Công xã; liên minh Tự Dân-Tân Công Minh nắm quyền thắng lớn trong cuộc bầu cử hạ viện năm 2005.

Ngày 8 tháng 9 năm 2009 Natsuo Yamaguchi trở thành chủ tịch thay Akihiro Ota sau khi đảng cùng Tự Dân đại bại trong cuộc bầu cử hạ viện năm 2009, đi đối lập lần đầu tiên từ năm 1999. Tân Công Minh mất mười ghế, bao gồm của chủ tịch đảng Ota cùng bí thư trưởng Kazuo Kitagawa.[59]

Trong cuộc bầu cử hạ viện ngày 16 tháng 12 năm 2012 liên minh Tự Dân/Công Minh giành được siêu đa số quay lại cầm quyền. Cựu chủ tịch đảng Akihiro Ota (Ohta) hiện tại là Tỉnh trưởng Giao thông Quốc thổ.[60] Trong cuộc bầu cử năm 2014 đảng cũng giành được thêm ghế, tháng 9 cùng năm xóa từ "New" khỏi tên tiếng Anh New Komeito.[61][62]

Tháng 7 năm 2015 Công Minh tán thành thủ tướng Shinzō Abe xuất tiến luật có Hoa Kỳ ủng hộ "cho quân đội Nhật quyền hữu hạn để đi đánh trong các xung đột nước ngoài lần đầu tiên kể từ Thế chiến thứ hai", cho phép luôn "Tự vệ đội hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ bằng cách giúp đỡ hậu cần, cung cấp dự bị vũ trang trong trường hợp nhất định" và "bổ sung các chỉ dẫn trong hiệp định song phương về quân Nhật Mỹ nên hoạt động ra sao, hai nước ký" đầu năm 2015.[35]

Ngày 11 tháng 3 năm 2019 nhóm dự án của Công Minh đệ trình Tỉnh trưởng Ngoại vụ Taro Kono đề nghị làm hiệp định quốc tế quy định vũ khí cơ giới,[63][64] kêu gọi Nhật xây dựng đồng thuận toàn cầu cho "tuyên bố chính trị hoặc chuẩn tắc hành vi" trong khuôn khổ của Công ước Vũ khí Thường quy Nhất định.[65]

Chủ Tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Số Tên Nhiệm kỳ
Nhậm chức Thôi chức
Công Minh Đảng
1 Kōji Harashima 17 tháng 11 năm 1964 9 tháng 12 năm 1964
2 Takehisa Tsuji 9 tháng 12 năm 1964 13 tháng 2 năm 1967
3 Yoshikatsu Takeiri 13 tháng 2 năm 1967 5 tháng 12 năm 1986
4 Junya Yano 5 tháng 12 năm 1986 21 tháng 5 năm 1989
5 Kōshirō Ishida 21 tháng 5 năm 1989 5 tháng 12 năm 1994
Công Minh Tân Đảng
1 Kōshirō Ishida 5 tháng 12 năm 1994 9 tháng 12 năm 1994
Công Minh
1 Tomio Fujii 5 tháng 12 năm 1994 18 tháng 1 năm 1998
2 Toshiko Hamayotsu 18 tháng 1 năm 1998 7 tháng 11 năm 1998
Tân Đảng Bình Hòa
1 Takenori Kanzaki 4 tháng 1 năm 1998 7 tháng 11 năm 1998
Lê Minh Câu Lạc Bộ
1 Kazuyoshi Shirahama 4 tháng 1 năm 1998 18 tháng 1 năm 1998
Tân Công Minh Đảng
1 Takenori Kanzaki 7 tháng 11 năm 1998 30 tháng 9 năm 2006
2 Akihiro Ota 30 tháng 9 năm 2006 8 tháng 9 năm 2009
3 Natsuo Yamaguchi 8 tháng 9 năm 2009 25 tháng 9 năm 2014
Đảng Công Minh
1 Natsuo Yamaguchi 25 tháng 9 năm 2014 Tại chức

Kết quả bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Bầu cử Chúng Nghị Viện[sửa | sửa mã nguồn]

Bầu cử Chủ tịch # ghế thắng # phiếu tuyển khu % phiếu tuyển khu # phiếu Khối đại biểu tỷ lệ % phiếu Khối đại biểu tỷ lệ Cầm quyền/đối lập
Thời kỳ Công Minh Đảng
1967 Takehisa Tsuji
25 / 486
2,472,371 5.4% Đối lập
1969 Yoshikatsu Takeiri
47 / 486
5,124,666 10.9% Đối lập
1972 Yoshikatsu Takeiri
29 / 491
4,436,755 8.5% Đối lập
1976 Yoshikatsu Takeiri
55 / 511
6,177,300 10.9% Đối lập
1979 Yoshikatsu Takeiri
57 / 511
5,282,682 9.78% Đối lập
1980 Yoshikatsu Takeiri
33 / 511
5,329,942 9.03% Đối lập
1983 Yoshikatsu Takeiri
58 / 511
5,745,751 10.12% Đối lập
1986 Yoshikatsu Takeiri
56 / 512
5,701,277 9.43% Đối lập
1990 Kōshirō Ishida
45 / 512
5,242,675 7.98% Đối lập
1993 Kōshirō Ishida
51 / 511
5,114,351 8.14% Liên minh cầm quyền (đến năm 1994)
Đối lập (từ năm 1994)
Thời kỳ phái Công Minh Đảng Tân Tiến
1996 Komei faction
42 / 511
xem Đảng Tân Tiến Đối lập (đến năm 1998)
Liên minh cầm quyền (từ năm 1998)
Thời kỳ Tân Công Minh Đảng
2000 Takenori Kanzaki
31 / 480
1,231,753 2.02% 7,762,032 12.97% Liên minh cầm quyền
2003 Takenori Kanzaki
34 / 480
886,507 1.49% 8,733,444 14.78% Liên minh cầm quyền
2005 Takenori Kanzaki
31 / 480
981,105 1.4% 8,987,620 13.3% Liên minh cầm quyền
2009 Akihiro Ota
21 / 480
782,984 1.11% 8,054,007 11.45% Đối lập
2012 Natsuo Yamaguchi
31 / 480
885,881 1.49% 7,116,474 11.90% Liên minh cầm quyền
Thời kỳ Đảng Công Minh
2014 Natsuo Yamaguchi
35 / 475
765,390 1.45% 7,314,236 13.71% Liên minh cầm quyền
2017 Natsuo Yamaguchi
29 / 465
832,453 1.50% 6,977,712 12.51% Liên minh cầm quyền

Bầu cử Tham Nghị Viện[sửa | sửa mã nguồn]

Bầu cử Chủ tịch # ghế tổng cộng # ghế thắng # phiếu Toàn quốc
từ năm 1983: # phiếu Tỷ Lệ
% phiếu Toàn quốc
từ năm 1983: % phiếu Tỷ Lệ
# phiếu Huyện % phiếu Huyện Đa số/thiểu số
Thời kỳ trước Công Minh Đảng
1962 Kōji Harashima
15 / 250
9 / 125
4,124,269 11.5% 958,179 2.6% Thiểu số
Thời kỳ Công Minh Đảng
1965 Takehisa Tsuji
20 / 251
11 / 125
5,097,682 13.7% 1,910,975 5.1% Thiểu số
1968 Yoshikatsu Takeiri
24 / 250
7 / 125
6,656, 771 15.5% 2,632,528 6.1% Thiểu số
1971 Yoshikatsu Takeiri
22 / 249
10 / 125
5,626,293 14.1% 1,391,855 3.5% Thiểu số
1974 Yoshikatsu Takeiri
24 / 250
14 / 125
6,360,419 12.1% 6,732,937 12.6% Thiểu số
1977 Yoshikatsu Takeiri
25 / 249
14 / 125
7,174,459 14.2% 3,206,719 6.1% Thiểu số
1980 Yoshikatsu Takeiri
26 / 250
12 / 125
6,669,387 11.9% 2,817,379 4.9% Thiểu số
1983 Yoshikatsu Takeiri
27 / 252
14 / 126
7,314,465 15.7% 3,615,995 7.8% Thiểu số
1986 Yoshikatsu Takeiri
24 / 252
10 / 126
7,438,501 12.97% 2,549,037 4.40% Thiểu số
1989 Kōshirō Ishida
21 / 252
11 / 126
6,097,971 10.86% 2,900,947 5.10% Thiểu số
1992 Kōshirō Ishida
24 / 252
14 / 126
6,415,503 14.27% 3,550,060 7.82% Thiểu số (đến năm 1993)
Thiểu số cầm quyền (1993-1994)
Thiểu số (từ năm 1994)
Thời kỳ Công Minh
1995 Tomio Fujii
11 / 252
0 / 126
Không tham gia bầu cử Thiểu số
1998 Toshiko Hamayotsu
22 / 252
9 / 126
7,748,301 13.80% 1,843,479 3.30% Thiểu số (đến năm 1999)
Đa số cầm quyền (từ năm 1999)
Thời kỳ Tân Công Minh Đảng
2001 Takenori Kanzaki
23 / 247
13 / 121
8,187,804 14.96% 3,468,664 6.38% Đa số cầm quyền
2004 Takenori Kanzaki
24 / 242
11 / 121
8,621,265 15.41% 2,161,764 3.85% Đa số cầm quyền
2007 Akihiro Ota
20 / 242
9 / 121
7,765,329 13.18% 3,534,672 5.96% Thiểu số cầm quyền (đến năm 2009)
Thiểu số (từ năm 2009)
2010 Natsuo Yamaguchi
19 / 242
9 / 121
7,639,432 13.07% 2,265,818 3.88% Thiểu số (đến năm 2012)
Thiểu số cầm quyền (từ năm 2012)
2013 Natsuo Yamaguchi
20 / 242
11 / 121
7,568,082 14.22% 2,724,447 5.13% Đa số cầm quyền
Thời kỳ Đảng Công Minh
2016 Natsuo Yamaguchi
25 / 242
14 / 121
7,572,960 13.52% 4,263,422 7.54% Đa số cầm quyền

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ehrhardt, George, Axel Klein, Levi McLaughlin and Steven R. Reed (2014) (Eds.): Kōmeitō – Politics and Religion in Japan. Institute of East Asian Studies, University of California, Berkeley
  • Fisker-Nielsen, Anne Mette (2012), Religion and Politics in Contemporary Japan: Soka Gakkai Youth and Komeito, Routledge 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Filus, Dorothea M. (2010), “Interreligious Education and Dialogue in Japan”, International Handbook of Inter-religious Education, Part One (Springer): 788 
  2. ^ Fisker-Nielsen, Anne Mette (2012), Religion and Politics in Contemporary Japan: Soka Gakkai Youth and Komeito, Routledge, tr. 32 
  3. ^ “Overseas Business Risk - Japan”. 
  4. ^ Fujii, Tadashi; Igarashi, Jin. “日本大百科全書(ニッポニカ)の解説” [Explanation of [[Encyclopedia Nipponica]]]. kotobank (bằng tiếng Nhật). Asahi Shimbun. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2019. 創価学会を支持母体とした中道政党。人間性社会主義の実現を掲げている。  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  5. ^
  6. ^
  7. ^ Metraux, Daniel A. (1996), “The Soka Gakkai: Buddhism and the Creation of a Harmonious and Peaceful Society”, Engaged Buddhism: Buddhist Liberation Movements in Asia (State University of New York Press): 386 
  8. ^ “公明党” [Komeito]. komei.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2019. ... 結党以来のスローガン『大衆とともに』の精神こそ、 ... 
  9. ^ a ă Ministry of Internal Affairs and Communications, party membership statistics for chief executives and assembly members in prefectures and municipalities: Prefectural and local assembly members and governors/mayors by political party as of 31 December 2019
  10. ^ “公明党は安保法制の「歯止め」か「触媒」か” [Is the Komeito party "stop" or "catalyst" in security legislation?]. 16 tháng 4 năm 2015. 
  11. ^ “Japan: Return of the Right”. Frontline. 11 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2020. The LDP will be ruling in coalition with another right-wing party—the Komeito. 
  12. ^ Jeffrey Haynes (2020). Politics of Religion: A Survey. "the NKP is a right-wing, conservative party with religious goals."
  13. ^ Yoshida, Reiji (18 tháng 12 năm 2012). “LDP charges back, vows to regain voter confidence”. The Japan Times, Ltd. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2019. 
  14. ^ “Members: Mr. YAMAGUCHI Natsuo”. House of Councillors, The National Diet of Japan. House of Councillors, The National Diet of Japan. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  15. ^ Kyodo, Staff Report (15 tháng 12 năm 2014). “Abe tightens grip on power as ruling coalition wins 325 seats in Lower House election”. The Japan Times, Ltd. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017. 
  16. ^ Osaki, Tomohiro (11 tháng 7 năm 2016). “LDP-led ruling bloc, allies clear two-thirds majority hurdle in Upper House poll”. The Japan Times, Ltd. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017. 
  17. ^ “2016 House of Councillors election result infographics”. The Mainichi Newspapers. 12 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017. 
  18. ^ Sieg, Linda; Funakoshi, Minami (11 tháng 7 năm 2016). “Japan's ruling bloc wins landslide in upper house election”. Thomson Reuters. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017. 
  19. ^ Sieg, Linda (3 tháng 7 năm 2017). “Japan PM's party suffers historic defeat in Tokyo poll, popular governor wins big”. Thomson Reuters. Reuters. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017. 
  20. ^ Osaki, Tomohiro (2 tháng 7 năm 2017). “Koike's camp clobbers Abe's LDP in historic Tokyo assembly election”. The Japan Times, Ltd. Staff Writer. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017. 
  21. ^ “LDP trailing Koike's Tomin First no Kai in Tokyo Metropolitan Assembly race: poll”. The Japan Times Ltd. Kyodo News. 25 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017. 
  22. ^ Mayger, James; Dormido, Hannah; Warren, Hayley; Sam, Cedric; Leung, Adrian; Dodge, Sam; Qiu, Yue (24 tháng 10 năm 2017). “Japan's Abe Has Pulled Off a Landslide—But He's Not as Popular as You Might Think [2017 Japan post-election analysis]”. Bloomberg L.P. Bloomberg. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2019. 
  23. ^ (New Komeito, 2002)
  24. ^ “LDP, Komeito mull bill to compensate disabled for forced sterilization under old law”. The Mainichi Newspapers. The Mainichi. 21 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  25. ^ “Victims sterilized under Japan's eugenics law to get ¥3.2 million each under state redress plan”. The Japan Times, Ltd. Kyodo News. 14 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  26. ^ “Remorse, Apology to Be Clarified in Relief Bill for Sterilization Victims”. Nippon Communications Foundation. Jiji Press. 31 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  27. ^ “Lawsuits over Japan's past forced sterilizations prompt ruling bloc to consider compensation ahead of court rulings”. The Japan Times, Ltd. Kyodo News. 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  28. ^ Siripala, Thisanka. “Japan's Forced Sterilization Victims Hit Back With a Wave of Lawsuits”. The Diplomat. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  29. ^ “Diet passes relief bill for the many victims of forced sterilization”. The Asahi Shimbun. 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  30. ^ “Diet passes bill to pay ¥3.2 million each to victims forcibly sterilized under Japan's eugenics law”. The Japan Times, Ltd. Kyodo News. 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  31. ^ Rich, Motoko; Inoue, Makiko (25 tháng 4 năm 2019). “Japan to Compensate Forcibly Sterilized Patients, Decades After the Fact”. The New York Times. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  32. ^ Katz, Brigit. “Japan Offers Apology and Compensation to Victims of Forced Sterilization”. Smithsonian.com. The Smithsonian. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  33. ^ “Tokyo gov't investigating underground water at Toyosu fish market site”. GPlusMedia Inc. Japan Today. 16 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017. 
  34. ^ “Koike vows to punish officials who botched Toyosu market”. The Asahi Shimbun Company. 6 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017. 
  35. ^ a ă Soble, Jonathan (16 tháng 7 năm 2015). “Japan Moves to Allow Military Combat for First Time in 70 Years”. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018 – qua NYTimes.com. 
  36. ^ Mette Fisker-Nielsen, Anne (1 tháng 11 năm 2016). “Has Komeito Abandoned its Principles? Public Perception of the Party's Role in Japan's Security Legislation Debate”. The Asia Pacific Journal: Japan Focus 14 (21, #3). 
  37. ^ Sato, Masaru (2017). A Transforming Force. Japan: Daisanbunmei-sha, Inc. tr. 30. 
  38. ^ a ă Aruga, Hiroshi (2000). “Chapter 4: Soka Gakkai and Japanese Politics”. Trong Machacek, David; Wilson, Bryan. Global Citizens. Oxford University Press. ISBN 0-19-924039-6. 
  39. ^ a ă “About Us: On Politics and Religion”. Komeito. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2016. 
  40. ^ Métraux, Daniel A. (1994). The Soka Gakkai Revolution. Lanham: University Press of America. tr. 42, 55. 
  41. ^ Okuyama, Michiaki (Spring 2010). “Soka Gakkai As a Challenge to Japanese Society and Politics” (PDF). Politics and Religion IV (1): 84. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2015. After its religious orientation was criticized by journalists and questioned in the Diet around 1970, Komeito declared that it would follow the constitutional principle of the separation between religion and state, officially separating Soka Gakkai and Komeito. But this issue continues even today as one of the targets of criticism against Soka Gakkai and Komeito.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  42. ^ Soka Gakkai Annual Report 2015 (Bản báo cáo). Soka Gakkai Public Relations Office. 1 tháng 2 năm 2015. tr. 72. 協議会では、公明党から、党の方針、態度、決定等について説明があり、それに対して学会が意見、要望を述べる。[At the council, Komeito explains the party's policies, attitudes, decisions, etc., and the Gakkai gives opinions and requests.] 
  43. ^ Lindgren, Petter Y. (2016). “Komeito's security ideals and collective self-defense: betwixt pacifism and compromises”. East Asia (33): 235. doi:10.1007/s12140-016-9256-8. 
  44. ^ Ehrhardt, George (1 tháng 4 năm 2009). “Rethinking the Komeito Voter”. Japanese Journal of Political Science 10 (1): 10–11. doi:10.1017/S1468109908003344. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017. 
  45. ^ “公明 (Komei)”. NDL-OPAC (National Diet Library - Online Public Access Catalog). National Diet Library of Japan. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2016. 
  46. ^ 公明新聞. Kōmei shinbun. OCLC Online Computer Library Center, Inc. OCLC 45443281. 
  47. ^ 公明新聞 北海道版 (Komei Shinbun - Hokkaido edition). NDL Search (National Diet Library [of Japan]). 1996. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2016. 
  48. ^ Harano, Jōji (25 tháng 11 năm 2014). “Kōmeitō Turns Fifty: A History of Political Twists and Compromises”. Nippon.com. The Nippon Communications Foundation. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2019. 
  49. ^ “About Us: History”. Komeito. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2019. 
  50. ^ “Commitment to Privacy”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  51. ^ Kabashima, Ikuo; Steel, Gill (17 tháng 8 năm 2012). Changing Politics in Japan. Cornell University Press. tr. 38. ISBN 978-0801457630. Other smaller parties include Komeito (the party officially became known as New Komeito in 1998), a party that Soka Gakkai formed in 1964 from its precursor, the Komei Political League. 
  52. ^ McCormick, John (2012). Comparative Politics in Transition. Cengage Learning. tr. 179. ISBN 978-1111832575. 
  53. ^ Jeffrey Haynes Routledge Handbook of Religion and Politics Page 17 "Talking to young Japanese people one normally gets very little sense of enthusiasm about Buddhism, and few people seem to take seriously the notion that the New Komeito Party is a Buddhist political party. The Komeito or 'Clean Government Party' ..."
  54. ^ Kira, Yōichi (1986). Jitsuroku: Sōka Gakkai = Nanatsu no daizai . Tōkyō: Shin Nihon Shuppansha. ISBN 4406013881. 
  55. ^ Tun-Jen Cheng, Deborah A. Brown Religious Organizations And Democratization: Case Studies 2006 Page 279 "The demise of the Shinshinto into a variety of new splinter parties, including a revived Komeito (now called "New Komeito"), and increasing public dissatisfaction with the LDP-created political chaos. This situation was compounded by the ..."
  56. ^ Endou, Kôichi (tháng 8 năm 1999). “The Kômeitô: A Virus Infecting the Body Politic”. Japan Echo. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  57. ^ Politics of Japan#Political Developments since 2000
  58. ^ Kliman, Daniel M. (2006). Japan's Security Strategy in the Post-9/11 World: Embracing a New Realpolitik . Greenwood Publishing Group. ISBN 0275990591. 
  59. ^ Ito, Masami (8 tháng 9 năm 2009). “Ailing New Komeito taps policy chief as new boss”. The Japan Times, Ltd. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2012. 
  60. ^ “Akihiro OHTA (The Cabinet) - Prime Minister of Japan and His Cabinet”. www.kantei.go.jp. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  61. ^ Staff writer(s)/no by-line (28 tháng 9 năm 2014). “New Komeito drops 'New' from its name”. Japan Today. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2017. 
  62. ^ “Komeito removes 'New' from party name”. The Japan Times, Ltd. Jiji. 25 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017. 
  63. ^ “Japan's Komeito political party seeks international regulations on robotic weapons”. The Japan Times, Ltd. Jiji Press. 11 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  64. ^ Kiyomiya, Ryo (14 tháng 3 năm 2019). “Japan to seek global rules on autonomous 'killer robots'. The Asahi Shimbun. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  65. ^ “Japan's Komeito political party seeks international regulations on robotic weapons”. The Japan Times, Ltd. Jiji. 11 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]